In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026.

21/08/2026 19:50
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 1.

Đường tránh thi công cầu Khe Trằng, xã Thành Bình Thọ, tỉnh Nghệ An bị sạt lở do mưa lũ

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục chủ động ứng phó thiên tai, tập trung khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Công điện số 57/CĐ-TTg ngày 21/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục chủ động ứng phó thiên tai, tập trung khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ.

Công điện gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị; Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và các Bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Giáo dục và Đào tạo; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam.

Công điện nêu: Trong những ngày qua, mưa lũ, lốc, sét đã gây thiệt hại về người tại một số địa phương khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Đặc biệt tại tỉnh Nghệ An mưa lũ đã gây ngập đường, cuốn trôi cầu tạm, chia cắt giao thông, cô lập tạm thời đối với một số bản vùng sâu của xã Tam Thái, nếu không kịp thời khắc phục có thể ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của Nhân dân, học tập của học sinh trong dịp khai giảng năm học mới.

Hiện nay, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ vẫn đang tiếp tục di chuyển chậm. Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, áp thấp nhiệt đới có khả năng mạnh lên thành bão và tiếp tục gây mưa lớn tại một số địa phương khu vực phía đông Bắc Bộ trong những ngày tới.

Tiếp theo công điện số 54/CĐ-TTg ngày 17/8/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục theo dõi sát tình hình, chủ động chỉ đạo, triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó áp thấp nhiệt đới và khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao.

2. Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục theo dõi sát diễn biến, dự báo, cảnh báo, thông tin kịp thời về diễn biến của áp thấp nhiệt đới, mưa lũ tới các cơ quan chức năng và người dân; chủ động chỉ đạo triển khai công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao.

3. Bộ Xây dựng chủ động chỉ đạo bảo đảm an toàn cho phương tiện vận tải hoạt động trên sông, trên biển; hỗ trợ các địa phương (trong đó có tỉnh Nghệ An) khắc phục nhanh các tuyến giao thông bị sạt lở, chia cắt, bảo đảm giao thông thông suốt.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo kiểm tra, rà soát, kịp thời khắc phục cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng do mưa lũ, bảo đảm trang thiết bị, đồ dùng học tập cho học sinh trước năm học mới.

5. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị chức năng và lực lượng quân đội, công an đóng trên địa bàn chi viện, hỗ trợ địa phương ứng phó, khắc phục hậu quả khi có đề nghị của địa phương.

6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố:

a) Chỉ đạo triển khai công tác bảo đảm an toàn đối với tàu thuyền, phương tiện hoạt động trên sông, trên biển, nhất là tại khu vực Vịnh Bắc Bộ.

b) Tiếp tục rà soát, chủ động tổ chức sơ tán, di dời dân cư khỏi các khu vực nguy hiểm, nhất là khu vực nguy cơ bị ngập sâu, lũ quét, sạt lở đất.

c) Tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại do thiên tai, nhất là các gia đình có người bị thiệt mạng.

d) Tiếp tục bố trí lực lượng kiểm soát chặt chẽ, hướng dẫn, hỗ trợ bảo đảm an toàn giao thông tại các ngầm, tràn, tuyến đường có nguy cơ bị ngập sâu, sạt lở.

đ) Sẵn sàng lực lượng, vật tư, phương tiện để triển khai công tác khắc phục hậu quả ngay sau mưa lũ. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An khẩn trương khắc phục hạ tầng, cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng, cầu tạm đã bị lũ cuốn trôi (nhất là cầu tạm tại khu vực xã Tam Thái), bảo đảm điều kiện đi lại cho người dân, học sinh được đến trường trước thời điểm khai giảng năm học mới.

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô 

Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 56/CĐ-TTg ngày 21/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Công điện nêu: Thời gian qua, Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương về tăng cường công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; các đơn vị, địa phương đã chủ động triển khai, huy động sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể; qua đó, công tác bảo đảm TTATGT đạt được những kết quả quan trọng, tích cực; kỷ luật, kỷ cương trong thực thi pháp luật về giao thông có sự chuyển biến; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TTATGT đường bộ được nâng lên.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh vận tải bằng xe ô tô có nơi, có lúc chưa thực sự hiệu quả, tai nạn giao thông (TNGT) liên quan đến xe kinh doanh vận tải vẫn ở mức cao (chiếm 37,3% tổng số vụ TNGT); nhiều đơn vị kinh doanh vận tải chưa chấp hành nghiêm các quy định về hoạt động vận tải đường bộ, chưa thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm được giao theo quy định; ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT đường bộ của nhiều lái xe kinh doanh vận tải chưa nghiêm, còn thường xuyên vi phạm.

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm TTATGT đối với xe kinh doanh vận tải (nhất là xe chở hàng, chở người khối lượng lớn, xe chở khách 02 tầng có giường nằm...); khắc phục triệt để tình trạng vi phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân, doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo nghiêm túc, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả một số nội dung sau:

1. Nhiệm vụ chung trong công tác bảo đảm TTATGT đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

a) Tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm TTATGT đường bộ tại Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 25/5/2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT trong tình hình mới và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm TTATGT, trong đó: (i) Tổ chức rà soát việc triển khai, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, đánh giá kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, đề ra các giải pháp cụ thể khắc phục; nâng cao, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; (ii) trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm TTATGT đối với xe kinh doanh vận tải, nhằm khắc phục triệt để tình trạng vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ;

b) Đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp thu, phù hợp với từng vùng, khu vực, địa bàn, lứa tuổi, tôn giáo,... nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và Nhân dân trong công tác bảo đảm TTATGT nói chung và hoạt động vận tải đường bộ bằng xe ô tô nói riêng;

c) Tăng cường chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, điều hành và xử lý các vi phạm về TTATGT đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu về giao thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

2. Nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa phương

a) Bộ Công an

- Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương duy trì trạng thái cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trở thành công tác thường xuyên hằng ngày; tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hoạt động vận tải trên đường bộ; tăng cường khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, camera hành trình để phục vụ quản lý; tập trung xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm (trong đó có việc thu hồi phù hiệu xe, giấy phép kinh doanh vận tải của đơn vị kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật), đặc biệt là vi phạm về điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của chủ xe, nhà xe, lái xe chở người khối lượng lớn, xe chở khách 02 tầng có giường nằm;

- Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý nhà nước về TTATGT; xây dựng, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; phát triển hệ thống giám sát giao thông thông minh, trung tâm điều hành giao thông và các nền tảng số phục vụ công tác quản lý, phân tích, dự báo, tổ chức giao thông và xử lý vi phạm. Trước mắt, tập trung triển khai Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050"; Nghị quyết số 05-NQ/ĐU ngày 12/6/2026 của Đảng ủy Chính phủ về áp dụng cơ chế, chính sách triển khai Đề án "Xây dựng trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2050";

- Chỉ đạo điều tra, làm rõ nguyên nhân các vụ TNGT, xử lý các hành vi vi phạm theo quy định; khi phát hiện tồn tại, bất cập thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành thì kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý, khắc phục, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương;

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu, đánh giá các tiêu chí đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách trên đường bộ tiến tới có phương án xếp hạng chất lượng, an toàn...

b) Bộ Xây dựng

- Rà soát các quy định về hoạt động vận tải đường bộ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phương tiện, công tác kiểm định phương tiện và các quy định có liên quan để điều chỉnh sửa đổi, bổ sung, theo hướng quản lý chặt chẽ các đối tượng, loại hình kinh doanh vận tải, công tác đăng kiểm phương tiện, nâng cao khả năng nhận diện phương tiện (nhất là xe ô tô chở hàng, chở người khối lượng lớn, xe chở khách 02 tầng có giường nằm...) khi tham gia giao thông vào ban đêm hoặc trong điều kiện tầm nhìn hạn chế; tăng cường các giải pháp cân bằng thân xe giường nằm có trọng tâm cao; mở rộng không gian, cửa thoát hiểm đối với xe chở người khối lượng lớn; tăng cường yêu cầu, hướng dẫn về kỹ năng ứng phó, thoát hiểm trên xe khách và phòng ngừa TNGT; khắc phục một số sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải đường bộ, bảo đảm phù hợp với thực tiễn và yêu cầu bảo đảm an toàn giao thông;

- Nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung quy hoạch phát triển hạ tầng, đô thị hợp lý, phù hợp với sự phát triển xã hội, dân cư và phát triển của phương tiện giao thông đường bộ. Nâng cấp, cải tạo hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến cao tốc đầu tư phân kỳ bảo đảm đạt chuẩn cao tốc và có các công trình giao thông thiết yếu; rà soát, bảo đảm điều kiện an toàn các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, kịp thời phát hiện, xử lý các bất cập về tổ chức giao thông, bổ sung báo hiệu đường bộ (biển hạn chế tốc độ, gương cầu lồi, vạch kẻ đường, tiêu dẫn hướng, đinh phản quang...), nhất là các tuyến đường miền núi, đèo dốc, tầm nhìn hạn chế;

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các đơn vị liên quan tổ chức nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức giao thông theo làn, theo loại phương tiện (ngoài tốc độ theo đường, quy định tốc độ cho các loại xe kinh doanh vận tải; tốc độ tối đa cho phép đối với một số loại phương tiện kinh doanh vận tải trên từng tuyến đường vào ban đêm thấp hơn so với ban ngày...); đánh giá điều kiện khai thác an toàn trên các tuyến, đoạn tuyến miền núi, đèo dốc, nơi có điều kiện giao thông phức tạp, trên cơ sở đó xác định giải pháp quản lý, tổ chức giao thông phù hợp và xem xét hạn chế hoạt động của phương tiện tại những tuyến, đoạn tuyến không bảo đảm điều kiện khai thác an toàn;

- Chỉ đạo tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm đối với đơn vị kinh doanh vận tải, bộ phận quản lý an toàn vi phạm quy định về hoạt động vận tải đường bộ; các phương tiện kinh doanh vận tải, nhất là xe ô tô chở hàng, chở người số lượng lớn, xe chở khách 02 tầng có giường nằm...; đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập huấn nghiệp vụ vận tải; kiên quyết không để phương tiện không bảo đảm điều kiện an toàn kỹ thuật, hết hạn kiểm định, chở hàng quá tải, quá khổ, quá số người quy định, lái xe không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông ngay từ nơi xuất phát nhằm phòng ngừa vi phạm và TNGT.

c) Các Bộ: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Công Thương, Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo phân công nhiệm vụ, tiếp tục tham mưu tăng cường thực hiện các biện pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm TTATGT đường bộ nói chung và hoạt động vận tải đường bộ nói riêng đã được giao tại các Chỉ thị, Công điện của Thủ tướng Chính phủ.

d) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố

- Chỉ đạo rà soát, tổ chức giao thông hợp lý, khoa học; nâng cao hiệu quả bảo vệ an toàn hành lang giao thông đường bộ; bổ sung quy hoạch các điểm đón, trả khách an toàn trên các tuyến giao thông thuộc phạm vi quản lý đảm bảo phù hợp với hành trình, lịch trình xe tuyến cố định; xử lý dứt điểm tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, hoạt động bến bãi trái phép "bến cóc"; xử lý nghiêm các đơn vị vận tải vi phạm quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo thẩm quyền, nhất là tình trạng xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng "hoạt động trá hình như xe kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định";

- Bố trí nguồn lực đầu tư, nâng cấp, cải tạo các tuyến giao thông thuộc phạm vi quản lý đảm bảo kết nối liên vùng, phù hợp định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

3. Giao Bộ Công an đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên; tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 2.

Nghị quyết phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 247/NQ-CP phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026.

Nghị quyết nêu rõ: Trong thời gian vừa qua, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế tiếp tục được Chính phủ xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Các bộ, cơ quan ngang bộ cần tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khắc phục tình trạng thể chế hóa chậm, tổ chức thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao.

Tại Phiên họp Chính phủ lần này, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến đối với 11 dự án luật và 01 Nghị quyết dự kiến trình Quốc hội, gồm:

4 dự án luật do Bộ Tài chính trình: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế tài nguyên; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập.

3 dự án luật do Bộ Nội vụ trình: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới, Luật Hoạt động chữ thập đỏ và Luật Việc làm; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội; Dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi).

3 dự án Luật, Nghị quyết do Bộ Công an trình: Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

1 dự án Luật do Bộ Công Thương trình: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

1 dự án Luật do Bộ Y tế trình: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược và Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia.

Nghiên cứu quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp đối với các doanh nghiệp cung cấp suất ăn trường học, bệnh viện

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Chính phủ yêu cầu cần phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ dự án Luật này với các luật có liên quan, nhất là pháp luật về đất đai (Luật Đất đai), pháp luật về giáo dục (Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Viên chức...) và các quy định pháp luật có liên quan khác. Ngoài ra, việc thể hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW cũng cần phải được cụ thể, đồng bộ tại dự án Luật Nhà ở, dự án Luật Kinh doanh bất động sản và các dự án Luật khác có liên quan.

Đối với các vấn đề liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ tài chính của tổ chức, cá nhân, phải đánh giá đầy đủ tác động, quy định rõ ràng, minh bạch, khả thi; nghiên cứu quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp đối với các doanh nghiệp cung cấp suất ăn trường học, bệnh viện. Các cơ chế, chính sách về thuế phải đơn giản, dễ áp dụng.

Rà soát thời điểm có hiệu lực của Luật và dự thảo văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đảm bảo tính thống nhất, khả thi, không để xảy ra khoảng trống pháp lý; rà soát kỹ thuật soạn thảo, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ tránh trùng lặp, chồng chéo.

Nâng cao công tác quản lý của cơ quan nhà nước đối với tài nguyên, khoáng sản

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế tài nguyên, Chính phủ yêu cầu thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 12/02/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; rà soát quy định tại dự án Luật phù hợp với pháp luật về tài nguyên, địa chất, khoáng sản (Luật Địa chất và khoáng sản) và các quy định pháp luật có liên quan.

Rà soát các quy định về đối tượng chịu thuế, sản lượng tính thuế, giá tính thuế, thuế suất tài nguyên bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, minh bạch, tháo gỡ được các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao công tác quản lý của cơ quan nhà nước đối với tài nguyên, khoáng sản.

Đồng bộ hệ thống pháp luật nhằm phát triển thị trường chứng khoán an toàn, bền vững

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Chính phủ yêu cầu rà soát kỹ lưỡng, toàn diện các nội dung sửa đổi, bổ sung, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển thị trường vốn; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật nhằm phát triển thị trường chứng khoán, an toàn, minh bạch, lành mạnh, bền vững, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế; đồng thời không tạo khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng đến an toàn thị trường và quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Tiếp tục rà soát các quy định về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực chứng khoán, bảo đảm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư nhưng phải gắn với cơ chế quản lý, giám sát, kiểm tra và kiểm soát rủi ro phù hợp; không để phát sinh khoảng trống pháp lý trong quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến an toàn thị trường, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Tiếp tục phát triển và mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội, Chính phủ yêu cầu rà soát các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, minh bạch nhằm tiếp tục phát triển và mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển.

Làm rõ sự cần thiết của việc duy trì mô hình Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội. Đồng thời, rà soát kỹ các quy định về đầu tư nguồn quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm an toàn, thanh khoản và sinh lời; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao công tác quản lý của cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực bảo hiểm; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách; rà soát quy định về hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp, bảo đảm tính khả thi và đủ thời gian ban hành văn bản quy định chi tiết, không tạo khoảng trống pháp lý.

Nghiên cứu việc xây dựng các tiêu chí đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội; bảo đảm công khai, minh bạch, an toàn, bền vững, hiệu quả và có cơ chế kiểm soát chặt chẽ để bảo toàn và phát triển Quỹ Bảo hiểm xã hội...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 3.

Quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng 

Chính phủ ban hành Nghị định số 332/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 29 Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 gồm:

a) Sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng;

b) Việc kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng: Điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; cấp, cấp đổi, cấp lại, gia hạn, tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng;

c) Việc nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm an ninh mạng: Điều kiện cấp, thu hồi giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng;

d) Kiểm tra việc kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng;

đ) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Nghị định này không điều chỉnh hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.

Đối tượng áp dụng: tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; cơ quan cấp phép, quản lý hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị Quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp.

Sản phẩm an ninh mạng

Sản phẩm an ninh mạng được quy định trong Nghị định này gồm:

1. Sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin, thiết bị điện tử; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro an ninh mạng.

2. Sản phẩm giám sát an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Giám sát, phân tích dữ liệu, địa chỉ mạng, lưu lượng mạng; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng.

3. Sản phẩm chống tấn công, xâm nhập là các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng ngăn chặn tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin.

4. Sản phẩm an ninh mạng khác thuộc một trong các sản phẩm sau:

a) Sản phẩm bí mật thu thập thông tin, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng bí mật thu thập thông tin trên không gian mạng, trong các phương tiện, thiết bị điện tử;

b) Sản phẩm chế áp thông tin mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để ngăn chặn, chèn, gây nhiễu, phá đường truyền Internet không dây tại các khu vực, mục tiêu cần bảo vệ;

c) Sản phẩm pháp y số, điều tra số, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng thu thập, trích xuất, phục hồi, phân tích dữ liệu điện tử và giám định kỹ thuật số từ nguồn dữ liệu điện tử;

d) Sản phẩm chế áp hệ thống mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để chế áp hoặc thay đổi hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử;

đ) Sản phẩm che giấu địa chỉ IP là sản phẩm kết nối mạng giữa thiết bị và không gian mạng thông qua máy chủ từ xa nhằm che giấu địa chỉ IP thật của thiết bị trên không gian mạng.

Dịch vụ an ninh mạng

Dịch vụ an ninh mạng được quy định trong Nghị định này gồm:

1. Dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là dịch vụ rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro mất an ninh mạng.

2. Dịch vụ bảo mật thông tin không sử dụng mật mã dân sự là dịch vụ hỗ trợ người sử dụng đảm bảo tính bí mật của thông tin, hệ thống thông tin mà không sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

3. Dịch vụ tư vấn an ninh mạng là dịch vụ hỗ trợ tư vấn, kiểm tra, đánh giá, triển khai, thiết kế, xây dựng các giải pháp bảo đảm an ninh mạng.

4. Dịch vụ giám sát an ninh mạng là dịch vụ giám sát, phân tích lưu lượng dữ liệu truyền trên hệ thống thông tin; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng.

5. Dịch vụ ứng cứu sự cố an ninh mạng là dịch vụ xử lý, khắc phục kịp thời sự cố gây mất an ninh mạng đối với hệ thống thông tin.

6. Dịch vụ khôi phục dữ liệu là dịch vụ phục hồi dữ liệu trong thiết bị điện tử, hệ thống thông tin đã bị xóa hoặc hư hỏng.

7. Dịch vụ phòng ngừa, chống tấn công mạng là dịch vụ ngăn chặn các hành vi tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin thông qua việc giám sát, thu thập, phân tích các sự kiện đang xảy ra trên hệ thống thông tin.

8. Dịch vụ an ninh mạng khác gồm:

a) Dịch vụ cung cấp nền tảng kết nối bảo vệ an ninh mạng là dịch vụ kết nối chuyên gia, cộng đồng trên không gian mạng tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu;

b) Dịch vụ huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng;

c) Dịch vụ che giấu địa chỉ IP trên không gian mạng là dịch vụ cung cấp kết nối mạng giữa thiết bị và không gian mạng thông qua máy chủ từ xa nhằm che giấu địa chỉ IP thật của thiết bị trên không gian mạng;

d) Dịch vụ săn tìm và báo cáo lỗ hổng bảo mật là dịch vụ cung cấp nền tảng để tiếp nhận báo cáo phát hiện lỗ hổng bảo mật trong hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân của chuyên gia bảo mật, cộng đồng an ninh mạng.

Điều kiện về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng

Nghị định quy định tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:

Được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, không vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Đối với các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thời hạn đầu tư tại Việt Nam phải còn nhiều hơn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Điều kiện về nhân sự:

a) Người đại diện theo pháp luật, người quản lý hoặc người được người đại diện theo pháp luật, người quản lý ủy quyền không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Người Việt Nam đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam hoặc của nước ngoài đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác định là có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích; đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; đang bị quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quyết định của Tòa án hoặc đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu; đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài và người nước ngoài chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú, lao động tại Việt Nam;

b) Tổ chức, doanh nghiệp phải có nhân sự chịu trách nhiệm kỹ thuật phù hợp với loại hình sản phẩm, dịch vụ kinh doanh. Nhân sự này phải có bằng đại học trở lên hoặc có chứng chỉ chuyên ngành an ninh mạng, an toàn thông tin, công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.

Điều kiện về kỹ thuật: Có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất và công nghệ phù hợp với hoạt động đầu tư, kinh doanh và loại hình sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng đăng ký kinh doanh.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 4.

Quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật 

Chính phủ ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

Nghị định số 328/2026/NĐ-CP gồm 4 chương, 23 điều quy định các nội dung sau:

1. Phân loại tin giả, tin sai sự thật, nguyên tắc, quản lý nhà nước, hợp tác quốc tế phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

2. Quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật; một số biện pháp phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

3. Thẩm quyền, trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

Đối tượng áp dụng gồm:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam.

2. Người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam.

3. Tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến vi phạm pháp luật về tin giả, tin sai sự thật ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Phân loại tin giả, tin sai sự thật

Tin giả, tin sai sự thật theo Nghị định này được phân loại như sau:

1. Phân loại theo độ nguy hại gồm:

a) Tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng gồm các thông tin tác động tiêu cực trên quy mô lớn đến an ninh quốc gia, quốc phòng, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại đến uy tín của Đảng, Nhà nước; uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; hoặc có khả năng gây khủng hoảng truyền thông, kích động bạo loạn, gây hoang mang sâu sắc trong dư luận xã hội;

b) Tin giả, tin sai sự thật nguy hại bao gồm thông tin tác động trong phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể.

2. Phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin gồm:

a) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân không được tiếp cận;

b) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện;

c) Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận.

Quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật

Về quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật, Nghị định quy định như sau:

1. Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:

a) Phát hiện thông qua cá nhân, cơ quan, tổ chức phản ánh, tố giác tin giả, tin sai sự thật;

b) Phát hiện thông qua cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện giám sát, rà soát, kiểm soát thông tin trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;

c) Phát hiện thông qua rà soát, cảnh báo của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;

d) Phát hiện thông qua việc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp chuyển yêu cầu đến cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật;

đ) Phát hiện thông qua yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng do thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.

2. Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.

3. Gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật: Sau khi kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.

4. Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật công bố, cảnh báo thông tin phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin.

5. Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật.

6. Áp dụng các hình thức xử lý.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/10/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 5.

Quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin 

Chính phủ ban hành Nghị định số 331/2026/NĐ-CP quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin.

Nghị định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 6 Điều 10, khoản 5 Điều 12 Luật An ninh mạng, cụ thể: tiêu chí xác định cấp độ hệ thống thông tin; quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định cấp độ hệ thống thông tin và biện pháp, trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm an ninh mạng theo từng cấp độ của hệ thống thông tin; tiêu chí xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức không thuộc danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Tiêu chí xác định cấp độ hệ thống thông tin

Nghị định quy định tiêu chí xác định cấp độ hệ thống thông tin từ cấp độ 1 đến cấp độ 5:

Tiêu chí xác định cấp độ 1

Hệ thống thông tin cấp độ 1 là hệ thống phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức và chỉ xử lý thông tin công cộng.

Hệ thống thông tin được đánh giá rủi ro an ninh mạng theo Khung quản lý rủi ro an ninh mạng.

Tiêu chí xác định cấp độ 2

Hệ thống thông tin cấp độ 2 là hệ thống thông tin có một trong các tiêu chí cụ thể sau:

1. Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức và có xử lý thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng nhưng không xử lý thông tin bí mật nhà nước.

2. Hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình như sau:

a) Cung cấp dịch vụ trực tuyến không thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;

b) Cung cấp dịch vụ trực tuyến khác có xử lý thông tin riêng, thông tin cá nhân của dưới 100.000 chủ thể dữ liệu đối với dữ liệu cá nhân cơ bản hoặc dưới 10.000 chủ thể dữ liệu đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm.

3. Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động của một cơ quan, tổ chức.

4. Hệ thống thông tin khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc được đánh giá rủi ro an ninh mạng theo Khung quản lý rủi ro an ninh mạng.

Tiêu chí xác định cấp độ 3

Hệ thống thông tin cấp độ 3 là hệ thống có một trong các tiêu chí sau:

1. Hệ thống xử lý thông tin bí mật nhà nước hoặc hệ thống phục vụ quốc phòng, an ninh khi bị phá hoại sẽ làm tổn hại tới an ninh quốc gia.

2. Hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình như sau:

a) Cung cấp dịch vụ trực tuyến thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;

b) Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính;

c) Cung cấp dịch vụ trực tuyến khác có xử lý thông tin riêng, thông tin cá nhân của từ 100.000 chủ thể dữ liệu đối với dữ liệu cá nhân cơ bản trở lên hoặc từ 10.000 chủ thể dữ liệu đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm trở lên.

3. Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong phạm vi một bộ, một ngành, một tỉnh hoặc một số tỉnh.

4. Hệ thống thông tin điều khiển công nghiệp trực tiếp phục vụ điều khiển, vận hành hoạt động bình thường của các công trình xây dựng cấp II, cấp III hoặc cấp IV theo phân cấp của pháp luật về xây dựng.

5. Hệ thống thông tin khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc được đánh giá rủi ro an ninh mạng theo Khung quản lý rủi ro an ninh mạng.

Tiêu chí xác định cấp độ 4

Hệ thống thông tin cấp độ 4 là hệ thống có một trong các tiêu chí sau:

1. Hệ thống thông tin xử lý thông tin bí mật nhà nước hoặc hệ thống phục vụ quốc phòng, an ninh khi bị phá hoại sẽ làm tổn hại nghiêm trọng tới an ninh quốc gia.

2. Hệ thống thông tin quốc gia phục vụ phát triển Chính phủ điện tử hoặc hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức trên phạm vi toàn quốc, yêu cầu vận hành 24/7 và không chấp nhận ngừng vận hành mà không có kế hoạch trước.

3. Hệ thống thông tin điều khiển công nghiệp trực tiếp phục vụ điều khiển, vận hành hoạt động bình thường của các công trình xây dựng cấp I theo phân cấp của pháp luật về xây dựng.

4. Hệ thống thông tin khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc được đánh giá rủi ro an ninh mạng theo Khung quản lý rủi ro an ninh mạng.

Tiêu chí xác định cấp độ 5

Hệ thống thông tin cấp độ 5 là hệ thống có một trong các tiêu chí sau:

1. Hệ thống thông tin xử lý thông tin bí mật nhà nước hoặc hệ thống phục vụ quốc phòng, an ninh, mang tính chiến lược khi bị phá hoại sẽ làm tổn hại đặc biệt nghiêm trọng tới an ninh quốc gia.

2. Hệ thống thông tin phục vụ lưu trữ dữ liệu tập trung đối với một số loại hình thông tin, dữ liệu đặc biệt quan trọng của quốc gia.

3. Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phục vụ kết nối liên thông hoạt động của Việt Nam với quốc tế.

4. Hệ thống thông tin điều khiển công nghiệp trực tiếp phục vụ điều khiển, vận hành hoạt động bình thường của công trình xây dựng cấp đặc biệt theo phân cấp của pháp luật về xây dựng hoặc công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo pháp luật về an ninh quốc gia.

5. Hệ thống thông tin khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc được đánh giá rủi ro an ninh mạng theo Khung quản lý rủi ro an ninh mạng.

Tiêu chí xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Theo Nghị định quy định, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:

1. Hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

2. Hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, điều khiển hoạt động của công trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

3. Hệ thống thông tin thuộc các lĩnh vực được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật An ninh mạng khi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ gây ra một trong các hậu quả sau đây:

a) Trực tiếp tác động đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự tồn tại của chế độ và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, đối ngoại làm suy yếu khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân;

d) Gây thảm họa đối với đời sống con người, môi trường sinh thái;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động của công trình xây dựng cấp đặc biệt theo phân cấp của pháp luật về xây dựng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động hoạch định chủ trương, chính sách thuộc phạm vi bí mật nhà nước;

g) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của các cơ quan Đảng, Nhà nước ở trung ương.

4. Hệ thống thông tin cấp độ 5 là hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin

Nghị định quy định các biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin gồm:

Ban hành quy định về bảo đảm an ninh mạng trong thiết kế, xây dựng, quản lý, vận hành, sử dụng, nâng cấp, hủy bỏ hệ thống thông tin; tổ chức triển khai các biện pháp lưu trữ, sao lưu bảo vệ an ninh thông tin mạng và an ninh của các thành tố cấu thành hệ thống thông tin theo Tiêu chuẩn quốc gia về An ninh mạng - Hệ thống thông tin - Yêu cầu cơ bản.

Xác định, lập hồ sơ đề xuất cấp độ hệ thống thông tin, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; tổ chức thẩm định an ninh mạng đối với hồ sơ, thiết kế hệ thống thông tin theo trình tự, thủ tục thẩm định hồ sơ đề xuất cấp độ được quy định chi tiết trong Chương III của Nghị định này.

Đánh giá điều kiện an ninh mạng hệ thống thông tin là hoạt động xem xét mức độ đáp ứng các điều kiện về an ninh mạng của hệ thống thông tin trước khi đưa vào vận hành, sử dụng.

Áp dụng biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật theo quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này, Tiêu chuẩn quốc gia về An ninh mạng - Hệ thống thông tin - Yêu cầu cơ bản và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng khác theo quy định của pháp luật.

Bộ trưởng Bộ Công an quy định về hoạt động giám sát an ninh mạng, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 6.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng

Chính phủ ban hành Nghị định số 333/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài trên không gian mạng tại Việt Nam.

Nghị định này gồm 6 chương, 32 điều quy định chi tiết điểm a, b, c, d, đ, g, k, l, m khoản 1 Điều 5, khoản 4 Điều 25, khoản 5 Điều 34 Luật An ninh mạng gồm các nội dung sau đây:

a) Nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng: thẩm định an ninh mạng; đánh giá điều kiện an ninh mạng; kiểm tra an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng; sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng; yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

b) Bảo đảm an ninh thông tin mạng theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 25 Luật An ninh mạng;

c) Chuẩn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng; chương trình, nội dung việc chứng nhận tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng.

Nghị định này quy định các biện pháp thi hành cơ chế quản lý định danh địa chỉ IP đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet.

Hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng

Về hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng, Điều 16 của Nghị định nêu rõ: Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam phải thực hiện các hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng theo quy định tại Điều này và quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.

Hoạt động xác thực, bảo vệ thông tin và tài khoản người sử dụng dịch vụ bao gồm:

a) Thực hiện xác thực thông tin người sử dụng tại thời điểm đăng ký tài khoản số theo quy định của pháp luật;

b) Thực hiện xác thực tài khoản bằng số điện thoại di động tại Việt Nam; trường hợp người sử dụng không có số điện thoại di động tại Việt Nam thì thực hiện xác thực bằng số định danh cá nhân hoặc phương thức định danh điện tử hợp pháp khác theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử;

c) Trường hợp người sử dụng dịch vụ dùng tính năng phát trực tiếp (livestream) nhằm mục đích thương mại thì phải thực hiện xác thực tài khoản bằng số định danh cá nhân theo quy định của pháp luật;

d) Áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước, kỹ thuật cần thiết để bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và tài khoản của người sử dụng; chỉ cho phép các tài khoản đã được xác thực thực hiện việc đăng tải, chia sẻ thông tin và sử dụng các tính năng tương tác trên hệ thống.

Hoạt động cung cấp thông tin phục vụ bảo vệ an ninh thông tin mạng bao gồm:

a) Cung cấp thông tin người sử dụng dịch vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu hợp lệ, căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm phục vụ công tác xác minh, điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật;

b) Việc yêu cầu và cung cấp thông tin được thực hiện bằng văn bản, phương tiện điện tử hoặc hình thức khác, bảo đảm xác thực chủ thể yêu cầu và bảo mật thông tin được cung cấp theo quy định của pháp luật;

c) Thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu; trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia hoặc đe dọa tính mạng con người thì thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất là 03 giờ.

Hoạt động ngăn chặn, xử lý thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng bao gồm:

a) Hạn chế, ngăn chặn truy cập, xóa bỏ thông tin, gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng tại Việt Nam đối với thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an;

b) Việc thực hiện yêu cầu quy định tại điểm a nêu trên phải hoàn thành chậm nhất trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu; trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia thì phải hoàn thành chậm nhất trong thời hạn 06 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu;

c) Áp dụng biện pháp quản lý nhà nước, biện pháp kỹ thuật để hạn chế, tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân nhiều lần đăng tải thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung được sử dụng để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng trong các trường hợp sau đây:

Trong thời hạn 30 ngày, đăng tải từ 03 lần trở lên thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng thì bị hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời với thời hạn tối đa 60 ngày, căn cứ tính chất, mức độ vi phạm;

Trong thời hạn 90 ngày, đăng tải từ 10 lần trở lên thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng thì bị hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời với thời hạn tối đa 180 ngày, căn cứ tính chất, mức độ vi phạm;

đ) Hạn chế hiển thị vô thời hạn tại Việt Nam hoặc khóa tài khoản vô thời hạn đối với tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung được sử dụng để thực hiện, tiếp tục thực hiện, phát tán, tổ chức, điều hành hoặc hỗ trợ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong các trường hợp sau đây:

Đăng tải, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Đã bị khóa tạm thời từ 03 lần trở lên theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà tiếp tục được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng;

Có căn cứ xác định tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung tiếp tục được sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng và việc áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô thời hạn là cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm;

e) Tài khoản bị áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô thời hạn được xem xét khôi phục trong các trường hợp sau đây: không còn căn cứ áp dụng biện pháp; có nhầm lẫn trong quá trình xác minh, xử lý; xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi căn cứ áp dụng biện pháp; cơ quan có thẩm quyền xác định tài khoản không được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng.

Hoạt động tạm ngừng, ngừng cung cấp dịch vụ để bảo đảm an ninh thông tin mạng bao gồm:

Việc không cung cấp hoặc tạm ngừng, ngừng cung cấp dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân có hành vi đăng tải thông tin thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 13 và khoản 2 Điều 14 của Luật An ninh mạng khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.

Việc tạm ngừng, ngừng cung cấp dịch vụ phải bảo đảm đúng phạm vi, đối tượng, thời hạn và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

Hoạt động lưu trữ và quản lý nhật ký hệ thống bao gồm:

a) Lưu trữ và quản lý nhật ký hệ thống phục vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh thông tin mạng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật;

b) Nhật ký hệ thống phải bao gồm tối thiểu các thông tin về tài khoản người sử dụng dịch vụ, thời gian đăng nhập, đăng xuất, địa chỉ IP, cổng nguồn khi đăng nhập, đăng xuất và nhật ký xử lý thông tin được đăng tải;

c) Thời gian lưu trữ nhật ký hệ thống phải bảo đảm có thể truy xuất dữ liệu ít nhất trong vòng 12 tháng, đáp ứng yêu cầu xác minh, điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 7.

Quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng 

Chính phủ ban hành Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 14 Luật An ninh mạng, bao gồm các nội dung sau:

1. Biện pháp phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

2. Thẩm quyền của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

3. Cơ chế phối hợp trong phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

Biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ và phối hợp xử lý thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng

Theo Nghị định quy định, chủ quản hệ thống thông tin, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm tiến hành các biện pháp:

a) Định danh, xác thực điện tử đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ trước và trong quá trình cung cấp dịch vụ; phát hiện, ngăn chặn hoạt động của tài khoản số không chính chủ; quản lý địa chỉ mạng của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ Internet theo quy định;

b) Chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, thời hạn bảo quản, lưu trữ, cung cấp thông tin, dữ liệu điện tử phục vụ công tác phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi vi phạm trên không gian mạng;

c) Phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ;

d) Thực hiện theo hướng dẫn của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng về việc kết nối, xây dựng hệ thống liên thông với nền tảng kỹ thuật số; tiếp nhận, trả lời văn bản điện tử phục vụ công tác bảo đảm an ninh mạng và phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi vi phạm trên không gian mạng;

đ) Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn, bảo đảm bí mật cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

e) Thực hiện ngay các biện pháp cần thiết theo hướng dẫn của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền khi nhận được thông tin cảnh báo về an ninh mạng và hành vi vi phạm trên không gian mạng;

g) Báo cáo lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện hành vi tấn công mạng xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, gây tổn hại nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội;

h) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán, tài sản số có trách nhiệm theo quy định của pháp luật nếu tiếp tục cung ứng dịch vụ cho tài khoản số trong danh sách cảnh báo của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.

Nghị định cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng phải phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, chủ quản hệ thống trong việc xử lý thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng quy định tại Điều 7 của Nghị định này.

Quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng, chủ quản hệ thống thông tin, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Chương IV của Nghị định này.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và phối hợp xử lý hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; các biện pháp xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

Biện pháp phòng ngừa, phát hiện và phối hợp xử lý hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng

Nghị định cũng quy định cụ thể biện pháp phòng ngừa, phát hiện và phối hợp xử lý hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng như sau:

1. Chủ quản hệ thống thông tin và nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm chủ động triển khai biện pháp kỹ thuật, quản lý để kiểm soát thông tin trên hệ thống; kịp thời thông báo, phối hợp lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền xử lý khi phát hiện thông tin thuộc các nhóm nội dung quy định tại Điều 13 Luật An ninh mạng.

2. Chủ quản hệ thống thông tin, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm áp dụng biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật để phòng ngừa, phát hiện hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng, bao gồm:

a) Rà soát, nhận diện, đánh giá nguy cơ, dấu hiệu, phương thức, thủ đoạn, công cụ, tài khoản số, hội, nhóm, kênh, trang, ứng dụng, nền tảng, hệ thống thông tin, tên miền, địa chỉ mạng, đường dẫn, dữ liệu điện tử có dấu hiệu bị lợi dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng;

b) Thiết lập, duy trì cơ chế kiểm tra, giám sát, cảnh báo, phát hiện sớm, tiếp nhận phản ánh, tố giác, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng;

c) Ngăn ngừa việc lợi dụng tài khoản số, danh tính điện tử, phương tiện điện tử, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ số để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

d) Tổ chức quản lý, phân quyền, kiểm soát truy cập, ghi nhận và lưu giữ nhật ký hệ thống, dữ liệu điện tử cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ phát hiện, xác minh, xử lý hành vi vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

đ) Rà soát, loại bỏ hoặc vô hiệu hóa trong phạm vi quản lý của mình các công cụ, phần mềm, ứng dụng, tài khoản, đường dẫn, dữ liệu, cấu hình kỹ thuật có dấu hiệu trực tiếp phục vụ việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng theo quy định của pháp luật;

e) Áp dụng biện pháp bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật và những người có nguy cơ bị xâm hại, bị lợi dụng, gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trên không gian mạng; chủ động cảnh báo nguy cơ bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, làm nhục, vu khống, xâm phạm bí mật đời sống riêng tư, truyền bá nội dung vi phạm pháp luật và các hành vi xâm hại khác;

g) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng cho người sử dụng dịch vụ, cán bộ quản trị, người vận hành hệ thống thông tin và các chủ thể có liên quan;

h) Thực hiện yêu cầu, hướng dẫn, cảnh báo của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; phối hợp ngăn chặn nguy cơ phát sinh, lan rộng hoặc tái diễn hành vi vi phạm.

3. Khi phát hiện dấu hiệu hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin và tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm áp dụng ngay biện pháp cần thiết trong phạm vi quản lý của mình để hạn chế hậu quả, bảo toàn dữ liệu điện tử, bảo đảm không làm mất, sai lệch, hư hỏng, tổn hại dữ liệu điện tử và kịp thời thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng phải phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, chủ quản hệ thống trong việc xử lý hành vi sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng quy định tại Điều 7 của Nghị định này.

5. Quá trình phòng ngừa, phát hiện hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng, chủ quản hệ thống thông tin, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Chương IV của Nghị định này.

Biện pháp xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng

Việc xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng được lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc một số biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật An ninh mạng, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.

Nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng vi phạm quy định của Nghị định này tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân sẽ bị áp dụng các biện pháp sau đây:

1. Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến.

2. Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền.

4. Yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm.

5. Ngăn chặn truy cập từ lãnh thổ Việt Nam đối với hệ thống thông tin vi phạm.

6. Yêu cầu lưu trữ, cung cấp dữ liệu phục vụ điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

7. Tạm dừng giao dịch tài khoản thanh toán liên quan theo quy định của pháp luật.

8. Ngoài các biện pháp xử lý quy định tại Điều này, nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật có liên quan. Đồng thời phải khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; thông báo, cảnh báo cho tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ có nguy cơ bị ảnh hưởng; thực hiện biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm hại theo quy định của pháp luật.

9. Trường hợp hành vi vi phạm có liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều nền tảng, nhiều hệ thống thông tin, nhiều loại tài khoản số, giao dịch điện tử hoặc có yếu tố nước ngoài, việc xử lý được thực hiện theo cơ chế phối hợp quy định tại Chương IV của Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.

10. Việc xử lý hành vi vi phạm trên không gian mạng phải gắn với yêu cầu bảo toàn chứng cứ điện tử, ngăn chặn tái phạm, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

11. Nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm cung cấp thông tin, dữ liệu điện tử theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền phục vụ phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng:

a) Chậm nhất 24 giờ đối với yêu cầu thông thường;

b) Chậm nhất 03 giờ đối với tình huống khẩn cấp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 8.

Thủ tướng chỉ đạo giải quyết dứt điểm, thiết thực, hiệu quả các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp 

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan xử lý dứt điểm, thiết thực, hiệu quả các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.

Ngày 18 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng". Trước và trong Hội nghị, các doanh nghiệp đã nêu 81 nhóm kiến nghị cần giải quyết, hiến kế về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng hai con số.

Lắng nghe các kiến nghị trên, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương giải quyết dứt điểm ngay những nội dung thuộc thẩm quyền và đã đủ căn cứ pháp lý; những vấn đề cơ chế, chính sách cần sửa đổi hoặc vượt thẩm quyền phải đề xuất phương án xử lý, báo cáo cấp có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất.

Thủ tướng khẳng định, tất cả những trả lời phản ánh kiến nghị của doanh nghiệp phải được công khai và sẽ được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, VCCI để cộng đồng doanh nghiệp, người dân đánh giá những phản ánh kiến nghị đã được xử lý thỏa đáng chưa, đã đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp hay chưa.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã nhanh chóng giải quyết, xử lý dứt điểm, thiết thực, hiệu quả các kiến nghị của doanh nghiệp.

Cụ thể tình hình, kết quả xử lý các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp đã được tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7/2026 như sau:

- 53 nhóm kiến nghị được Bộ Tài chính tổng hợp trước Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7/2026.

- 28 kiến nghị do 10 doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7/2026.

Tiếp tục giải quyết 65 vấn đề vướng mắc của doanh nghiệp mới phát sinh trong tháng 7/2026

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo Kết luận số 394/TB-VPCP ngày 21 tháng 7 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ về Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành rà soát, tổng hợp các ý kiến phản ánh, khó khăn, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội trong tháng 7/2026.

Theo báo cáo của VCCI, có 65 vấn đề vướng mắc thuộc nhiều ngành, lĩnh vực, liên quan đến thẩm quyền chủ trì xử lý của 8 bộ, ngành: Bộ Nông nghiệp và Môi trường (28 vấn đề), Bộ Tài chính (12 vấn đề), Bộ Xây dựng (10 vấn đề), Bộ Công Thương (06 vấn đề), Bộ Khoa học và Công nghệ (03 vấn đề), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (03 vấn đề), Bộ Nội vụ (02 vấn đề), Bộ Công an (01 vấn đề).

Xét báo cáo của VCCI, tại Văn bản số 8530/VPCP-KTTH ngày 21/8/2026, Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Xây dựng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Nội vụ, Công an và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao khẩn trương xem xét, xử lý 65 vấn đề vướng mắc của doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp, bảo đảm việc xử lý các kiến nghị phải rõ ràng, thực chất, hiệu quả; gửi kết quả xử lý về Bộ Tài chính và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trước ngày 25/8/2026 để tổng hợp, báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ theo quy định tại Nghị quyết số 216/NQ-CP ngày 6/8/2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2026 và phản hồi tới doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2026- Ảnh 9.

Ông Nguyễn Trí Dũng, Trợ lý Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng.

Bổ nhiệm Trợ lý Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng 

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1618/QĐ-TTg ngày 20/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm giữ chức Trợ lý đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Nguyễn Trí Dũng, Ủy viên Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt giữ chức Trợ lý của đồng chí Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký (20/8/2026)./.