• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026.

19/08/2026 18:14

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 và tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 55/CĐ-TTg ngày 19/8/2026 về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 và tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026- Ảnh 1.

Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông dịp nghỉ lễ 02/9 và tháng cao điểm học sinh đến trường.

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Công an, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam.

Công điện nêu: Dịp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 năm nay (sau đây viết gọn là nghỉ Lễ) kéo dài 05 ngày, đồng thời là tháng cao điểm về trật tự, an toàn giao thông gắn với triển khai năm học mới của học sinh, sinh viên trên cả nước, dự báo lưu lượng giao thông sẽ tăng cao, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

Để phục vụ tốt nhu cầu đi lại của Nhân dân, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ và tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo và thực hiện tốt các nội dung sau:

1. Bộ Công an chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương

- Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm TTATGT, với tinh thần thượng tôn pháp luật, xử lý quyết liệt, bảo đảm thượng tôn pháp luật, "không có vùng cấm, không có ngoại lệ"; tập trung xử lý các hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông, nhất là vi phạm nồng độ cồn, ma túy, tốc độ, phần đường, làn đường…; bảo đảm an toàn giao thông đường thủy tại khu vực trường học, bến đưa đón học sinh, khu du lịch, vui chơi, giải trí, lễ hội, hoạt động vận chuyển học sinh và vận tải hành khách bằng đường thủy… đình chỉ hoạt động ngay đối với phương tiện, bến không đảm bảo các điều kiện an toàn. Chủ động công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ khi xảy ra sự cố, tai nạn giao thông.

- Tập trung kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các quy định của pháp luật về kinh doanh và quản lý vận tải trên các lĩnh vực đường bộ, đường thủy; tổ chức tổng kiểm soát phương tiện vận tải hành khách, hàng hóa, tập trung vào xe ô tô kinh doanh vận tải. Siết chặt quản lý, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các phương tiện chở khách có thu tiền nhưng không đăng ký kinh doanh vận tải, hoạt động trá hình, sai quy định; xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân buông lỏng quản lý, để xảy ra vi phạm.

- Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tụ tập gây rối trật tự công cộng, đua xe trái phép; cương quyết xử lý, trấn áp những đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ; phân công lực lượng điều tiết, phân luồng hợp lý, hướng dẫn lưu thông an toàn, thông suốt, nhất là trên các tuyến đường, các khu vực được dự báo sẽ có lưu lượng phương tiện giao thông tăng cao trong dịp nghỉ Lễ.

- Tiếp tục triển khai hiệu quả các kế hoạch của Bộ Công an và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 21/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về "Tăng cường công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho lứa tuổi học sinh trong tình hình mới"; phối hợp với các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn kỹ năng tham gia giao thông an toàn, nhất là kỹ năng điều khiển xe gắn máy (đối với học sinh đủ điều kiện). Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm của học sinh, đồng thời xử lý nghiêm hành vi giao xe, để người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện; kịp thời thông báo các trường hợp học sinh, sinh viên vi phạm cho nhà trường để phối hợp giáo dục, nhắc nhở, xử lý.

2. Bộ Xây dựng chỉ đạo các cơ quan trực thuộc Bộ, các Sở Xây dựng và các đơn vị kinh doanh vận tải

- Rà soát các quy định về hoạt động vận tải đường bộ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phương tiện, công tác kiểm định phương tiện và các quy định có liên quan để điều chỉnh sửa đổi, bổ sung, theo hướng quản lý chặt chẽ các đối tượng, loại hình kinh doanh vận tải;

- Có phương án bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ vận tải, bảo đảm an toàn giao thông, nhất là hoạt động vận chuyển hành khách bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không trong dịp nghỉ Lễ, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của học sinh, sinh viên bước vào năm học mới;

- Tăng cường quản lý hoạt động vận tải ngay từ đầu bến, bãi, nhà ga; phối hợp cơ quan chức năng ngành giáo dục và đào tạo chỉ đạo rà soát các trường học có hoạt động sử dụng xe ô tô hợp đồng đưa, đón học sinh, yêu cầu các đơn vị vận tải thực hiện đúng quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô trong đưa đón học sinh;

- Chỉnh trang, nâng cao điều kiện an toàn kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến giao thông chính, các đầu mối giao thông quan trọng, tuyến giao thông trọng điểm, trung tâm du lịch (hoàn thành trước kỳ nghỉ Lễ); rà soát các khu vực có nguy cơ sạt lở cao và tăng cường cảnh báo nếu cần thiết, khắc phục kịp thời sự cố về hạ tầng giao thông;

- Khẩn trương xử lý các điểm bất hợp lý về tổ chức giao thông, điểm thường xảy ra tai nạn giao thông mới phát sinh; rà soát, bổ sung hệ thống báo hiệu, thực hiện nghiêm việc tổ chức, hướng dẫn bảo đảm giao thông trên các đoạn, tuyến, công trình có hoạt động thi công; ưu tiên lòng đường cho Nhân dân đi lại trong thời gian nghỉ Lễ. Rà soát, tạm dừng các công trình đang cải tạo, nâng cấp, thu hẹp mặt đường nếu gây cản trở giao thông trên các tuyến giao thông huyết mạch trong thời gian nghỉ Lễ.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường, chỉ đạo và hướng dẫn các trường học đẩy mạnh giáo dục kiến thức và kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho học sinh, tăng cường hướng dẫn học sinh, sinh viên chấp hành các quy tắc giao thông khi điều khiển xe máy điện, xe đạp điện; chỉ đạo các cơ sở đào tạo phối hợp với phụ huynh cam kết không giao phương tiện cho con em khi chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luật; phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương bảo đảm trật tự, an toàn giao thông khu vực cổng trường.

4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

- Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường thời lượng, nội dung tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh;

- Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí và các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự, an toàn giao thông, hướng dẫn kỹ năng tham gia giao thông an toàn, đặc biệt là trên đường cao tốc, thường xuyên cập nhật tình hình tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, các thông tin hỗ trợ, hướng dẫn Nhân dân đi lại trong dịp nghỉ Lễ, cũng như các nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông đường bộ, đường ngang qua đường sắt, đường thủy nội địa;

- Tăng cường rà soát, xử lý nghiêm việc đăng tải các thông tin trên các nền tảng mạng xã hội vi phạm các quy định về quản lý, đăng tải, cung cấp thông tin báo chí gây ảnh hưởng xấu đến việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; xử lý nghiêm các trường hợp can thiệp, tác động đến công tác xử lý vi phạm của lực lượng chức năng.

5. Bộ Y tế chỉ đạo các Sở Y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước tăng cường lực lượng, phương tiện, vật tư y tế để bảo đảm khả năng cao nhất trong việc cứu chữa nạn nhân tai nạn giao thông.

6. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, ngành, lực lượng chức năng

- Tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân, du khách chấp hành các quy định pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; tổ chức tuyên truyền, vận động các gia đình tích cực nhắc nhở, vận động con em trong độ tuổi thanh, thiếu niên, nhất là học sinh không điều khiển xe mô tô, xe máy khi chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe và chưa đủ kỹ năng tham gia giao thông;

- Tăng cường phối hợp giữa lực lượng chức năng - nhà trường - gia đình trong việc quản lý và giáo dục học sinh về trật tự, an toàn giao thông, trong đó chú trọng công tác trao đổi thông tin về vi phạm trật tự, an toàn giao thông của học sinh giữa lực lượng chức năng tới nhà trường và từ nhà trường tới gia đình để cùng quản lý và giáo dục về an toàn giao thông với trẻ em; kiểm soát chặt chẽ dịch vụ vận chuyển đưa, đón học sinh, đồng thời xử lý nghiêm các đơn vị kinh doanh vận tải vi phạm các quy định về vận chuyển đưa, đón học sinh; tăng cường tổ chức giao thông khu vực trường học;

- Chủ động có phương án tổ chức giao thông an toàn, thông suốt, nhất là trên tuyến, khu vực có nguy cơ cao dẫn đến tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông trên địa bàn địa phương; rà soát các địa điểm khu vực có nguy cơ sạt lở cao và tăng cường cảnh báo nếu cần thiết trên các tuyến đường do địa phương quản lý;

- Tăng cường quản lý hoạt động vận tải ngay từ đầu bến, bãi, nhà ga; công bố số điện thoại đường dây nóng về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nhằm tiếp nhận, kịp thời xử lý các phản ánh của người dân về tình hình trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ trên địa bàn.

7. Giao Bộ Công an theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện Công điện này, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước 15h00 ngày 02/9/2026.

Quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Chính phủ ban hành Nghị định số 321/2026/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

Nghị định này quy định về mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và chế độ bảo đảm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ dự toán chi thường xuyên của ngân sách trung ương để thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng hằng năm.

Đối tượng áp dụng theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14.

Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi là 3.012.000 đồng

Nghị định quy định tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.789.000 đồng lên 3.012.000 đồng.

Mức chuẩn trên làm căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng. Các mức quy định theo mức chuẩn tại Nghị định này được điều chỉnh khi mức chuẩn được điều chỉnh và làm tròn đến hàng nghìn đồng.

Mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi

Nghị định quy định cụ thể mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với từng đối tượng như sau:

- Mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh loại B.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi một lần đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng. Nghị định nêu rõ trường hợp mức trợ cấp một lần tính theo thâm niên thì sau khi đã tính tròn số năm tham gia kháng chiến, tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc hoặc làm nghĩa vụ quốc tế mà còn có tháng lẻ thì số tháng lẻ được tính tròn số theo nguyên tắc: từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính là 01 năm, dưới 06 tháng được tính là 06 tháng. Trường hợp không xác định được ngày, tháng bắt đầu hoạt động kháng chiến thì được tính từ ngày 01 tháng 7 của năm đó.

Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng gồm: Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết; hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học; hỗ trợ thăm viếng mộ liệt sĩ; hỗ trợ di chuyển hài cốt liệt sĩ; hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ; xác định danh tính hài cốt liệt sĩ và các chế độ khác. Cụ thể:

Bảo hiểm y tế

Nghị định quy định thực hiện đóng bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng, thân nhân và người phục vụ người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14.

Điều dưỡng phục hồi sức khỏe

Điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà: Mức chi bằng 0,9 lần mức chuẩn/người/lần và được chi trả trực tiếp cho đối tượng được hưởng.

Điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung: Mức chi bằng 1,8 lần mức chuẩn/người/lần. Nội dung chi bao gồm:

- Tiền ăn trong thời gian điều dưỡng;

- Thuốc thiết yếu;

- Quà tặng cho đối tượng;

- Tham quan (tiền đi lại, vé tham quan)

- Các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho đối tượng trong thời gian điều dưỡng (mức chi tối đa 10% mức chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung), gồm: khăn mặt, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, chụp ảnh, tư vấn sức khỏe, phục hồi chức năng, sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các khoản chi khác phục vụ đối tượng điều dưỡng.

Hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết

Mức hỗ trợ mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.

Hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn cho đối tượng khi đi làm phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình (mỗi niên hạn 01 lần) hoặc đi điều trị phục hồi chức năng theo chỉ định của bệnh viện chuyên khoa phục hồi chức năng hoặc bệnh viện cấp cơ bản trở lên có chuyên khoa phục hồi chức năng. Mức hỗ trợ 10.000 đồng/km/người tính theo khoảng cách từ nơi cư trú đến cơ sở y tế gần nhất đủ điều kiện về chuyên môn kỹ thuật cung cấp dụng cụ chỉnh hình, nhưng tối đa là 2.800.000 đồng/người/niên hạn.

Hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học

Mức hưởng trợ cấp để theo học tại nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập (cơ sở giáo dục mầm non): 0,4 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.

Mức hưởng trợ cấp để theo học tại cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, trường chuyên biệt, lớp dành cho người khuyết tật và cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân (trừ cơ sở giáo dục mầm non): 0,8 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.

Quy định mới về cấp ý kiến pháp lý

Chính phủ ban hành Nghị định số 324/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 51/2015/NĐ-CP ngày 26/5/2015 của Chính phủ về cấp ý kiến pháp lý.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026- Ảnh 2.

Làm rõ các trường hợp được cấp ý kiến pháp lý

Làm rõ các trường hợp được cấp ý kiến pháp lý

Trong đó, Nghị định 324/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 5 Nghị định 51/2015/NĐ-CP về đối tượng cấp ý kiến pháp lý theo hướng quy định Bộ Tư pháp xem xét cấp ý kiến pháp lý đối với điều ước quốc tế về vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài; thỏa thuận vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Chính phủ; văn bản bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh hoặc văn bản bảo lãnh Chính phủ cho khoản phát hành trái phiếu quốc tế được Chính phủ bảo lãnh; thỏa thuận phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ; các trường hợp đặc biệt khác theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, so với Nghị định 51/2015/NĐ-CP, quy định mới tại Nghị định 324/2026/NĐ-CP không còn liệt kê dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) là một đối tượng cấp ý kiến pháp lý (Điều 5 Nghị định 51/2015/NĐ-CP trước đây quy định riêng trường hợp này).

Rút thời hạn chỉnh lý hồ sơ phức tạp xuống 10 ngày

Bên cạnh đó, Nghị định 324/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 14 về chỉnh lý, làm rõ hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý, cụ thể:

Trường hợp phát hiện nội dung hồ sơ đề nghị cấp ý kiến pháp lý chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ, Bộ Tư pháp có Công văn đề nghị cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp ý kiến pháp lý chỉnh lý hoặc làm rõ nội dung hồ sơ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý.

Trường hợp hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý có nội dung phức tạp, thời hạn Bộ Tư pháp có Công văn yêu cầu chỉnh lý hoặc làm rõ nội dung hồ sơ có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc (Nghị định 51/2015/NĐ-CP quy định có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý.

Cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp ý kiến pháp lý có trách nhiệm nghiên cứu, làm rõ và chỉnh lý hồ sơ theo yêu cầu của Bộ Tư pháp trong thời hạn 10 ngày làm việc (Nghị định 51/2015/NĐ-CP quy định thời hạn 15 ngày), kể từ ngày nhận được yêu cầu của Bộ Tư pháp. Trường hợp cần kéo dài thời hạn phải có văn bản thông báo cho Bộ Tư pháp, giải trình rõ lý do và nêu rõ thời hạn hoàn thành việc chỉnh lý hồ sơ.

Hồ sơ được gửi bằng bản điện tử hoặc bản giấy

Nghị định 324/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 12a. Hồ sơ của cơ quan, tổ chức liên quan gửi cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp ý kiến pháp lý" vào sau Điều 12.

Trong đó, quy định về hồ sơ của cơ quan, tổ chức liên quan và cho phép hồ sơ được gửi bằng bản điện tử hoặc bản giấy.

Trường hợp hồ sơ có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước hoặc hệ thống thông tin chưa đáp ứng yêu cầu gửi, tiếp nhận bản điện tử thì hồ sơ được gửi bằng bản giấy.

Đồng thời, Nghị định quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp ý kiến pháp lý và cơ quan, tổ chức liên quan trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu; bảo đảm tính chính xác, tính hợp pháp và tính xác thực của hồ sơ gửi Bộ Tư pháp.

Nghị định số 324/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026. Hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý hợp lệ được gửi đến Bộ Tư pháp trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng chưa được cấp ý kiến pháp lý tiếp tục được thực hiện theo Nghị định 51/2015/NĐ-CP; hồ sơ chưa hợp lệ được gửi sau ngày Nghị định có hiệu lực thì thực hiện theo quy định mới.

Bên cho vay, nhà tài trợ nước ngoài có thể lựa chọn sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp ý kiến pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư thay cho việc lấy ý kiến pháp lý của Bộ Tư pháp, trừ trường hợp đối tượng cấp ý kiến pháp lý hoặc hồ sơ yêu cầu cấp ý kiến pháp lý có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Quy định về định danh địa điểm

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về định danh địa điểm.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026- Ảnh 3.

Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

Nghị định này quy định về việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước); việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.

Cơ quan quản lý định danh địa điểm là cơ quan được Bộ Công an giao thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

Mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất gồm 12 chữ số

Nghị định nêu rõ các nguyên tắc định danh địa điểm. Theo đó, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.

Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng áp dụng như đối với đường giao thông, theo đó địa điểm của đối tượng sẽ gồm địa chỉ điểm đầu, địa chỉ điểm cuối, địa chỉ tại các nút giao, điểm giao cắt trên tuyến hoặc điểm giao cắt với địa giới hành chính cấp tỉnh.

Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện định danh địa điểm phải đảm bảo tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.

Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

Theo Nghị định, cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, bao gồm: Mã định danh địa điểm; đối tượng định danh địa điểm; địa chỉ của địa điểm; lối tiếp cận; mã bưu chính; thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên); các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm; tên địa điểm; thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có); cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức); đấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ; các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

Dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

Đối tượng, phương thức khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:

a) Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

b) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy định của pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;

c) Tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia.

Trường hợp khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ; trường hợp người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản của người đó; trường hợp người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế;

d) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi khai thác thông tin của mình thông qua người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ. Việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất tích do người quản lý tài sản của người đó quyết định;

đ) Tổ chức, cá nhân không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản này được khai thác dữ liệu về định danh địa điểm qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin.

Trường hợp có nhu cầu khai thác thông tin khác trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, phải được sự đồng ý của chủ sở hữu, quản lý địa điểm đó.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.

Phê duyệt Đề án "Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược"

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược" (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026- Ảnh 4.

Phê duyệt Đề án “Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược”

Cấp học bổng toàn phần cho 1.500 người

Mục tiêu của Đề án nhằm phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và một số lĩnh vực phục vụ đổi mới mô hình phát triển đất nước thông qua việc cấp học bổng toàn phần cho sinh viên xuất sắc và các nhà khoa học trẻ đi đào tạo, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới.

Đề án phấn đấu đến hết năm 2035, tuyển chọn, cấp học bổng toàn phần cho 1.500 người đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, dự kiến: 100 người đào tạo trình độ đại học; 400 người đào tạo trình độ thạc sĩ; 500 người đào tạo trình độ tiến sĩ và 500 người thực hiện nghiên cứu sau tiến sĩ. Số lượng người được cử đi đào tạo theo các trình độ có thể thay đổi phụ thuộc vào nhu cầu đào tạo thực tế và khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

Đối tượng đào tạo

Đối tượng được đào tạo là công dân Việt Nam có năng lực học tập, nghiên cứu và tiềm năng phát triển cao, đáp ứng yêu cầu đầu vào của từng trình độ, chương trình đào tạo, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới thuộc phạm vi Đề án, được tuyển chọn để cử đi đào tạo, nghiên cứu trong các ngành, lĩnh vực phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, bao gồm các nhóm đối tượng sau đây:

1. Đào tạo trình độ đại học: (i) đối tượng được các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước giới thiệu, cử dự tuyển và ưu tiên tuyển dụng sau tốt nghiệp gồm: học sinh trung học phổ thông hoặc sinh viên đại học năm thứ nhất, đoạt giải nhất, nhì, ba trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức, kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hoặc các kỳ thi quốc tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo cử tham gia, phù hợp với các ngành phục vụ phát triển công nghệ chiến lược; (ii) sinh viên năm thứ nhất đại học của các trường thuộc lực lượng vũ trang (công an, quân đội), có kết quả học tập, rèn luyện đạt loại giỏi trở lên, được Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng giới thiệu, cử dự tuyển.

2. Đào tạo trình độ thạc sĩ: đối tượng đang công tác tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cơ sở giáo dục đại học hoặc đối tượng được các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước giới thiệu, cử dự tuyển và ưu tiên tuyển dụng sau tốt nghiệp, tốt nghiệp đại học các ngành phù hợp phục vụ phát triển công nghệ chiến lược đạt loại giỏi trở lên (hoặc tương đương).

3. Đào tạo trình độ tiến sĩ: đối tượng đang công tác tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cơ sở giáo dục đại học hoặc đối tượng được các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước giới thiệu, cử dự tuyển và ưu tiên tuyển dụng sau tốt nghiệp, tốt nghiệp thạc sĩ các ngành phù hợp phục vụ phát triển công nghệ chiến lược có kết quả học tập đạt từ 8,0 trở lên theo thang điểm 10 hoặc tương đương.

4. Đào tạo, nghiên cứu sau tiến sĩ: Người đang công tác tại cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp nhà nước; có năng lực nghiên cứu thể hiện qua công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín, bằng độc quyền sáng chế hoặc sản phẩm khoa học và công nghệ đã được ứng dụng; có kinh nghiệm chuyên môn và tiềm năng phát triển, được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu chuyên sâu, nâng cao năng lực dẫn dắt nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Ngành đào tạo

Ngành đào tạo gồm: Các ngành, lĩnh vực, chương trình đào tạo có liên quan trực tiếp hoặc phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế Quyết định này (nếu có). Trường hợp cần thiết, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bổ sung các ngành, lĩnh vực khác phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng mà năng lực đào tạo trong nước chưa đáp ứng được.

Cơ sở đào tạo

Cơ sở đào tạo gồm: Các cơ sở giáo dục nước ngoài có thế mạnh trong đào tạo các ngành được xác định ở trên, thuộc nhóm 500 hàng đầu thế giới theo ngành, lĩnh vực đào tạo tại các bảng xếp hạng quốc tế có uy tín tại thời điểm xét tuyển; chương trình đào tạo đã được kiểm định hoặc công nhận chất lượng theo quy định của nước sở tại, bảo đảm điều kiện nghiên cứu, tiếp cận và chuyển giao công nghệ.

Phương thức, trình độ và chỉ tiêu đào tạo

Thực hiện đào tạo toàn thời gian trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và nghiên cứu sau tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục nước ngoài theo quy định ở trên.

Về chỉ tiêu, Nghị định quy định căn cứ mục tiêu cụ thể của Đề án, nhu cầu đào tạo nhân lực trong từng ngành, lĩnh vực, số lượng và chất lượng ứng viên đăng ký dự tuyển, khả năng tiếp nhận của cơ sở đào tạo, nghiên cứu và khả năng cân đối nguồn lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chỉ tiêu đào tạo hằng năm theo từng trình độ đào tạo và hoạt động nghiên cứu sau tiến sĩ, bảo đảm thực hiện mục tiêu của Đề án.

Tổ chức tuyển chọn cạnh tranh, công khai trên phạm vi toàn quốc

Đề án đưa ra 4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: 1- Hoàn thiện thể chế, chính sách; 2- Xây dựng kế hoạch triển khai, kết nối và sử dụng nhân lực; 3- Tăng cường truyền thông, hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực; 4- Thực hiện tuyển chọn, cử người đi đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài.

Đề án nêu rõ sẽ nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách cấp học bổng toàn phần theo từng nhóm đối tượng, trình độ và hình thức đào tạo, nghiên cứu của Đề án này, bảo đảm đủ sức cạnh tranh để thu hút người thực sự xuất sắc, gắn với kết quả học tập, nghiên cứu và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Tổ chức tuyển chọn cạnh tranh, công khai trên phạm vi toàn quốc; công khai tiêu chí, chỉ tiêu và kết quả tuyển chọn; thành lập Hội đồng chuyên môn theo từng lĩnh vực để đánh giá năng lực ứng viên, sự cần thiết của ngành đào tạo, chất lượng cơ sở đào tạo, người hướng dẫn, kế hoạch học tập, nghiên cứu và khả năng đóng góp sau đào tạo, nghiên cứu; cử người đi đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài, quản lý và cấp phát kinh phí cho người được cấp học bổng theo quy định hiện hành.

Đồng thời, theo dõi, đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu, việc thực hiện trách nhiệm theo cam kết sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, nghiên cứu và mức độ đóng góp của người được cấp học bổng.

Trường hợp đối tượng đào tạo của Đề án này đồng thời đáp ứng điều kiện và phù hợp với các chương trình học bổng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ngoài khác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được xem xét cử đi đào tạo, nghiên cứu trong khuôn khổ các chương trình đó, bảo đảm không trùng lặp chế độ, chính sách hỗ trợ đối với cùng nội dung, cùng thời gian và phù hợp với ngành, lĩnh vực, trình độ đào tạo hoặc hoạt động nghiên cứu sau tiến sĩ...

Kinh phí và thời gian thực hiện Đề án

Kinh phí thực hiện Đề án được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, phân cấp ngân sách hiện hành và khả năng cân đối hằng năm; nguồn hỗ trợ, tài trợ, học bổng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác theo quy định pháp luật.

Việc tuyển chọn, cử người đi đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài theo Đề án được thực hiện từ năm 2027 đến năm 2035, sau khi hoàn thành đồng bộ cơ chế học bổng, tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn, danh mục cơ sở đào tạo, phương án sử dụng sau đào tạo, quy định về nghĩa vụ cống hiến, cơ chế bồi hoàn và bảo đảm nguồn lực thực hiện. Đối với người được cấp học bổng trong giai đoạn này, việc cấp kinh phí, quản lý, theo dõi, hỗ trợ và đánh giá kết quả sau đào tạo, nghiên cứu được tiếp tục thực hiện đến khi hoàn thành chương trình đào tạo, nghiên cứu và thực hiện các trách nhiệm theo cam kết, theo quy định có liên quan.

Quy định cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính đặc thù đối với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 325/2026/NĐ-CP ngày 18/8/2026 quy định cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính đặc thù đối với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Cơ chế hoạt động đặc thù của TKV

Về đặc thù trong hoạt động quản lý, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng tài nguyên của TKV, Nghị định quy định:

TKV thống nhất thực hiện trong Tập đoàn các công ty TKV công tác khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản than, bôxít và các khoáng sản chiến lược, quan trọng khác theo quy định của pháp luật; một số công trình thuộc kết cấu hạ tầng có tính chất liên mỏ, liên khu vực.

TKV chủ trì tổ chức, quản lý và điều phối hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng tài nguyên của các công ty con theo quy định tại Nghị định này, Điều lệ TKV và pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của Tập đoàn các công ty TKV và khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản.

Việc quản lý tài nguyên khoáng sản trong Tập đoàn các công ty TKV thực hiện như sau:

Đối với các mỏ khoáng sản đã được cấp phép khai thác cho TKV, TKV có trách nhiệm tổ chức quản lý thống nhất các công đoạn từ khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. TKV có quyền thuê các công ty con trong Thị trường TKV tiến hành khai thác theo quy định của pháp luật thông qua hợp đồng. TKV là đầu mối tiêu thụ các sản phẩm sau khai thác tại các mỏ khoáng sản đã được cấp phép khai thác cho TKV.

Đối với các mỏ khoáng sản đã được cấp phép khai thác cho các công ty con trong Thị trường TKV, TKV làm đầu mối quản lý các công đoạn từ khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm thông qua ký hợp đồng với các công ty con trong Thị trường TKV tham gia kế hoạch phối hợp kinh doanh để thống nhất quản lý tài nguyên, công nghệ khai thác, chế biến, tiêu thụ.

Về đặc thù trong kinh doanh của TKV, Nghị định quy định:

TKV thống nhất quản lý việc tiêu thụ than, alumin, một số khoáng sản quan trọng thông qua cơ chế:

a) TKV chủ trì, điều phối các công ty con tham gia Thị trường TKV để thỏa thuận, thống nhất phân công quản lý thị trường trong Tập đoàn các công ty TKV nhằm đảm bảo khai thác, sử dụng hiệu quả năng lực sản xuất, kinh doanh của các công ty con trong Thị trường TKV (trong đó bao gồm cả thị trường cơ khí, thị trường vật tư chiến lược, dịch vụ địa chất, môi trường).

b) TKV quyết định và điều chỉnh giá hàng hoá và dịch vụ (bao gồm cả giá mua, giá bán trong Thị trường TKV), trừ hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá cụ thể.

Khi tham gia Kế hoạch phối hợp kinh doanh, các công ty con tham gia Thị trường TKV tự trang trải các khoản chi phí, chịu trách nhiệm về công tác khoán chi phí, giao và nghiệm thu chi phí khoán và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. TKV thanh toán cho các công ty con chi phí thực hiện các công đoạn sản xuất trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật và lợi nhuận hợp lý thông qua giá mua bán trong Tập đoàn các công ty TKV.

Trên cơ sở kế hoạch phối hợp kinh doanh hằng năm do TKV ban hành, TKV tổ chức ký hợp đồng mua bán các sản phẩm khoáng sản với các công ty con trong Thị trường TKV gồm: Than, quặng bô xít, hydroxit nhôm, alumin, nhôm, đồng tấm và một số khoáng sản quan trọng khác sau khi khai thác, chế biến theo giá do hai bên thỏa thuận trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và lợi nhuận hợp lý để chủ trì tổ chức tiêu thụ ở thị trường trong và ngoài nước.

Cơ chế quản lý tài chính đặc thù

Về cơ chế quản lý tài chính đặc thù của TKV, Nghị định quy định chi phí được xử lý từ nguồn lợi nhuận sau thuế là các chi phí tại điểm b khoản 1 Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm:

a) Chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản cho mục đích đầu tư đã thực hiện nhưng không đủ điều kiện triển khai dự án mà các khoản chi phí này không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp thuộc một trong các trường hợp:

a1) Kết quả khảo sát, thăm dò không đủ trữ lượng khoáng sản để khai thác công nghiệp;

a2) Kết quả khảo sát, thăm dò đủ trữ lượng khoáng sản để khai thác công nghiệp nhưng tại thời điểm lập dự án chưa có công nghệ khai thác, chế biến phù hợp, chưa có các giải pháp khắc phục tác động xấu đến môi trường;

a3) Chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản đã thực hiện nhưng sau đó không triển khai dự án do nằm trong khu vực mà cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch hoặc có các quyết định thay đổi về chính sách dẫn đến doanh nghiệp không đủ điều kiện triển khai dự án.

b) Chi phí đầu tư thất bại tại các dự án đầu tư, các khoản đầu tư có tính đặc thù, rủi ro cao mà các khoản chi phí này không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp thuộc một trong các trường hợp:

b1) Dự án nằm trong khu vực cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch;

b2) Dự án bị tác động bởi các quyết định thay đổi về chính sách dẫn đến doanh nghiệp không đủ điều kiện triển khai dự án;

b3) Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, đối với chi phí ăn giữa ca, ăn định lượng, TKV và các công ty con trong Thị trường TKV tham gia kế hoạch phối hợp kinh doanh thực hiện hạch toán chi phí này đối với người lao động vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo quy định của pháp luật.

Chế độ ăn giữa ca hoặc ăn định lượng đối với người lao động được thực hiện theo thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của TKV, các công ty con trong Thị trường TKV theo quy định của Bộ luật Lao động.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/10/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026.

Trong thời gian chưa sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy chế tài chính, quy chế nội bộ, TKV được áp dụng các nội dung của điều lệ, quy chế tài chính, quy chế nội bộ đã ban hành mà không trái với quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các quy định thuận lợi hơn theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và các quy định tại Nghị định này.

Chính phủ thông qua Đề xuất về Chương trình lập pháp năm 2027

Tại Nghị quyết số 240/NQ-CP ngày 17/8/2026, Chính phủ thông qua Đề xuất của Chính phủ về Chương trình lập pháp năm 2027 theo đề nghị của Bộ Tư pháp.

Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về Đề xuất Chương trình lập pháp năm 2027, gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng xây dựng dự án Luật Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, trong đó:

Bộ Công an trực tiếp soạn thảo và chịu trách nhiệm về các nội dung liên quan đến phạm vi quản lý của Bộ Công an.

Bộ Quốc phòng trực tiếp soạn thảo và chịu trách nhiệm về các nội dung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng (quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phòng thủ, tác chiến mạng, động viên, huy động và chuyển trạng thái,...).

Trong quá trình xây dựng dự án Luật nêu trên, Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, thống nhất nội dung Luật trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế làm việc của Chính phủ.

Đối với các dự án luật, nghị quyết đang đề nghị bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026 để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10 năm 2026), Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật, nghị quyết và hồ sơ đề xuất điều chỉnh Chương trình theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để trình Chính phủ xem xét, quyết định.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các luật, pháp lệnh, nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng; hoàn thiện hệ thống pháp luật; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026 truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.

Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp dữ liệu về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng, khả năng điều phối và cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng và liên tỉnh trong tháng 10 năm 2026, bảo đảm ưu tiên cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.

Định kỳ hằng năm công bố Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, đồng thời hỗ trợ địa phương trong việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng vật liệu; xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu xây dựng và cơ chế điều phối vật liệu xây dựng theo vùng kinh tế với lộ trình cụ thể.

Xây dựng hệ thống dự báo cung - cầu vật liệu xây dựng

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng hệ thống dự báo cung - cầu vật liệu xây dựng theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển, làm cơ sở tham mưu cho Chính phủ trong công tác chỉ đạo, điều hành; định kỳ hằng năm tổng hợp, đánh giá tình hình cung - cầu vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất điều chỉnh phương án điều phối khi cần thiết.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn lực tài chính cho công tác điều tra địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản tại các địa phương còn khó khăn theo quy định pháp luật.

Tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin

Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước Quý II năm 2027 theo thẩm quyền, bảo đảm chủ động chuẩn bị nguồn vật liệu xây dựng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và các công trình trọng điểm; bố trí đầy đủ kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản theo quy định pháp luật.

Khẩn trương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan theo thẩm quyền và quy định pháp luật, trong đó cần rà soát, bổ sung các khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng.

Rà soát các mỏ đang khai thác để xem xét điều chỉnh công suất đối với các mỏ đủ điều kiện theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm; chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030 - 2045, tránh tình trạng bị động khi triển khai các dự án quy mô lớn.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung nêu trên; tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án trọng điểm thuộc phạm vi quản lý.

Thông qua Báo cáo tiếp thu, giải trình dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 241/NQ-CP ngày 18/8/2026 về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Cụ thể, Chính phủ quyết nghị thông qua Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) theo đề nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 692/BC-BTP ngày 14/8/2026 và Báo cáo số 701/BC-BTP ngày 17/8/2026. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ đạo tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo quy định. Trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý hồ sơ dự án Luật; chủ động báo cáo, giải trình về nội dung hồ sơ dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định.

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 440/TB-VPCP ngày 19/8/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, 10 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Chính phủ; đoàn kết đồng lòng, nỗ lực, đạt được nhiều kết quả khá toàn diện. Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về thực hiện mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và tổ chức vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp, đóng góp tích cực vào kết quả chung của cả nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Quy mô kinh tế, tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Tỉnh. Động lực tăng trưởng còn phụ thuộc lớn vào các dự án lọc hóa dầu và gang thép. Giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp hơn bình quân cả nước. Hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ, nhất là hệ thống kết nối Đông - Tây. Thu hút đầu tư chưa có đột phá, thiếu dự án quy mô lớn, công nghệ cao, có tính lan tỏa, có tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm. Việc xử lý tài sản công dôi dư sau sắp xếp còn chậm. Công tác cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh còn hạn chế. Khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân còn chậm. Đời sống một bộ phận Nhân dân còn khó khăn nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo.

Thực hiện hiệu quả Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị Tỉnh tập trung triển khai một số nội dung trọng tâm sau:

Tổ chức thực hiện hiệu quả Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hình rõ các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế và không gian phát triển mới trên nền không gian biển - đồng bằng - cao nguyên; hoàn thành quy hoạch chung cấp xã, rà soát, điều chỉnh quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng khu vực, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và tích hợp đa mục tiêu.

Đồng thời, quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026, phấn đấu hoàn thành cao hơn mục tiêu cả năm Chính phủ giao. Tỉnh cần tập trung rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo từng tháng, từng quý, từng ngành, từng lĩnh vực; xác định rõ dư địa, khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế; phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; cá thể hóa trách nhiệm cụ thể đối với từng đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong đôn đốc, triển khai nhiệm vụ bảo đảm mục tiêu tăng trưởng đề ra.

Tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh gắn với tiềm năng lợi thế của Tỉnh, tạo nền tảng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững cả trước mắt và lâu dài theo chỉ đạo tại Nghị quyết 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3.

Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công; nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của các ngành mũi nhọn

Quảng Ngãi cần tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công quyết liệt, hiệu quả. Hoàn thành phân bổ chi tiết vốn ngân sách còn lại ngay trong tháng 8/2026; đánh giá KPI tiến độ theo tháng, quý và kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án chậm giải ngân sang dự án giải ngân tốt theo quy định. Rà soát toàn bộ danh mục dự án đầu tư công, dự án hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, năng lượng, logistics; phân nhóm dự án có thể giải ngân ngay, dự án vướng mắc và nguyên nhân, giao trách nhiệm xử lý, thời hạn xử lý và tiến độ giải ngân từng tháng.

Tập trung triển khai thực hiện và tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Bên cạnh đó, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của các ngành mũi nhọn:

Công nghiệp - xây dựng: Ưu tiên đầu tư hạ tầng khu công nghiệp chế biến dược liệu tập trung, trung tâm Logistics, kho bãi, dịch vụ Cửa khẩu quốc tế Bờ Y; chủ động thúc đẩy liên kết Khu kinh tế Dung Quất - Khu kinh tế mở Chu Lai - Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y, gắn với sân bay Chu Lai và cảng biển nước sâu Dung Quất để hình thành trung tâm công nghiệp - logistics trọng điểm của khu vực. Tiếp tục duy trì tăng trưởng, bảo đảm vận hành ổn định các cơ sở công nghiệp lớn, nhất là lọc hóa dầu Dung Quất, thép Hòa Phát. Phát triển mạnh công nghiệp sau lọc hóa dầu, hóa chất, cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng (điện khí, năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học). Phát triển Trung tâm lọc, hoá dầu và năng lượng Quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất.

Chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan để đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng chiến lược, tạo không gian phát triển mới cho Tỉnh như: cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đoạn qua tỉnh, Cảng hàng không Măng Đen, Quốc lộ 24…

Xuất nhập khẩu: Mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đối với các sản phẩm chủ lực, tăng cường xúc tiến thương mại qua cảng biển Dung Quất và cửa khẩu Bờ Y, hỗ trợ thủ tục hải quan, logistics, chứng nhận xuất xứ, tiêu chuẩn chất lượng và mở rộng thị trường sang Lào, Campuchia, Thái Lan, Đông Bắc Á và EU. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản chủ lực, đồng thời giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp công nghiệp, nông sản và xuất nhập khẩu.

Nông nghiệp: Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ; phát triển đa dạng hóa sản phẩm Sâm Ngọc Linh và dược liệu phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, sinh thái của tỉnh; phấn đấu trở thành vùng trọng điểm dược liệu quốc gia.

Du lịch, dịch vụ: Tăng cường liên kết phát triển du lịch giữa khu vực Tây Nguyên với các trung tâm du lịch ven biển. Trọng tâm là xây dựng chuỗi sản phẩm Lý Sơn - Mỹ Khê - Sa Huỳnh - Dung Quất - Măng Đen - Bờ Y, gắn du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch biên giới. Phát triển Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển - đảo và Khu du lịch Măng Đen trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với các sản phẩm đặc sắc, đẳng cấp, gắn với kinh tế đêm, mua sắm, dịch vụ lưu trú chất lượng cao để giữ chân du khách.

Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực

Quảng Ngãi cần quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch cải thiện cụ thể từng chỉ số PCI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI với mục tiêu, thời hạn và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Đặc biệt lưu ý số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động còn cao để có giải pháp hỗ trợ kịp thời về chi phí, tín dụng, mặt bằng và thị trường tiêu thụ.

Tích cực triển khai hiệu quả Đề án 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị; đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số" cho cấp cơ sở. Rà soát, đầu tư các hệ thống hạ tầng số bảo đảm đồng bộ, tránh lãng phí trên cơ sở khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu của tỉnh kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia.

Đồng thời, quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, giảm nghèo bền vững, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới. Thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các chính sách chăm lo người có công với cách mạng, gia đình chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội và đồng bào dân tộc thiểu số. Ưu tiên xóa nhà tạm, nhà dột nát; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án nhà ở xã hội đang triển khai, đồng thời rà soát quỹ đất phát triển nhà ở cho thuê cho công nhân tại các khu, cụm công nghiệp và nhà ở công vụ cho cán bộ, giáo viên, nhân viên y tế vùng biên giới, miền núi.

Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo nghề, kết nối cung - cầu lao động, giải quyết việc làm cho người dân, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đẩy nhanh tiến độ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân, củng cố hệ thống y tế cơ sở. Chuẩn bị tốt các điều kiện cho năm học mới 2026-2027 theo đúng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Kết luận số 105-KL/TW.

Bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả chính quyền địa phương 02 cấp; sắp xếp tinh gọn bộ máy

Quảng Ngãi thực hiện khẩn trương, hiệu quả "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Chú trọng bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển rừng bền vững. Tăng cường phòng chống thiên tai, bão lũ, sạt lở đất trong mùa mưa bão sắp tới.

Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại. Tăng cường nắm chắc tình hình, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các lực lượng chức năng và chính quyền các tỉnh bạn Lào, Campuchia để trấn áp quyết liệt tội phạm xuyên biên giới, ma túy, buôn lậu và các hoạt động phá hoại. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo kịp thời, dứt điểm, không để phát sinh điểm nóng, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân. Kiểm soát chặt chẽ, không để vi phạm quy định về chống khai thác IUU.

Đẩy mạnh công tác đối ngoại, lấy ngoại giao kinh tế, ngoại giao biên giới làm trọng tâm phục vụ trực tiếp phát triển. Tiếp tục củng cố, mở rộng quan hệ hợp tác truyền thống với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia trên các lĩnh vực và giao lưu nhân dân; khai thác tối đa hiệu quả Cửa khẩu quốc tế Bờ Y làm đầu cầu quan trọng kết nối Tây Nguyên với thị trường khu vực và quốc tế.

Ngoài ra, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, uy tín, gần dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả chính quyền địa phương 02 cấp. Chủ động rà soát, đề xuất phương án sắp xếp các xã, phường phù hợp với thực tiễn địa phương; sắp xếp tinh gọn bộ máy bên trong các sở, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập. Chú trọng nâng cao năng lực cán bộ cấp xã nhất là các xã biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn…/.