
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 135/NQ-CP ngày 22/5/2026 về phạm vi, đối tượng và nguyên tắc thực hiện tiết kiệm chi ngân sách nhà nước năm 2026.
Tiết kiệm 10% chi thường xuyên
Về tiết kiệm chi thường xuyên, Nghị quyết nêu rõ tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngân sách nhà nước và nguồn thu phí được khấu trừ để lại theo chế độ được giao đầu năm 2026 để chi thường xuyên của các đơn vị dự toán thuộc các Bộ, cơ quan ở trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố sau khi loại trừ các khoản chi quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Trên cơ sở dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước và nguồn thu phí được khấu trừ để lại theo chế độ còn lại sau khi đã thực hiện quy định trên, các Bộ, cơ quan ở trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đặc biệt là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước, để phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% để thực hiện Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Việc thực hiện tiết kiệm theo quy định trên không áp dụng đối với:
- Các khoản chi không thực hiện tiết kiệm quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị quyết này;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đã hoàn thành hoặc đã phát sinh nghĩa vụ thanh toán hợp pháp trước ngày Chính phủ ban hành Nghị quyết này;
- Kinh phí thực hiện các gói thầu đã phát hành thông báo mời thầu hoặc phát hành hồ sơ yêu cầu, gửi dự thảo hợp đồng trước ngày Chính phủ ban hành Nghị quyết này theo đúng quy định pháp luật, không cập nhật được giá gói thầu để thực hiện tiết kiệm chi và tiếp tục thực hiện trong năm 2026.
Tiết kiệm 5% dự toán chi đầu tư phát triển
Về tiết kiệm chi đầu tư phát triển, Nghị quyết nêu rõ thực hiện tiết kiệm 5% dự toán chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách địa phương được Thủ tướng Chính phủ giao năm 2026 ngay từ khâu phân bổ dự toán để bổ sung vốn đầu tư công trình đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Không thực hiện tiết kiệm đối với: Vốn đầu tư từ nguồn bội chi ngân sách địa phương; chi đầu tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chính phủ yêu cầu Thủ trưởng đơn vị dự toán cấp I quyết định số kinh phí tiết kiệm của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, chi tiết theo từng lĩnh vực chi gửi Kho bạc Nhà nước để kiểm soát dự toán trong quá trình thực hiện chi ngân sách.
Căn cứ nội dung quy định tại Nghị quyết này, trên cơ sở bảo đảm yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại và đặc thù quản lý chuyên ngành, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ động quyết định phương án tiết kiệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước và nguồn thu phí được khấu trừ để lại theo chế độ được giao đầu năm 2026 và Bộ Ngoại giao chủ động quyết định phương án tiết kiệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với kinh phí hoạt động của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, kinh phí hỗ trợ, bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Các Bộ, cơ quan ở trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo dự toán tiết kiệm theo từng nội dung quy định ở trên, gửi Bộ Tài chính trước ngày 31 tháng 5 năm 2026 để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.
Kinh phí tiết kiệm chi phí quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện nộp vào các Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, Quỹ Bảo hiểm y tế tương ứng. Kinh phí tiết kiệm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ nguồn thu 2% kinh phí công đoàn chuyển sang năm sau sử dụng theo quy định. Đối với kinh phí khoán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 07/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thực hiện tiết kiệm khi xây dựng phương án khoán kinh phí năm 2026.
Đối với kinh phí tiết kiệm từ nguồn thu phí được khấu trừ để lại theo quy định của pháp luật phí, lệ phí: Căn cứ quyết định tiết kiệm của cơ quan chủ quản, các cơ quan, đơn vị thực hiện nộp kinh phí tiết kiệm vào ngân sách nhà nước. Đến hết năm ngân sách, trường hợp số thu có biến động so với dự toán giao đầu năm, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm báo cáo cơ quan quản lý cấp trên quyết định điều chỉnh kinh phí tiết kiệm.
Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 22/5/2026.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 923/QĐ-TTg ngày 22/5/2026 về việc phân công Lãnh đạo Chính phủ theo dõi, chỉ đạo các địa phương thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
Thủ tướng phân công các Phó Thủ tướng Chính phủ thay mặt Thủ tướng Chính phủ để theo dõi, chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ các tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, đặc biệt là Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% trong năm 2026 và những năm tiếp theo, cụ thể:
1- Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc theo dõi các địa phương vùng Đông Nam Bộ (gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai, Tây Ninh).
2- Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Giang theo dõi các địa phương vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (gồm: thành phố Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng).
3- Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà theo dõi các địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc (gồm: Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang).
4- Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng theo dõi các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm: thành phố cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long).
5- Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng theo dõi các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng (gồm: thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh).
6- Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu theo dõi các địa phương vùng Bắc Trung Bộ (gồm: thành phố Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị).
Quyết định nêu rõ, các Phó Thủ tướng Chính phủ chủ động lựa chọn hình thức làm việc phù hợp với các địa phương được phân công theo dõi để trực tiếp chỉ đạo thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, điểm nghẽn cản trở tăng trưởng, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, nhằm thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế của cả nước từ 10% trở lên theo Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 22/5/2026.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030.
Chị thị nêu: Thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình); Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội, trong thời gian qua, các bộ, ngành trung ương và địa phương đã tập trung ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn để tổ chức thực hiện Chương trình.
Tuy nhiên, việc thực hiện Chương trình còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ đề ra: (1) Một số Bộ vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 và hướng dẫn các nội dung thuộc Chương trình; (2) Tình hình giải ngân vốn ngân sách nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác chỉ đạo, điều hành ở một số bộ, cơ quan, địa phương chưa thật sự quyết liệt, kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi còn chưa nghiêm, quá trình chuyển tiếp việc thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc giai giai đoạn 2021 - 2025 sang 01 Chương trình tích hợp chung từ năm 2026 đã phát sinh nhiều yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện.
Triển khai Chương trình đúng tiến độ, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền
Để bảo đảm triển khai Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 đồng bộ, hiệu quả thống nhất, kịp thời, phấn đấu giải ngân hết số vốn ngân sách trung ương năm 2025 của 03 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 được kéo dài sang năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần xác định việc tổ chức triển khai Chương trình là một trong các nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách, để dành thời gian tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên, liên tục. Phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức gắn với trách nhiệm người đứng đầu đối với từng nhiệm vụ, dự án với yêu cầu tiến độ cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện Chương trình đúng tiến độ, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong quá trình triển khai. Ưu tiên xử lý dứt điểm các nhiệm vụ, dự án còn dở dang, các nội dung có khả năng hoàn thành trong năm 2026 để đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả. Việc triển khai phải bảo đảm công khai, minh bạch, chất lượng, hiệu quả; không trùng lặp nhiệm vụ chi, trùng đối tượng hỗ trợ, không bố trí dàn trải, không phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản, thất thoát, lãng phí, tiêu cực. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm cấp tỉnh, cấp xã, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm làm chậm tiến độ triển khai Chương trình và giải ngân vốn.
Khẩn trương hoàn thành các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình theo phân công và phân cấp
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn nội dung tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới trước ngày 30 tháng 5 năm 2026; bảo đảm rõ nội dung, rõ phương pháp đánh giá, tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, công nhận kết quả.
Các Bộ: Nội vụ, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung của Chương trình trước ngày 30 tháng 5 năm 2026; bảo đảm thống nhất, khả thi, không làm phát sinh thủ tục không cần thiết, không chồng chéo nhiệm vụ chi, đối tượng hỗ trợ.
Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các cơ quan trung ương chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng văn bản hướng dẫn thuộc phạm vi được giao; chủ động xử lý theo thẩm quyền các nội dung còn có ý kiến khác nhau, không để chậm tiến độ triển khai Chương trình.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương kiện toàn Ban Chỉ đạo Chương trình, Cơ quan thường trực, giúp việc Ban Chỉ đạo Chương trình trước ngày 10 tháng 6 năm 2026. Tùy thuộc vào tình hình thực tế, nghiên cứu, thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình ở cấp xã (trên nguyên tắc không được phát sinh thêm tổ chức, biên chế).
Tập trung ưu tiên phân bổ cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiên cứu, xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 tập trung ưu tiên phân bổ ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo để giải quyết các vấn đề cấp thiết như: đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu để ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định trong tháng 6 năm 2026;
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ngành chức năng và Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản cụ thể hóa quy định, hướng dẫn của Trung ương phù hợp điều kiện thực tế của địa phương; kịp thời phát hiện, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, bảo đảm đủ điều kiện triển khai Chương trình trong tháng 6 năm 2026. Trong quá trình ban hành văn bản cụ thể hóa, địa phương phải bảo đảm nguyên tắc rõ trách nhiệm, công khai, minh bạch, dễ thực hiện, kiểm tra, giám sát.
Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách trung ương năm 2025 chuyển nguồn sang thực hiện năm 2026
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện và giải ngân ngân sách trung ương năm 2025 chuyển nguồn sang thực hiện năm 2026 trên địa bàn. Chậm nhất trước ngày 30 tháng 5 năm 2026, hoàn thành rà soát, xác định rõ các nhiệm vụ dở dang, chưa hoàn thành, hoặc có trong kế hoạch nhưng chưa kịp thực hiện trong năm 2025, có khả năng thực hiện, giải ngân trong năm 2026; vốn, kinh phí tiết kiệm sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ; không còn đối tượng để thực hiện nhiệm vụ hoặc còn nhiệm vụ nhưng không thực hiện được để xử lý theo quy định. Ưu tiên sử dụng ngân sách chuyển nguồn để hoàn thành dứt điểm các nhiệm vụ, dự án, nội dung còn dở dang, các nội dung khác còn đối tượng, nhu cầu thực hiện của cùng chương trình giai đoạn 2021 - 2025; trường hợp cần điều chỉnh thì chủ động quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định theo đúng quy định, không để vốn, kinh phí tiếp tục tồn đọng ở các nội dung không còn khả năng thực hiện. Chỉ đạo các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã, chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán; tập trung tháo gỡ các vướng mắc hoặc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Định kỳ, trước ngày 20 hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo tình hình thực hiện, giải ngân, khó khăn, vướng mắc và trách nhiệm xử lý về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng gửi Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo để tổng hợp theo phạm vi quản lý. Công khai tiến độ giải ngân, xem xét trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị chậm thực hiện hoặc để vốn không có khả năng giải ngân do nguyên nhân chủ quan.
Các bộ, cơ quan được giao dự toán, kế hoạch vốn chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thực hiện và giải ngân ngân sách nhà nước được giao. Khẩn trương rà soát, phân loại, xác định nhiệm vụ còn khả năng giải ngân, nhiệm vụ cần điều chỉnh, nội dung vượt thẩm quyền; chỉ đạo các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách hoàn thiện thủ tục, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán theo quy định. Đối với các nhiệm vụ chậm tiến độ, không còn khả năng thực hiện hoặc đề xuất điều chỉnh vốn, kinh phí, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương phải chỉ đạo xử lý theo thẩm quyền hoặc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; đồng thời làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra chậm trễ do nguyên nhân chủ quan. Định kỳ trước ngày 20 hằng tháng, báo cáo tình hình thực hiện, giải ngân, khó khăn, vướng mắc và trách nhiệm xử lý về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng gửi Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo để tổng hợp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện, giải ngân vốn ngân sách trung ương năm 2025 chuyển nguồn sang thực hiện năm 2026 của các bộ, ngành và địa phương; hằng tháng tổng hợp kết quả thực hiện, tiến độ giải ngân, khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp chung tình hình giải ngân vốn ngân sách nhà nước thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định; hướng dẫn, xử lý theo thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc về phân bổ, điều chỉnh, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công, kinh phí sự nghiệp.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện, giải ngân vốn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương, địa phương về mục tiêu, nhiệm vụ, địa bàn, đối tượng và nội dung chuyên môn thuộc phạm vi quản lý; tổng hợp khó khăn, vướng mắc thuộc lĩnh vực dân tộc, tôn giáo và địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp chung, đồng thời gửi Bộ Tài chính đối với nội dung liên quan đến tài chính, ngân sách.

Chính phủ ban hành Nghị định số 178/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý.
Nghị định này gồm 4 chương, 49 điều quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 12 Điều 8 Luật số 90/2025/QH15, gồm: Tài sản kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin và truyền thông, hạ tầng công nghiệp công nghệ số (bao gồm cả khu công nghệ số tập trung); tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch; tài sản kết cấu hạ tầng đô thị; tài sản kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; tài sản kết cấu hạ tầng đê điều; tài sản kết cấu hạ tầng cảng cá, khu neo đậu, khu tránh trú bão và tài sản kết cấu hạ tầng khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực hạ tầng tương ứng với tài sản kết cấu hạ tầng nêu trên, bộ quản lý chuyên ngành quy định, công bố, điều chỉnh danh mục chi tiết kèm theo đơn vị tính và các thông số cơ bản của từng loại tài sản kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình.
Phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng
Về khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, Nghị định quy định 4 phương thức khai thác chính như sau:
a) Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản trực tiếp tổ chức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng.
b) Chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng.
c) Cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng.
d) Chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành về hạ tầng có quy định phương thức khai thác khác (ngoài các phương thức quy định tại các điểm a, b, c và d nêu trên) thì việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng (gồm cả việc quản lý, sử dụng số tiền thu được) được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về hạ tầng đó.
Trường hợp áp dụng phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại các điểm b, c và d nêu trên mà phải thuê tư vấn lập đề án khai thác tài sản thì chi phí thuê tư vấn lập đề án khai thác tài sản được tạm ứng từ nguồn kinh phí chi thường xuyên của cơ quan, đơn vị quản lý tài sản và được trừ vào tiền thu được từ khai thác tài sản. Việc lựa chọn đơn vị tư vấn để lập đề án khai thác tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Nguồn thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng
Nghị định cũng quy định nguồn thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng gồm:
a) Phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
b) Tiền thu từ giá dịch vụ sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng, các khoản thu khác liên quan đến việc cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật và các dịch vụ khác quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều này, các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 17 Nghị định này.
c) Tiền thu từ chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng.
d) Các khoản thu khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định trong quá trình quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, trường hợp sử dụng tạm thời một phần tài sản kết cấu hạ tầng để tổ chức hoạt động văn hoá, thể thao, diễu hành, lễ hội hoặc các hoạt động khác theo quy định của pháp luật thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về hạ tầng và pháp luật khác có liên quan; không thực hiện việc khai thác theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng viễn thông của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 66.10/2025/NQ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ về sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng viễn thông của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; không thực hiện việc khai thác theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp xây dựng, lắp đặt công trình viễn thông, công trình cấp, thoát nước trên tài sản kết cấu hạ tầng (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này) thì việc xây dựng, lắp đặt các công trình này trên tài sản kết cấu hạ tầng thực hiện theo quy định của pháp luật về viễn thông, pháp luật về xây dựng, pháp luật chuyên ngành về hạ tầng và pháp luật khác có liên quan, không thực hiện việc khai thác theo quy định tại Nghị định này. Riêng việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc cho phép xây dựng, lắp đặt công trình viễn thông, công trình cấp, thoát nước trên tài sản kết cấu hạ tầng được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 Nghị định này.
Trường hợp cần thiết sử dụng một phần tài sản kết cấu hạ tầng kết hợp với tài sản khác nhằm nâng cao hiệu quả khai thác của các tài sản được kết hợp với nhau (sau đây gọi là khai thác hỗn hợp) theo đề nghị khai thác hỗn hợp của bộ, ngành, địa phương khác (Bên đề xuất khai thác hỗn hợp) thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Bên có tài sản kết cấu hạ tầng) quyết định việc khai thác hỗn hợp đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành về hạ tầng, pháp luật khác có liên quan đến tài sản đó.
Trong thời gian khai thác hỗn hợp, cơ quan, đơn vị quản lý tài sản có trách nhiệm quản lý, kế toán tài sản kết cấu hạ tầng, Bên có tài sản kết cấu hạ tầng và Bên đề xuất khai thác hỗn hợp có trách nhiệm phối hợp đảm bảo hoạt động bình thường của tài sản kết cấu hạ tầng, yêu cầu khác theo quy định của pháp luật và xác định cụ thể trách nhiệm của các bên liên quan (trong đó có trách nhiệm bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng). Việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ khai thác hỗn hợp của Bên có tài sản kết cấu hạ tầng được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 Nghị định này.
Trường hợp nhượng quyền để kinh doanh, quản lý tài sản kết cấu hạ tầng theo Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M) theo quy định của pháp luật thì trong thời gian thực hiện hợp đồng, việc nhượng quyền để kinh doanh, quản lý tài sản kết cấu hạ tầng thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư; không thực hiện việc khai thác theo quy định tại Nghị định này.
Các hình thức xử lý tài sản kết cấu hạ tầng
Ngoài ra, Nghị định quy định 9 hình thức xử lý tài sản kết cấu hạ tầng khi có sự thay đổi về quy hoạch, nhu cầu sử dụng, hư hỏng…, bao gồm:
1- Thu hồi.
2- Điều chuyển.
3- Chuyển giao tài sản về địa phương quản lý, xử lý.
4- Bán.
5- Sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao.
Việc sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
6- Thanh lý tài sản.
7. Xử lý tài sản trong trường hợp bị mất, bị hủy hoại.
8- Xử lý tài sản trong trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao tài sản cho doanh nghiệp quản lý.
9- Hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật.
Điều khoản chuyển tiếp
Nghị định nêu rõ: Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện rà soát, thống kê, phân loại và giao tài sản kết cấu hạ tầng theo quy định tại Nghị định này trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đối với tài sản kết cấu hạ tầng hiện có tại thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Đối với các hợp đồng khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đã được cơ quan, người có thẩm quyền ký kết theo đúng quy định của pháp luật trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định đến hết thời hạn của hợp đồng ký kết.
Đối với tài sản kết cấu hạ tầng đã được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định xử lý theo quy định của pháp luật trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; các công việc chưa thực hiện đến ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 06/7/2026.

Chính phủ ban hành Nghị định số 181/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 quy định về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nghị định này quy định về quản lý, sử dụng người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nguyên tắc quản lý người quản lý doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước
Theo Nghị định, việc quản lý người quản lý doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ.
Bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, bảo đảm phù hợp với quy định của cấp có thẩm quyền.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phân định rõ trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho người đại diện chủ sở hữu trực tiếp.
Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, kiểm soát viên không là cán bộ, công chức, viên chức.
Trường hợp một người đồng thời đảm nhiệm nhiều chức vụ thuộc thẩm quyền quản lý của các cấp khác nhau thì việc xem xét, quyết định do cấp có thẩm quyền quản lý chức vụ cao nhất thực hiện.
Thời hạn giữ chức vụ quản lý cho mỗi lần bổ nhiệm là 05 năm
Nghị định quy định thời hạn giữ chức vụ quản lý cho mỗi lần bổ nhiệm là 05 năm, tính từ thời điểm quyết định bổ nhiệm có hiệu lực, trừ trường hợp thời hạn dưới 05 năm theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Một cá nhân được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty không quá 02 nhiệm kỳ tại một doanh nghiệp, trừ trường hợp đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại doanh nghiệp đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu; trường hợp đã có thời gian làm việc tại doanh nghiệp thành viên thì được tính để cộng dồn vào thời gian làm việc liên tục.
Trường hợp khi hết 02 nhiệm kỳ nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu thì cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định bố trí công tác phù hợp.
Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm người quản lý doanh nghiệp nhà nước
Nghị định cũng quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm người quản lý doanh nghiệp nhà nước bao gồm:
1- Bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện chung theo quy định của Đảng, Nhà nước và tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể của chức vụ, chức danh bổ nhiệm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
2- Đối với nhân sự từ nguồn tại chỗ phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh bổ nhiệm hoặc chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Đối với nhân sự nguồn từ nơi khác phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trường hợp doanh nghiệp thành lập mới chưa thực hiện việc phê duyệt quy hoạch thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định.
3- Có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm liền kề hoặc chức vụ tương đương liền kề với chức vụ dự kiến bổ nhiệm tối thiểu là 01 năm (12 tháng), nếu không liên tục thì được cộng dồn (chỉ cộng dồn đối với thời gian giữ chức vụ tương đương).
Trường hợp trước khi bổ nhiệm đã có thời gian giữ chức vụ, chức danh được xác định là chức vụ, chức danh cao hơn, bằng, tương đương hoặc thấp hơn liền kề chức vụ, chức danh dự kiến bổ nhiệm thì thời gian đó được tính vào thời gian giữ chức vụ, chức danh tương đương để cộng dồn; không áp dụng đối với trường hợp thôi giữ chức vụ do bị xử lý kỷ luật.
Trường hợp đặc biệt chưa bảo đảm thời gian giữ chức vụ hoặc chưa giữ chức vụ liền kề do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4- Có hồ sơ, lý lịch cá nhân, bản kê khai tài sản, thu nhập đầy đủ, rõ ràng và được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xác minh.
5- Được cấp có thẩm quyền nhận xét, đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong 03 năm gần nhất. Trường hợp không đáp ứng tiêu chuẩn nêu trên vì lý do xếp loại doanh nghiệp do điều kiện khách quan thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm căn cứ vào mục tiêu phát triển của doanh nghiệp theo giai đoạn và theo từng năm tài chính để xem xét, quyết định việc bổ nhiệm.
6- Có kinh nghiệm công tác, hiểu biết chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, điều hành, thành tích, kết quả và sản phẩm cụ thể phù hợp với vị trí dự kiến bổ nhiệm.
7- Tuổi bổ nhiệm:
a) Nhân sự được đề nghị bổ nhiệm lần đầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc đề nghị bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn thì phải đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm; thời điểm tính tuổi bổ nhiệm thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
b) Nhân sự được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ mới tương đương hoặc thấp hơn chức vụ đang giữ thì không tính tuổi bổ nhiệm theo quy định tại điểm a nêu trên.
8- Đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
9- Không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của pháp luật; đang trong thời hạn xử lý kỷ luật; đang trong thời gian bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; thuộc trường hợp chưa xem xét bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Chính phủ ban hành Nghị định số 166/2026/NĐ-CP quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy
Nghị định quy định người tự nguyện xác định tình trạng nghiện ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy tự lựa chọn một trong các cơ sở sau: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phạm vi hoạt động chuyên môn về chuyên khoa nội hoặc chuyên khoa tâm thần hoặc y học gia đình; cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, điều trị nghiện các chất khác; cơ sở giám định pháp y tâm thần (cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy) thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy sau khi đăng ký với cơ quan công an cấp xã.
Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với người được đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy thuộc các trường hợp quy định tại điểm c, d, đ khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy thực hiện như sau:
- Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy được thực hiện tại nơi tạm giữ hành chính đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy được thực hiện tại cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy hoặc địa điểm do cơ quan công an cấp xã hoặc cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy (Cơ quan đề nghị) đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy thống nhất với cơ sở y tế lựa chọn đối với người không bị tạm giữ theo thủ tục hành chính. Cơ quan đề nghị có trách nhiệm phối hợp với cơ sở y tế bảo đảm đủ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy tại địa điểm được lựa chọn.
Hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy
Nghị định quy định về hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy như sau:
1- Đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy thì đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan công an cấp xã theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
2- Đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm c, d và điểm đ khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy thì:
- Giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ quan đề nghị lập theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
- Bản tóm tắt lý lịch người được đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
- Bản sao phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.
3- Đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính:
- Hồ sơ thực hiện theo quy định ở mục 2.
- Bản sao quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
Trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy tại cơ sở y tế xác định; tại nơi tạm giữ hành chính và tại địa điểm do cơ quan đề nghị thống nhất với cơ sở y tế lựa chọn.
Tại cơ sở y tế, việc nộp hồ sơ xác định tình trạng nghiện ma túy thực hiện như sau:
- Đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy, công an cấp xã gửi 1 bộ hồ sơ theo quy định tại mục 1 ở trên đến cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy.
- Đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm c, d và điểm đ khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống ma túy, Cơ quan đề nghị gửi 1 bộ hồ sơ theo quy định tại mục 2 đến cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy.
Nộp hồ sơ xác định tình trạng nghiện ma túy theo hình thức trực tiếp hoặc qua đường bưu chính hoặc trên môi trường điện tử.
Cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy có trách nhiệm:
- Tiếp nhận hồ sơ và người được đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy;
- Lập bệnh án theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;
- Thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế;
- Sau khi hoàn thành quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy lập Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này (Phiếu kết quả) thành 03 bản: 01 bản gửi cho người được xác định tình trạng nghiện ma túy hoặc cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi được xác định tình trạng nghiện ma túy; 01 bản gửi cơ quan đề nghị và 01 bản lưu hồ sơ bệnh án.
Hình thức trả kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy bằng bản giấy hoặc bản điện tử.
- Cơ quan đề nghị có trách nhiệm phối hợp với công an cấp xã và cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy bảo đảm an ninh, an toàn trong toàn bộ quá trình xác định tình trạng nghiện ma túy.
- Cơ quan đề nghị chịu trách nhiệm thanh toán chi phí xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 22/5/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân trong việc triển khai thi hành Luật, bảo đảm kể từ ngày 01/01/2027, Luật được triển khai thi hành đồng bộ, thống nhất, đầy đủ trên phạm vi cả nước.
Tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành pháp luật trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện nay.
Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về hoạt động trợ giúp pháp lý
Kế hoạch đưa ra các nội dung nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện như sau:
Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức rà soát, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý để phù hợp với quy định của Luật; phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp thực hiện việc rà soát, gửi Bộ Tư pháp tổng hợp kết quả rà soát, xây dựng báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện nhiệm vụ này ở cấp địa phương. Thời gian hoàn thành: Quý III, quý IV/ 2026.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và biện pháp bảo đảm thi hành trước ngày 15/9/2026.
Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và Thông tư liên tịch số 29/2025/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC- VKSNDTC.
Thời gian trình: trước ngày 31/10/2026.
Tổ chức hội nghị quán triệt và tập huấn triển khai thi hành Luật
Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị quán triệt nội dung của Luật và tập huấn triển khai thi hành Luật, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cho các bộ, ngành có liên quan; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và các sở, ban, ngành có liên quan.
Hình thức tổ chức: Trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp các hình thức.
Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV/2026.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức quán triệt và triển khai thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cho các cơ quan, đơn vị của ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Hình thức tổ chức: Trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp các hình thức.
Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026.
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, các bộ, ngành tổ chức tập huấn các nội dung mới của Luật và phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho đội ngũ cán bộ, công chức của các bộ, ban, ngành có liên quan. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Công an cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai nhiệm vụ này ở cấp địa phương.
Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026.
Tổ chức truyền thông, phổ biến nội dung của Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương xây dựng Kế hoạch truyền thông nhằm phổ biến rộng rãi các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đến người dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026.
Trong Quý III, IV/2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp biên soạn, phát hành tài liệu phục vụ công tác truyền thông, phổ biến các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam tổ chức các hoạt động truyền thông, phổ biến rộng rãi các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật thông qua các phương tiện truyền thông, chuyển đổi số và các hình thức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh triển khai nhiệm vụ này tại địa phương. Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026.
Trong Quý IV/2026, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các bộ, ngành có liên quan ở trung ương tổ chức thực hiện hội nghị và các sản phẩm truyền thông khác về những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật.
Rà soát người thuộc diện được trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương
Hằng năm, Bộ Tư pháp (ở trung ương) tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và những người có liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai nhiệm vụ này ở cấp địa phương.
Trong Quý IV/2026, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, thống kê người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; rà soát các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương bảo đảm Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu chuyên nghiệp ở địa phương; đánh giá nhu cầu thành lập các Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, thực trạng tổ chức và hoạt động của các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý tại địa phương và đề xuất giải pháp kiện toàn, phát triển mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của địa phương, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý một cách kịp thời, có chất lượng.
Năm 2027 và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp kiểm tra công tác tổ chức thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 về quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Nghị định này gồm 5 chương, 17 điều quy định chính sách học bổng cho người học chương trình đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, bao gồm: đối tượng áp dụng, chương trình đào tạo được hưởng chính sách học bổng; nguyên tắc, tiêu chuẩn, mức và thời gian cấp học bổng, thẩm quyền xét duyệt và chi trả học bổng; lập, phân bổ dự toán, quyết toán kinh phí thực hiện chính sách học bổng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý, thực hiện chính sách học bổng này.
Đối tượng áp dụng gồm:
Người học là công dân Việt Nam đang theo học hình thức đào tạo chính quy các chương trình đào tạo quy định tại Điều 3 của Nghị định này, bao gồm: sinh viên chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư, học viên chương trình đào tạo thạc sĩ; nghiên cứu sinh chương trình đào tạo tiến sĩ.
Cơ sở đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc quản lý, thực hiện chính sách học bổng.
Danh sách 15 nhóm ngành đào tạo có các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được hưởng chính sách học bổng gồm: sinh học; sinh học ứng dụng; khoa học vật chất; khoa học trái đất; toán học; thống kê; máy tính; công nghệ thông tin; kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường; vật lý kỹ thuật; kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa; kỹ thuật mỏ; xây dựng.
Tiêu chuẩn được hưởng học bổng
Nghị định quy định tiêu chuẩn được hưởng học bổng như sau:
1. Người học trúng tuyển vào chương trình đào tạo tài năng các trình độ của giáo dục đại học thuộc danh mục các chương trình đào tạo tài năng do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.
2. Người học trúng tuyển vào chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư về vi mạch bán dẫn thuộc danh sách các chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.
3. Người học trúng tuyển vào chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư các ngành thuộc nhóm ngành quy định tại Điều 3 của Nghị định này, đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Đạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế dành cho học sinh trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; thời gian đạt giải không quá 03 năm tính tới thời điểm xét duyệt;
b) Tổng điểm môn Toán và hai trong các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học và Tiếng Anh của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 22,50 trở lên theo thang điểm 30 không bao gồm điểm ưu tiên, điểm cộng và trúng tuyển thuộc nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành đào tạo trên phạm vi toàn quốc trong đợt xét tuyển chung của năm tuyển sinh.
4. Người học trúng tuyển vào chương trình đào tạo tích hợp trình độ đại học thạc sĩ đáp ứng các quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Người học được hưởng học bổng khi trúng tuyển chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ về vi mạch bán dẫn thuộc danh mục các chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt hoặc trúng tuyển chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ theo hình thức đào tạo chính quy tập trung toàn thời gian các ngành thuộc nhóm ngành quy định tại Điều 3 của Nghị định này.
Người học tiếp tục được hưởng học bổng khi không bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên trong kỳ xét cấp học bổng và đáp ứng yêu cầu sau:
Đối với sinh viên chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư, chương trình đào tạo tích hợp: kết quả học tập trung bình tích lũy của các năm học liền trước đạt loại khá trở lên và tích lũy tối thiểu 24 tín chỉ sau năm học đầu tiên, tối thiểu 28 tín chỉ trong một năm học kể từ năm học thứ hai;
Đối với học viên chương trình đào tạo thạc sĩ, chương trình đào tạo tích hợp: sau năm thứ nhất tích lũy tối thiểu 40% tổng số tín chỉ của chương trình đào tạo, có điểm trung bình tích lũy đạt tối thiểu 3,0 trở lên theo thang điểm 4 và có kết quả nghiên cứu và công bố khoa học theo quy định của cơ sở đào tạo;
Đối với nghiên cứu sinh chương trình đào tạo tiến sĩ: có kết quả nghiên cứu và công bố khoa học theo quy định của cơ sở đào tạo.
Người học được hưởng học bổng theo Nghị định này không được chuyển sang ngành hoặc chương trình đào tạo không thuộc đối tượng được hưởng chính sách học bổng theo quy định tại Điều 3 của Nghị định này, trừ trường hợp có lý do khách quan, bất khả kháng theo quy định của cơ sở đào tạo. Trường hợp chuyển ngành hoặc chuyển chương trình đào tạo dẫn đến không còn thuộc đối tượng được hưởng chính sách học bổng thì phải hoàn trả ngân sách nhà nước phần kinh phí học bổng đã được hỗ trợ thông qua cơ sở đào tạo.
Thời gian hưởng học bổng tối đa đối với mỗi trình độ đào tạo bằng thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo.
Mức học bổng
Nghị định quy định mức học bổng theo tháng được quy định theo trình độ đào tạo và nhóm chương trình, ngành đào tạo như sau:
Đối với sinh viên trình độ đại học:
Chương trình đào tạo tài năng: 5.500.000 đồng/tháng;
Chương trình đào tạo ngành vi mạch bán dẫn, các ngành khoa học cơ bản: 4.200.000 đồng/tháng;
Chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược: 3.700.000 đồng/tháng.
Chương trình đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thuộc các nhóm ngành đào tạo.
Đối với học viên trình độ thạc sĩ:
Chương trình đào tạo tài năng: 7.400.000 đồng/tháng;
Chương trình đào tạo ngành vi mạch bán dẫn, các ngành khoa học cơ bản: 6.300.000 đồng/tháng;
Chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược: 5.500.000 đồng/tháng.
Đối với nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ:
Chương trình đào tạo tài năng, chương trình đào tạo ngành vi mạch bán dẫn, các ngành khoa học cơ bản: 8.400.000 đồng/tháng;
Chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược: 7.400.000 đồng/tháng.
Thời gian hưởng học bổng
Về thời gian hưởng học bổng, Nghị định quy định:
Sinh viên được hưởng học bổng 10 tháng/năm; tổng thời gian hưởng học bổng không quá 04 năm với chương trình đào tạo cử nhân và không quá 05 năm với chương trình đào tạo kỹ sư có tổng số tín chỉ từ 150 trở lên;
Học viên cao học được hưởng học bổng 12 tháng/năm; tổng thời gian hưởng học bổng không quá 02 năm;
Nghiên cứu sinh được hưởng học bổng 12 tháng/năm; tổng thời gian hưởng học bổng không quá 03 năm đối với nghiên cứu sinh có đầu vào trình độ thạc sĩ, không quá 04 năm đối với nghiên cứu sinh có đầu vào trình độ đại học;
Người học chương trình đào tạo tích hợp trình độ đại học thạc sĩ được hưởng học bổng 12 tháng/năm trong thời gian không quá 3 năm theo chế độ sinh viên đại học và không quá 2 năm theo chế độ học viên cao học.
Nghị định nêu rõ: Cơ sở đào tạo xét duyệt và chi trả học bổng thực hiện định kỳ theo năm học trên cơ sở kết quả tuyển sinh, kết quả học tập và rèn luyện của người học do cơ sở đào tạo quản lý; việc chi trả được thực hiện theo từng tháng và số tháng thực học của người học, bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch; cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện trên cơ sở sử dụng dữ liệu sẵn có, không yêu cầu người học nộp hồ sơ và không làm phát sinh thủ tục hành chính.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026.
Chính sách học bổng quy định tại Nghị định này được áp dụng cho đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi, thời điểm cấp học bổng tính từ ngày 01/9/2026.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 909/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Phạm vi quy hoạch là toàn bộ không gian theo địa giới hành chính của thành phố Cần Thơ, bao gồm 103 đơn vị hành chính cấp xã (Nghị quyết số 1668/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội), và khu vực không gian biển có liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng 6.360,98 km² (theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp Tỉnh) và phạm vi quy hoạch trên biển phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Phát triển thành phố Cần Thơ trở thành cực tăng trưởng, đô thị hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long
Mục tiêu quy hoạch là cụ thể hóa định hướng phát triển thành phố Cần Thơ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và vùng đồng bằng sông Cửu Long; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh.
Phát triển thành phố Cần Thơ trở thành cực tăng trưởng, đô thị hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long với không gian phát triển mở rộng hướng biển; cửa ngõ xuất nhập khẩu đường biển gắn với cảng biển đặc biệt Trần Đề; liên kết trung tâm tiểu vùng theo các hành lang kinh tế, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực để tiếp tục phát triển thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm của vùng về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp thông minh, ứng dụng công nghệ cao, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu, văn hóa, thể thao.
Phát triển thành phố Cần Thơ gắn với bản sắc văn hoá sông nước, tiềm năng, lợi thế của trung tâm vùng kinh tế biển trong phát triển đô thị và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long; có cơ sở hạ tầng đồng bộ, kết nối hiệu quả với các hành lang kinh tế; bảo đảm liên kết vùng, quốc gia và quốc tế; hoàn thiện chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu vùng hạ lưu sông Mê Kông.
Phát triển thành phố Cần Thơ trở thành đô thị sông - nước gắn với các hạ tầng tự nhiên (kênh rạch, sông, biển) hiện đại, đặc sắc của Đông Nam Á, là "Cửa ngõ Mê Kông xanh - thông minh - giàu bản sắc"; trung tâm năng lượng, logistics sông - biển và dịch vụ đô thị cao cấp của vùng, công nghiệp xanh - tuần hoàn, dẫn dắt chuỗi giá trị nông nghiệp phát thải thấp; phát triển xã hội tri thức, văn minh, người dân có chất lượng sống cao, môi trường an toàn, hạ tầng hiện đại, kết nối thông minh và bền vững.
Thiết lập cấu trúc không gian phát triển, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, sử dụng đất quy hoạch và bảo vệ môi trường nhằm phát huy tối đa việc thực hiện những chiến lược về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng mà Quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, Quy hoạch thành phố đã xác định.
Tầm nhìn đến năm 2075 Cần Thơ là thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long; thuộc nhóm các thành phố phát triển khá ở Châu Á; Thành phố phát triển toàn diện, bền vững, thích ứng và có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái phát triển hài hòa với cảnh quan tự nhiên, trở thành điểm đến có sức hấp dẫn cao trên bản đồ du lịch Thế giới.
Đến năm 2050, tổng quy mô dân số toàn thành phố khoảng 6,1 triệu người
Về quy mô dân số, dự kiến đến năm 2050, tổng quy mô dân số toàn thành phố là khoảng 6,1 triệu người; trong đó dân số thực tế thường trú là khoảng 4,1 triệu người.
Về quy mô đất đai, đất xây dựng đô thị dự báo đến năm 2050 là khoảng 85.000 ha - 112.000 ha.
Rà soát, xác định rõ vị thế, mối quan hệ vùng của thành phố Cần Thơ
Một trong các yêu cầu nghiên cứu đối với nội dung quy hoạch là phân tích vị trí, vai trò và các mối liên hệ vùng.
Cụ thể, rà soát, xác định rõ vị thế, mối quan hệ vùng của thành phố Cần Thơ trong bối cảnh khu vực, trong nước và vùng, mạng lưới đô thị quốc gia gắn với tình hình mới (sắp xếp đơn vị hành chính; điều chỉnh quy hoạch các ngành kết cấu hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, việc đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội…).
Phân tích mối quan hệ vùng của thành phố Cần Thơ trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Thành phố Hồ Chí Minh, trong hệ thống đô thị Quốc gia, trên trục hành lang kinh tế - đô thị Cần Thơ - Mỹ Tho - Thành phố Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Châu Đốc - Trần Đề, trong khu vực và quốc tế; làm rõ các nhiệm vụ về kết cấu hạ tầng và xác định cấu trúc không gian đô thị, sử dụng đất quy hoạch để thành phố phát triển mở rộng hướng biển, là trung tâm và đầu mối của vùng kinh tế biển, gắn với kết nối hành lang ven biển, trung tâm cảng biển, logistics, là cửa ngõ ra biển của vùng, liên kết trung tâm tiểu vùng theo các hành lang kinh tế.
Nghiên cứu, xác định các nội dung của thành phố Cần Thơ được quy định tại hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định 616/QĐ-TTg năm 2026 và Quyết định 287/QĐ-TTg năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ) để đánh giá vị trí, tính chất và vai trò của thành phố Cần Thơ mới sau sáp nhập.
Xác định mô hình, cấu trúc không gian tổng thể toàn thành phố có bản sắc của đô thị sông - nước gắn với các hạ tầng tự nhiên
Về mô hình, định hướng phát triển cấu trúc không gian đô thị, xác định, lựa chọn phương án cơ cấu phát triển không gian đô thị - nông thôn trên cơ sở nguyên tắc, tiêu chí phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên, địa hình của thành phố Cần Thơ; từ đó, xác định mô hình, cấu trúc không gian tổng thể toàn thành phố có bản sắc của đô thị sông - nước gắn với các hạ tầng tự nhiên (kênh rạch, sông, biển), phù hợp với mô hình phát triển và cấu trúc không gian của vùng đồng bằng sông Cửu Long, kết nối các đô thị trọng điểm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Thành phố Hồ Chí Minh.
Xác định phạm vi ranh giới và định hướng phát triển không gian đối với khu vực đô thị và nông thôn phù hợp với phương án phát triển đô thị tại Quy hoạch thành phố Cần Thơ và định hướng dài hạn, nhằm bảo vệ và gia tăng giá trị và bản sắc riêng của thành phố Cần Thơ, tạo điều kiện thu hút đầu tư cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị.
Định hướng tổ chức không gian gồm các khu chức năng; khu vực trọng tâm phát triển; khu vực có ý nghĩa quan trọng quốc gia về chính trị, văn hóa, lịch sử, an ninh, quốc phòng; hệ thống trung tâm hành chính, đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao và trung tâm chuyên ngành khác theo cấp quốc gia, cấp vùng, cấp thành phố.
Định hướng tổ chức phân vùng kiến trúc cảnh quan; không gian cây xanh mặt nước, khu vực cửa ngõ, trục không gian chính, điểm nhấn thành phố; bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa.
Cụ thể hóa các giá trị đặc trưng của hệ sinh thái, giá trị lịch sử, bản sắc văn hóa sông nước và kiến trúc vùng đồng bằng sông Cửu Long trong định hướng tổ chức không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, sử dụng đất quy hoạch, đồng thời bảo đảm khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tăng khả năng chống chịu và phòng chống thiên tai.
Định hướng hạ tầng kỹ thuật và phát triển không gian ngầm phù hợp với điều kiện thành phố Cần Thơ thuộc khu vực chịu tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu
Về định hướng hạ tầng kỹ thuật và phát triển không gian ngầm, Quyết định nêu rõ, định hướng hạ tầng kỹ thuật và phát triển không gian ngầm phù hợp với điều kiện thành phố Cần Thơ thuộc khu vực chịu tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu (hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng, sụt lún…).
Cụ thể, xác định nhu cầu sử dụng, phát triển giao thông, mạng lưới giao thông chính cấp đô thị (bao gồm các phương thức giao thông phù hợp với đặc thù của đô thị sông - nước); xác định vị trí, quy mô các công trình đầu mối giao thông chính phù hợp với từng giai đoạn quy hoạch; đề xuất ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông minh, các công cụ hỗ trợ trong quản lý, phát triển hạ tầng giao thông.
Đề xuất phát triển phương thức giao thông công cộng hiện đại (tàu thủy, xe buýt nhanh/thường, đường sắt đô thị…) kết nối hiệu quả các khu chức năng của thành phố; nghiên cứu hệ thống cầu, hầm chui kết nối đô thị qua các hệ thống sông tại các khu vực trung tâm đô thị; quy hoạch giao thông tĩnh bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng và tính đến nhu cầu sử dụng không gian đối với phương tiện giao thông xanh.
Xác định nhu cầu, lưu vực và hướng thoát nước chính phù hợp với từng giai đoạn quy hoạch; đề xuất các giải pháp phòng, chống ngập lụt, quản lý lũ, vị trí và quy mô các công trình tiêu thoát nước; đề xuất định hướng, nguyên tắc và các nhóm giải pháp về quản lý cao độ nền và thoát nước mặt toàn thành phố, trong đó chú trọng xem xét các tác động của hiện tượng sụt lún nền đất và biến đổi khí hậu. Khi đề xuất các giải pháp và dự án quản lý hệ thống thủy lợi phải bảo đảm tính toán các yếu tố phát huy giao thông thủy - là phương thức vận tải đặc thù của thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Xác định nhu cầu, nguồn cung cấp nước cho đô thị, nông thôn, khu công nghiệp và các khu chức năng khác phù hợp với từng giai đoạn quy hoạch; mối quan hệ cấp nước vùng; dự kiến vị trí quy mô, công suất của các công trình đầu mối và mạng lưới phân phối chính của hệ thống cấp nước.
Bên cạnh đó, xác định nhu cầu, nguồn cung cấp năng lượng, vị trí, quy mô các công trình đầu mối và các tuyến truyền tải, phân phối chính của hệ thống cấp năng lượng, chiếu sáng đô thị phù hợp với từng giai đoạn quy hoạch. Nghiên cứu bố trí hợp lý hệ thống hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt và các loại hình năng lượng khác...

Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 21/5/2026 về việc tiếp nhận, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm ông Nguyễn Huy Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 21/5/2026./.