• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026.

19/05/2026 18:30

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống đuối nước đối với trẻ em

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Công điện số 40/CĐ-TTg ngày 19/5/2026 về tăng cường công tác phòng, chống đuối nước đối với trẻ em.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 1.

Đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng chống đuối nước cho trẻ em.

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố; Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

UBND tỉnh Phú Thọ, Đắk Lắk nỗ lực tìm kiếm học sinh mất tích, hỗ trợ và động viên gia đình học sinh gặp nạn

Công điện nêu, vừa qua đã liên tiếp xảy ra các vụ đuối nước trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk và Phú Thọ. Thời gian tới đây là dịp nghỉ hè và mùa mưa bão, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tai nạn, thương tích và đuối nước trẻ em.

Để sớm khắc phục hậu quả và chủ động phòng ngừa tai nạn đuối nước đối với trẻ em, học sinh trên phạm vi cả nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Ủy ban nhân dân các tỉnh Phú Thọ, Đắk Lắk khẩn trương chỉ đạo các lực lượng chức năng nỗ lực tìm kiếm các em học sinh còn mất tích và tổ chức hỗ trợ, thăm hỏi, động viên các gia đình có học sinh gặp nạn.

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố:

a) Chỉ đạo các cơ sở giáo dục trên địa bàn quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn và phòng, chống đuối nước cho trẻ em, học sinh.

b) Chỉ đạo rà soát, cảnh báo kịp thời các địa điểm có nguy cơ gây tai nạn đuối nước tại địa bàn và chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa, khắc phục.

c) Tập trung đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc tổ chức dạy bơi an toàn, kỹ năng an toàn trong môi trường nước cho trẻ em; tăng cường truyền thông về trách nhiệm của gia đình trong việc quản lý, giám sát trẻ em, không để tiếp xúc với các nguồn nước có nguy cơ gây đuối nước; phổ biến kỹ năng phòng, chống đuối nước cho cha mẹ, trẻ em, học sinh.

d) Tăng cường kiểm tra việc thực hiện công tác phòng, chống đuối nước trẻ em, học sinh tại các cơ sở giáo dục, các cơ quan, tổ chức, chính quyền các cấp.

Đẩy mạnh phong trào dạy bơi an toàn, kỹ năng an toàn trong môi trường nước cho học sinh

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo:

a) Hướng dẫn triển khai thực hiện việc giáo dục kiến thức, kỹ năng phòng, chống đuối nước cho trẻ em, học sinh; đẩy mạnh phong trào dạy bơi an toàn, kỹ năng an toàn trong môi trường nước cho học sinh; đồng thời tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức về phòng, chống đuối nước và công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong việc quản lý trẻ em, học sinh, nhất là trong thời gian nghỉ hè.

b) Khẩn trương rà soát, cập nhật, hoàn thiện chương trình, tài liệu và tổ chức dạy bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục phổ thông.

4. Bộ Y tế tăng cường đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm chương trình phòng chống tai nạn, thương tích, phòng, chống đuối nước cho trẻ em. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện công tác phòng, chống đuối nước trẻ em tại các địa phương, nhất là các địa phương thường xuyên xảy ra đuối nước trẻ em.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục kiến thức kỹ năng phòng chống đuối nước

5. Đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương:

a) Chỉ đạo định hướng và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục kiến thức kỹ năng phòng chống đuối nước, dạy bơi an toàn cho trẻ em, học sinh trong trường học và tại cộng đồng dân cư.

b) Chỉ đạo hệ thống báo chí tăng thời lượng phát sóng, đăng tải nội dung về phòng chống đuối nước, dạy bơi an toàn cho trẻ em, học sinh.

6. Đề nghị Uỷ ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức thành viên liên quan chủ động đề xuất, phối hợp triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức kỹ năng phòng chống đuối nước, dạy bơi an toàn cho trẻ em, học sinh trong trường học và tại cộng đồng dân cư.

Bộ Y tế theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện.

Quy định về thanh toán, quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước

Chính phủ ban hành Nghị định số 157/2026/NĐ-CP quy định về thanh toán, quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 2.

Cấp bù lãi suất cho ngân hàng thương mại thực hiện tín dụng ưu đãi của Nhà nước

Nguyên tắc cấp bù lãi suất

Nghị định quy định việc cấp bù lãi suất phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh trục lợi chính sách.

Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước.

Ngân hàng thương mại thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước đảm bảo đúng quy định, tạo thuận lợi cho khách hàng.

Các khoản vay được cấp bù lãi suất phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được cấp bù lãi suất theo quy định của pháp luật, có đầy đủ chứng từ hợp pháp.

Thực hiện thanh toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất

Nghị định quy định trước ngày 20 của tháng đầu tiên hằng quý, ngân hàng thương mại gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hồ sơ đề nghị thanh toán số tiền cấp bù lãi suất đã thực hiện, riêng hồ sơ của quý IV hằng năm gửi trước ngày 05 tháng 01 năm kế tiếp.

Thành phần hồ sơ bao gồm: Văn bản đề nghị thanh toán số tiền cấp bù lãi suất, trong đó ghi rõ số tiền ngân hàng thương mại đã hỗ trợ lãi suất cho khách hàng, số tiền đề nghị thanh toán cấp bù lãi suất, tài khoản nhận tiền của ngân hàng thương mại; Báo cáo về tình hình thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với khách hàng của ngân hàng thương mại; Bảng kê chứng từ chứng minh khách hàng đã được hỗ trợ lãi suất.

Số lượng hồ sơ: 01 bản.

Hình thức gửi hồ sơ (theo một trong các cách sau): gửi trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc gửi qua Cổng dịch vụ công quốc gia.

Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ đề nghị của ngân hàng thương mại chưa hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi thông báo bằng văn bản cho ngân hàng thương mại trong vòng 05 ngày làm việc để hoàn thiện hồ sơ. Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rà soát, tổng hợp số tiền đề nghị thanh toán của ngân hàng thương mại.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lập hồ sơ đề nghị thanh toán cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại và gửi Kho bạc Nhà nước.

Kho bạc Nhà nước tiếp nhận, kiểm tra các thông tin trên hồ sơ đề nghị thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong phạm vi kế hoạch vốn đầu tư công hằng năm được giao, phạm vi tồn quỹ ngân sách để làm thủ tục thanh toán cho ngân hàng thương mại; đồng thời, gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 01 liên chứng từ (chứng từ báo Nợ) để xác nhận đã thực hiện thanh toán.

Trường hợp Kho bạc Nhà nước từ chối đề nghị thanh toán, Kho bạc Nhà nước gửi thông báo từ chối chấp thuận thanh toán khoản chi ngân sách nhà nước (trong đó nêu rõ lý do từ chối) cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Thời hạn giải quyết trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày Kho bạc Nhà nước nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tổng số tiền thanh toán cho các ngân hàng thương mại theo quy định ở trên trong năm ngân sách không vượt quá số giao kế hoạch đầu tư công cấp bù lãi suất đã thông báo trong năm.

Trường hợp số tiền cấp bù lãi suất trong năm thực tế phát sinh nhỏ hơn số dự toán được bố trí, phần chênh lệch bố trí dự toán thừa thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Nghị định này và các văn bản pháp luật có liên quan.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để nhận dự toán ngân sách nhà nước cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi cho các ngân hàng thương mại.

Quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại theo năm ngân sách (quyết toán theo niên độ)

Nghị định quy định việc lập báo cáo quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại theo năm ngân sách (quyết toán theo niên độ) phải bảo đảm các yêu cầu theo quy định tại Điều 67 Luật Ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn.

Ngân hàng thương mại có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán cấp bù lãi suất, trong đó xác định chính xác số tiền cấp bù lãi suất cho từng khách hàng và tổng hợp chung của cả ngân hàng thương mại gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Số tiền cấp bù lãi suất quyết toán được xác định như sau:

Số tiền cấp bù lãi suất thực tế thanh toán cho một khoản giải ngân được tính theo công thức:

I = Mức lãi suất hỗ trợ (%) x ∑(Di x Ti)/365

Trong đó: I là số tiền cấp bù lãi suất thực tế thanh toán cho khoản giải ngân;

∑(Di x Ti) là tổng các tích số giữa số dư nợ với số ngày dư nợ thực tế được cấp bù lãi suất của khoản giải ngân.

Số tiền cấp bù lãi suất thực tế thanh toán cho một khoản vay là tổng số tiền lãi thực tế thanh toán cho tất cả các khoản giải ngân của khoản vay đó.

Số tiền cấp bù lãi suất thực tế đề nghị ngân sách nhà nước thanh toán là tổng số tiền lãi thực tế thanh toán cho tất cả các khoản vay thuộc đối tượng được cấp bù lãi suất.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiểm tra về tính đầy đủ, khớp đúng của các số liệu tại hồ sơ quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất theo năm ngân sách của từng ngân hàng thương mại, thực hiện xét duyệt quyết toán theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật Ngân sách nhà nước, Điều 32 Nghị định số 73/2026/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước và ra thông báo xét duyệt quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại theo năm ngân sách.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp báo cáo quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất của ngân hàng thương mại theo năm ngân sách gửi Bộ Tài chính trước ngày 05 tháng 7 năm sau.

Bộ Tài chính kiểm tra báo cáo tổng hợp quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất theo năm ngân sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tính đầy đủ, khớp đúng giữa các số liệu quyết toán với xác nhận của Kho bạc nhà nước.

Xử lý thu hồi số tiền đã cấp bù lãi suất

Nghị định quy định trong quá trình thực hiện, trường hợp phát hiện khoản vay của khách hàng được xác định không thuộc đối tượng, sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc không đáp ứng điều kiện được hỗ trợ lãi suất theo quy định của pháp luật, ngân hàng thương mại thu hồi toàn bộ số tiền đã hỗ trợ lãi suất cho khách hàng.

Trường hợp thu hồi số tiền đã hỗ trợ lãi suất cho khách hàng trong thời gian chính sách hỗ trợ lãi suất còn hiệu lực, số tiền thu hồi được bù trừ vào số tiền ngân sách nhà nước thanh toán cho ngân hàng. Trường hợp chính sách hỗ trợ lãi suất hết hiệu lực và ngân sách nhà nước đã thanh toán thì ngân hàng thương mại phải hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền cấp bù lãi suất tương ứng.

Ngân hàng thương mại thực hiện hoàn trả ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và gửi văn bản cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính về việc thu hồi và hoàn trả ngân sách nhà nước để theo dõi.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số

Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 3.

Từ 1/7, phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng

Trong đó, Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 2 Điều 14, khoản 5 Điều 18, điểm a khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 25 Luật Dân số bao gồm: Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai; mức hỗ trợ tài chính và trình tự, thủ tục thực hiện việc hỗ trợ tài chính khi sinh con theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Dân số; phạm vi, đối tượng, mức hỗ trợ khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh theo lộ trình ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Dân số...

Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai

Về điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, Nghị định quy định lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số thuộc các trường hợp sau:

- Lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống;

- Lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.

Nghị định cũng nêu rõ: Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội không được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai theo quy định ở trên.

Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ quy định ở trên.

Mức hỗ trợ tài chính khi sinh con

Nghị định quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2.000.000 đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:

a- Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;

b- Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;

c- Phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi.

Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp a,b,c ở trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.

Trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định trên cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.

Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Kinh phí hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.

Phụ nữ mang thai được khám, sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản

Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.

Nghị định quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh) (gói dịch vụ sàng lọc trước sinh).

Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh đủ 05 bệnh cơ bản: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).

Mức hỗ trợ khám sàng lọc

Nghị định cũng quy định rõ mức hỗ trợ tài chính, phương thức thực hiện, lộ trình ưu tiên khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh. Cụ thể:

Mức hỗ trợ tài chính, phương thức thực hiện:

- Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.

Mức hỗ trợ trên được chi trả trực tiếp cho cơ sở y tế thu thập mẫu và cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật sàng lọc.

Phương thức thực hiện khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh thực hiện theo quy định pháp luật về giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên. Đối với cơ sở thực hiện sàng lọc trước sinh, sơ sinh khi được Nhà nước đặt hàng giao hoặc nhiệm vụ mà chưa đủ năng lực thực hiện toàn bộ gói dịch vụ thì được phép ký hợp đồng hỗ trợ chuyên môn với các cơ sở y tế khác đáp ứng đủ năng lực chuyên môn.

Lộ trình ưu tiên:

Từ ngày 1/7/2026 đến ngày 31/12/2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn; xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ nguồn ngân sách nhà nước.

Từ ngày 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ ngân sách nhà nước của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035 đến khi danh mục các bệnh khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh được cấp có thẩm quyền quy định trong danh mục bệnh được hưởng bảo hiểm y tế theo lộ trình tăng mức đóng bảo hiểm y tế và khả năng cân đối quỹ bảo hiểm y tế.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Dẫn độ 

Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Dẫn độ. Trong đó, đáng chú ý là các quy định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ. 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 4.

Trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ.

Các trường hợp xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại

Về áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ, Nghị định quy định Bộ Công an xem xét, quyết định chấp nhận áp dụng nguyên tắc này trong các trường hợp sau:

a) Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản chấp nhận;

b) Trước đó, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chưa hợp tác dẫn độ nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại.

Bộ Công an xem xét, quyết định từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong trường hợp Bộ Công an có đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã có văn bản từ chối. Trong trường hợp này, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Nghị định này trước khi quyết định.

Việc cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài phải được lập bằng văn bản. Cam kết này có thể được lập thành văn bản độc lập hoặc là nội dung trong văn bản yêu cầu dẫn độ.

Trình tự, thủ tục quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong trường hợp Việt Nam là nước được yêu cầu dẫn độ

Nghị định quy định khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra nội dung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ chưa có nội dung cam kết, Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung văn bản cam kết.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ hợp lệ kèm theo nội dung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Công an đánh giá nội dung cam kết đó với các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật Dẫn độ. Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định. Trường hợp từ chối, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này và nêu rõ lý do.

Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ có thể ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, đối ngoại của Việt Nam với nước yêu cầu dẫn độ hoặc bên thứ ba, các cơ quan có liên quan thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, các cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời Bộ Công an;

c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Công an quyết định về việc chấp nhận hoặc từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định. Trường hợp từ chối, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.

Trình tự, thủ tục quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ

Nghị định quy định trường hợp nước ngoài đề nghị Việt Nam bổ sung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đánh giá nội dung cam kết đó với các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật Dẫn độ.

Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an có văn bản cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại và chuyển văn bản này đến nước ngoài. Trường hợp từ chối, Bộ Công an chuyển thông báo này đến nước ngoài và nêu rõ lý do. Bộ Công an chuyển các văn bản này theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.

Trường hợp đề nghị của nước ngoài có tính chất phức tạp hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, đối ngoại của Việt Nam với nước yêu cầu dẫn độ hoặc bên thứ ba, các cơ quan có liên quan thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, các cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời Bộ Công an;

c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Công an quyết định về việc chấp nhận hoặc từ chối cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại và chuyển văn bản này cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.

9 điều kiện trong dẫn độ

Nghị định quy định các điều kiện cần phải đáp ứng và cam kết thực hiện trong dẫn độ được quy định tại Điều 13 của Luật Dẫn độ gồm:

1. Các thông tin và tài liệu nêu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ là chính xác, đúng sự thật; được thu thập và ban hành đúng thẩm quyền, tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật của nước yêu cầu dẫn độ.

2. Người có tên trong các quyết định tố tụng hình sự chính là người đã thực hiện hành vi phạm tội bị nêu trong yêu cầu dẫn độ.

3. Hành vi phạm tội bị nêu trong yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm liên quan đến chính trị.

4. Người bị yêu cầu dẫn độ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lý do chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, quốc tịch, dân tộc hoặc vì các quan điểm chính trị hoặc địa vị xã hội của người đó.

5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không thi hành án đối với người bị yêu cầu dẫn độ tại nước yêu cầu dẫn độ vì một tội khác với tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ được thực hiện trước khi bị dẫn độ hoặc không bị dẫn độ cho bên thứ ba, trừ các trường hợp được quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 15 của Luật Dẫn độ.

6. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án đối với người bị yêu cầu dẫn độ chưa hết.

7. Người bị yêu cầu dẫn độ không được miễn trách nhiệm hình sự, không được miễn chấp hành hình phạt.

8. Sau khi bị dẫn độ về nước yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ sẽ được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp theo các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, pháp luật của nước yêu cầu dẫn độ.

9. Các điều kiện khác theo thỏa thuận của nước yêu cầu dẫn độ và nước được yêu cầu dẫn độ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 5.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với người xuất cảnh không khai/khai sai số tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định.

Nghị định này gồm 4 chương, 40 điều quy định hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực hải quan.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan quy định tại Nghị định này bao gồm: Vi phạm các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan; vi phạm các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; vi phạm các quy định của pháp luật khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng cho các đối tượng sau:

1. Tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại các Điều 28, 29, 30, 31, 32, 33 Nghị định này.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này.

4. Tổ chức quy định tại khoản 1 nêu trên gồm:

a) Doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam;

b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác;

c) Tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

đ) Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;

e) Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

5. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với người xuất cảnh không khai/khai sai số tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định

Về vi phạm quy định về khai hải quan của người xuất cảnh, nhập cảnh đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý khác, đá quý, Nghị định quy định:

1. Người xuất cảnh bằng hộ chiếu hoặc bằng các loại giấy tờ khác có giá trị thay cho hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp, giấy thông hành mà không khai hoặc khai sai số ngoại tệ tiền mặt thuộc loại tiền được phép mang theo, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định khi xuất cảnh thì bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 5.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng Việt Nam;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 30.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng Việt Nam;

c) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Việt Nam;

d) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt đến 20 triệu đồng đối với người nhập cảnh không khai/khai sai số tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định

2. Người nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc bằng các loại giấy tờ khác có giá trị thay cho hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp, giấy thông hành mà không khai hoặc khai sai số ngoại tệ tiền mặt thuộc loại tiền được phép mang theo, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định khi nhập cảnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng Việt Nam;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Việt Nam;

c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Vi phạm quy định tại khoản 2 nêu trên mà số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng đã khai nhiều hơn số lượng thực tế mang theo thì xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với trường hợp số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng đã khai nhiều hơn số lượng thực tế mang theo có trị giá tương đương từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng Việt Nam;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với trường hợp số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng đã khai nhiều hơn số lượng thực tế mang theo có trị giá tương đương từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Việt Nam;

c) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với trường hợp số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, vàng đã khai nhiều hơn số lượng thực tế mang theo có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với người xuất, nhập cảnh không khai/khai sai khi mang theo loại tiền không được phép

4. Người xuất cảnh, nhập cảnh bằng giấy thông hành mang theo ngoại tệ tiền mặt thuộc loại tiền không được mang theo mà không khai hoặc khai sai thì bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng Việt Nam;

b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với trường hợp tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Việt Nam;

c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với trường hợp tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với người xuất, nhập cảnh không khai/khai sai số kim loại quý, đá quý mang theo

5. Người xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc bằng các loại giấy tờ khác có giá trị thay cho hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp, giấy thông hành mang theo kim loại quý khác, đá quý, công cụ chuyển nhượng theo quy định phải khai hải quan khi xuất cảnh, nhập cảnh mà không khai hoặc khai sai thì bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 5.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng Việt Nam;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng Việt Nam;

c) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Việt Nam;

d) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Trị giá tang vật vi phạm tại Điều này là trị giá sau khi đã trừ đi trị giá ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý khác, đá quý không phải khai hải quan theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; bãi bỏ Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và Điều 2 Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn; hải quan; kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số; quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; Kho bạc Nhà nước; kế toán; kiểm toán độc lập.

Tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký văn bản số 530/TTg-NN ngày 19/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 6.

Tập trung hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026

Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách, phải hoàn thành trong năm 2026 theo yêu cầu của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 và đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13 tháng 02 năm 2026 và Thông báo số 239/TB-VPCP ngày 8 tháng 5 năm 2026. Mặc dù địa phương đã có nhiều nỗ lực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, tuy nhiên thời gian cho việc triển khai, thực hiện không còn nhiều, trong khi khối lượng công việc phải hoàn thành rất lớn.

Để bảo đảm thực hiện đúng chỉ đạo của Trung ương, đúng tiến độ, chất lượng, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đồng chí Bí thư Thành ủy, Tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tập trung, quyết liệt triển khai đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026; trong đó, tập trung: rà soát toàn bộ khối lượng công việc, xây dựng kế hoạch, tiến độ thực hiện chi tiết; phân công rõ cơ quan, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm theo tinh thần "6 rõ"; thiết lập cơ chế theo dõi, kiểm tra, đánh giá tiến độ thường xuyên; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân chậm trễ, thiếu trách nhiệm, báo cáo không đúng thực chất.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương tổ chức thực hiện đầy đủ, hiệu quả chỉ đạo của Trung ương và các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13 tháng 02 năm 2026 và Thông báo số 239/TB-VPCP ngày 08 tháng 5 năm 2026; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tiến độ và chất lượng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền, trường hợp vượt thẩm quyền thì tổng hợp, đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo; phát huy vai trò đầu mối theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện, định kỳ báo cáo theo đúng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.

Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam 

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 875/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 7.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất ngày 24/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Nghị quyết.

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương trong việc triển khai thi hành Nghị quyết. Tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành Nghị quyết trong giai đoạn hiện nay.

Tuyên truyền các quy định của Nghị quyết đến người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Kế hoạch đưa ra 7 nội dung nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện như sau:

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức hội nghị triển khai thi hành Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến cho các bộ, ngành có liên quan; Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch các tỉnh, thành phố và các sở, ban, ngành có liên quan. Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV/2026.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì tổ chức hội nghị quán triệt thi hành Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành cho các cơ quan, đơn vị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV/2026.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, bộ, ngành liên quan; cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng Kế hoạch truyền thông nhằm phổ biến rộng rãi các quy định của Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành đến người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV/2026.

Đồng thời, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ ngành liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biên soạn và cấp phát tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thời gian hoàn thành: Quý II, III, IV năm 2026 và các năm tiếp theo.

Bên cạnh đó, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định của Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng các hình thức phù hợp. Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV năm 2026 và các năm tiếp theo.

Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, các bộ, cơ quan có liên quan và địa phương lồng ghép truyền thông, tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị quyết, các văn bản hướng dẫn thi hành và truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài theo Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thời gian thực hiện: Quý II, III, IV/2026 và các năm tiếp theo.

Tổ chức thanh tra, kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tổ chức thi hành Nghị quyết

3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng 5 Nghị định sau của Chính phủ: (1) Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam; ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn; (2) Nghị định về Hạ tầng văn hóa số; ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn; (3) Nghị định quy định về phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn đối với viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc lực lượng vũ trang; ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn; (4) Nghị định về Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn; (5) Nghị định về công nghiệp văn hóa.

Thời gian hoàn thành 4 Nghị định đầu tiên là trước ngày 01/7/2026. Riêng Nghị định thứ 5 về công nghiệp văn hóa thời gian hoàn thành trong tháng 12/2026.

4. Trong Quý II, III, IV/2026 và các năm tiếp theo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội nghị tập huấn chuyên sâu và bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác liên quan văn hóa ở các cơ quan trung ương và địa phương. Hình thức tổ chức có thể trực tiếp hoặc trực tuyến. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn chuyên sâu và bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác liên quan đến văn hóa ở địa phương. Hình thức tổ chức phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

5. Hằng năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tổ chức thanh tra, kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tổ chức thi hành Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch định kỳ 5 năm hoặc đột xuất theo yêu cầu tổ chức sơ kết, tổng kết việc thi hành Nghị quyết.

7. Bộ Tư pháp định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu thực hiện báo cáo về tổ chức thi hành Nghị quyết.

Bãi bỏ Quyết định số 67/2013/QĐ-TTg về cơ chế quản lý tài chính đối với Cục Đăng kiểm Việt Nam 

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 24/2026/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định số 67/2013/QĐ-TTg ngày 12/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng cơ chế quản lý tài chính đối với Cục Đăng kiểm Việt Nam.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/5/2026- Ảnh 8.

Cục Đăng kiểm Việt Nam

Quyết định số 24/2026/QĐ-TTg nêu rõ, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các đơn vị trực thuộc Cục tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản hiện có theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Về xử lý nguồn vốn, quỹ, Cục Đăng kiểm Việt Nam nộp toàn bộ số dư Quỹ Đầu tư phát triển, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ vào ngân sách nhà nước sau khi đã cân đối giữ lại phần kinh phí cần thiết để tiếp tục thực hiện đến khi hoàn thành các dự án đầu tư, nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 31/12/2025 còn đang triển khai dở dang.

Cục Đăng kiểm Việt Nam nộp toàn bộ số dư Quỹ Khen thưởng, phúc lợi vào ngân sách nhà nước sau khi thực hiện chi trả chế độ theo quy định cho người lao động tính đến hết thời điểm ngày 31/12/2025.

Việc xác định số kinh phí được giữ lại theo quy định ở trên căn cứ vào nội dung, tiến độ và dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; việc quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán số kinh phí được giữ lại thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức Cục Đăng kiểm Việt Nam thực hiện theo quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang và các văn bản pháp luật có liên quan./.