In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/8/2026.

22/08/2026 20:01
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/8/2026- Ảnh 1.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu khẩn trương cập nhật, rà soát, tổng hợp phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Khẩn trương rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 58/CĐ-TTg ngày 22/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương cập nhật, rà soát, tổng hợp phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tính đến 31/7/2026, có 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc

Công điện nêu: Thực hiện Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026, của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; Kết luận số 24-KL/TW, ngày 13/4/2026 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội; Quyết định số 1020/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 29/2026/QH16, thời gian qua Bộ Tài chính - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 751 đã có nhiều văn bản đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện rà soát, cập nhật dữ liệu và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751.

Tính đến ngày 31/7/2026, Hệ thống 751 đã ghi nhận thông tin về tình hình khó khăn, vướng mắc đối với 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc; trong đó 3.984 dự án đã được các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện rà soát, phân loại thành 06 nhóm dự án trên Hệ thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; còn lại 635 dự án chưa được các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện rà soát, phân loại.

Qua báo cáo của Bộ Tài chính (tổng hợp thông tin trên Hệ thống 751), việc triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài còn một số tồn tại, hạn chế như: (i) Cập nhật thông tin dự án trên Hệ thống 751 còn chậm; (ii) Số liệu thông tin báo cáo các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751 của một số địa phương chưa thống nhất với số liệu địa phương báo cáo các cơ quan có thẩm quyền; (iii) Các dự án phức tạp về pháp lý, kéo dài qua các thời kỳ pháp luật khác nhau, tuy nhiên, thông tin mô tả tình huống, pháp lý, đề xuất của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn sơ sài, chưa đầy đủ (có thông tin còn chưa chính xác), chưa xác định rõ nguyên nhân và cơ chế, chính sách, đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Chính phủ và Quốc hội (nếu có).

Bộ Tài chính đã tổng hợp các dự án của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đề xuất ban hành cơ chế, chính sách để tháo gỡ và có các văn bản gửi các bộ quản lý chuyên ngành, lĩnh vực đề nghị rà soát, xác minh, hướng dẫn, trả lời hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách.

Một số bộ, cơ quan trung ương chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ là thành viên Ban Chỉ đạo 751 theo Quyết định số 113/QĐ-BCĐ ngày 31/7/2025 (chưa chủ động nghiên cứu trả lời, hướng dẫn đề xuất cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định) khi địa phương đề xuất hoặc được cơ quan thường trực tổng hợp, phân loại yêu cầu.

Cập nhật đầy đủ các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751 trước 15/9/2026

Nhằm giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng "2 con số", Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các bộ, cơ quan giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án:

a) Các đồng chí Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ, thủ trưởng bộ, ngành, cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn đọng, những vấn đề thuộc thẩm quyền thì phải quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo rõ vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo đúng Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương đảng khoá XIV.

b) Thực hiện việc cập nhật đầy đủ tình hình phân loại và xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751 theo các hướng dẫn của Bộ Tài chính, không để xảy ra trường hợp còn có dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài nhưng không được tổng hợp; xem xét xử lý, tháo gỡ theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 24-KL/TW ngày 13/4/2026, hoàn thành trước ngày 15/9/2026; chịu trách nhiệm toàn diện về tính đầy đủ, chính xác của thông tin và số liệu báo cáo; thống nhất số liệu báo cáo về tình hình xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài giữa Hệ thống 751 và báo cáo các cấp có thẩm quyền.

c) Đối với các dự án đề xuất Chính phủ và Quốc hội ban hành cơ chế, chính sách: Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn rà soát tổng hợp đầy đủ chính xác thông tin về danh mục, vướng mắc (tình hình triển khai, nguyên nhân vướng mắc, căn cứ pháp lý, đề xuất giải pháp) trên Hệ thống 751; chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực nghiên cứu đề xuất các chính sách để giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc của dự án tồn đọng, kéo dài, chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ về việc không tổng hợp, thống kê đầy đủ danh mục dự án và việc chậm trễ triển khai ảnh hưởng tới tiến độ xử lý, tháo gỡ chung cho các dự án của Ban Chỉ đạo 751.

d) Chủ động chuyển thông tin, kiến nghị khó khăn, vướng mắc của từng dự án tồn đọng, kéo dài đến bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên ngành (như đất đai, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, quy hoạch, tài chính, y tế, năng lượng,...) để tổng hợp, phối hợp để được hướng dẫn, trả lời hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách xử lý theo quy định.

đ) Cập nhật, báo cáo kết quả xử lý của các dự án vướng mắc trên Hệ thống 751 định kỳ.

Thực hiện rà soát, có ý kiến về sự cần thiết ban hành chính sách tháo gỡ cho các dự án đề xuất

2. Các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên ngành (Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Y tế, Tài chính, Quốc phòng, Công an, Thanh tra Chính phủ,...):

Trên cơ sở thông tin và đề xuất của các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài được Bộ Tài chính tổng hợp và các địa phương gửi đến, chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương có liên quan để tiếp cận đầy đủ thông tin, tình hình thực hiện, phương hướng và giải pháp xử lý; thực hiện rà soát, có ý kiến về sự cần thiết tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ cho các dự án do các địa phương, cơ quan đề xuất. Cụ thể:

a) Trường hợp các kiến nghị, đề xuất đã có quy định thì các bộ, cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị khẩn trương có văn bản hướng dẫn để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương (cơ quan giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án) tổ chức thực hiện ngay, sớm đưa dự án vào hoạt động và chuyển các dự án này sang nhóm dự án phù hợp trên Hệ thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

b) Trường hợp kiến nghị của cơ quan đề xuất dự án chưa có cơ sở pháp lý để tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng, cần báo cáo Chính phủ và Quốc hội thì cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị chủ động nghiên cứu giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phù hợp; tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hoặc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để giải quyết khó khăn, vướng mắc theo chức năng quản lý nhà nước của cơ quan.

c) Trường hợp xác định thuộc phạm vi quản lý, trách nhiệm của bộ, cơ quan trung ương khác, cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị có văn bản đề nghị bộ, cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực để chủ trì xử lý; đồng thời đề nghị bộ, cơ quan trung ương và địa phương (cơ quan giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án) điều chỉnh cơ quan chủ trì xử lý kiến nghị trên Hệ thống 751.

d) Cập nhật kết quả xử lý kiến nghị về Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo.

3. Bộ Tài chính:

a) Thực hiện nhiệm vụ được giao tại mục 2 nêu trên đối với các vướng mắc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.

b) Tiếp tục theo dõi, đôn đốc và chủ động hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong việc cập nhật số liệu và báo cáo các vướng mắc của các dự án trên Hệ thống 751;

Đối với các dự án còn lại mà tiếp tục phát sinh, Bộ Tài chính tiếp tục phân loại và gửi các bộ, cơ quan trung ương để rà soát, thực hiện.

c) Định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; kịp thời tham mưu, đề xuất việc biểu dương các đơn vị thực hiện tốt, cũng như xử lý trách nhiệm đối với các đơn vị, địa phương chậm trễ, không thực hiện nghiêm túc việc cập nhật số liệu và xử lý vướng mắc dự án.

4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao tại Công điện này.

5. Giao Bộ Tài chính theo dõi, đôn đốc các bộ ngành, địa phương thực hiện Công điện này.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân

Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định này gồm 4 chương, 82 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Các hành vi vi phạm hành chính khác có liên quan đến lĩnh vực an ninh mạng và lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại các nghị định đó của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Trường hợp một hành vi đồng thời vi phạm quy định của Nghị định này và nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng bản chất hành vi và căn cứ pháp lý để áp dụng xử phạt. Trường hợp hành vi đồng thời được quy định tại Nghị định này và nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác thì áp dụng Nghị định này nếu hành vi vi phạm trên lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; trường hợp dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành khác thì áp dụng nghị định của lĩnh vực đó.

Đối tượng, nguyên tắc áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong phạm vi lãnh thổ, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức), trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Tổ chức quy định tại khoản 1 nêu trên bao gồm:

a) Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp;

b) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã;

c) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư;

d) Tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội khác;

đ) Doanh nghiệp nước ngoài hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, dịch vụ cung cấp nội dung trên không gian mạng, công nghệ thông tin, an ninh mạng, cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; cơ quan, tổ chức nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước;

e) Điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, trò chơi điện tử công cộng, truy nhập Internet công cộng;

g) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và không gian mạng;

h) Đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài sử dụng tần số vô tuyến điện;

i) Nhà đăng ký tên miền; tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tên miền;

k) Chủ quản hệ thống thông tin và đơn vị vận hành hệ thống thông tin;

l) Tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

3. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.

4. Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp.

Xử phạt hành chính đối với các vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm quy định về: Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm; lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; xử lý dữ liệu cá nhân gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự; nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân của chủ thể dữ liệu cá nhân; về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; về thủ tục thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân; quyền rút lại sự đồng ý và quyền hạn chế xử lý dữ liệu cá nhân; quyền xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân; xử lý dữ liệu cá nhân trong trường hợp không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; thu thập dữ liệu cá nhân; cung cấp dữ liệu cá nhân; công khai dữ liệu cá nhân; xóa, hủy, khử nhận dạng dữ liệu cá nhân; chuyển giao dữ liệu cá nhân; mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân; thông báo vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân; chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới; chỉ định nhân sự, bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân; cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân; kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân…

Phạt đến 60 triệu đồng đối với hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của tổ chức, cá nhân

Về vi phạm quy định nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với các hành vi sau:

a) Xử lý dữ liệu cá nhân không đúng phạm vi hoặc không phù hợp với mục đích xử lý dữ liệu cá nhân đã được xác định, xin sự đồng ý, thỏa thuận hoặc vượt quá mức cần thiết để thực hiện mục đích đó;

b) Không bảo đảm tính chính xác của dữ liệu cá nhân hoặc không thực hiện chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung kịp thời khi phát hiện sai sót hoặc khi cần thiết;

c) Lưu trữ dữ liệu cá nhân vượt quá khoảng thời gian cần thiết phù hợp với mục đích xử lý dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp pháp luật quy định khác;

d) Không chủ động phòng ngừa, phát hiện, phối hợp kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với các hành vi sau:

a) Có hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

b) Sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác để thực hiện các hành vi trái quy định của pháp luật.

3. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc hủy, xóa tới mức không thể khôi phục dữ liệu cá nhân đã xử lý không đúng phạm vi, không đúng mục đích hoặc lưu trữ vượt thời hạn đối với hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1 Điều này;

b) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này;

c) Buộc công khai xin lỗi chủ thể dữ liệu cá nhân trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm tại điểm b khoản 2 Điều này;

d) Buộc chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung dữ liệu cá nhân cho chính xác theo yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc khi phát hiện sai sót đối với hành vi vi phạm tại điểm b khoản 1 Điều này.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với hành vi xử lý dữ liệu cá nhân thu thập khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân

Về vi phạm quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Xử lý dữ liệu cá nhân sau khi thu thập mà chưa có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Kèm theo điều kiện bắt buộc, từ chối cung cấp dịch vụ nếu chủ thể dữ liệu cá nhân không đồng ý xử lý dữ liệu cá nhân vào các mục đích khác không liên quan đến nội dung thỏa thuận cung cấp dịch vụ đó;

c) Thiết lập phương thức mặc định đồng ý, tạo ra các chỉ dẫn không rõ ràng, gây hiểu lầm giữa đồng ý và không đồng ý cho chủ thế dữ liệu cá nhân;

d) Việc xin sự đồng ý không được thể hiện bằng phương thức rõ ràng, cụ thể, không bảo đảm khả năng kiểm chứng về việc xác định chủ thế dữ liệu cá nhân đã thực hiện sự đồng ý, thời điểm và nội dung được đồng ý;

đ) Không cung cấp cho chủ thể dữ liệu cá nhân các thông tin minh bạch về loại dữ liệu cá nhân được xử lý, mục đích xử lý dữ liệu cá nhân, các quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân, Bên kiểm soát hoặc Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân dẫn đến sự đồng ý không dựa trên cơ sở tự nguyện và biết rõ;

e) Hình thức xin sự đồng ý không bảo đảm chủ thể dữ liệu cá nhân được đồng ý với từng mục đích xử lý dữ liệu cá nhân;

g) Không ghi nhận, không lưu trữ nhật ký về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, không chứng minh được đã có sự đồng ý khi có yêu cầu của chủ thế dữ liệu cá nhân hoặc yêu cầu thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Không thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân biết dữ liệu cá nhân nhạy cảm của họ đang được xử lý.

2. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cố ý tiếp tục thực hiện xử lý dữ liệu cá nhân sau khi chủ thể dữ liệu cá nhân đã có yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản;

b) Thực hiện thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu cá nhân giữ im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin sự đồng ý, tự ý coi sự im lặng là đồng ý.

3. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc hủy, xóa tới mức không thể khôi phục dữ liệu cá nhân thu thập, xử lý khi không có sự đồng ý hợp lệ đối với hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều này;

b) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tại khoản 2 Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026.

Quy định chính sách trợ giúp xã hội

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội. Nghị định này quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).

Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này; Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.

Nghị định nêu rõ, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.

Đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Tại Điều 5 Nghị định quy định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm:

1. Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;

c) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

đ) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

k) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện băt buộc.

2. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 nêu trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản này, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường họp quy định sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

b) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 03 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 3 và khoản 6 nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Mức trợ cấp xã hội hằng tháng

1- Đối tượng quy định tại Điều 5 nêu trên được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 04 tuổi; hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 04 tuổi trở lên.

b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 nêu trên.

c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 04 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi.

d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.

đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 75 tuổi trở lên; hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 5.

e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng; hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.

g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 5 nêu trên.

2. Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau quy định về chế độ trợ giúp xã hội thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này.

Trợ giúp giáo dục, đào tạo

Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này đang học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được hưởng chính sách, chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026.

Đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội thì được chuyển sang mức tương ứng quy định tại Nghị định này từ ngày 1/7/2026.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.

Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội tổ chức thực hiện chế độ, chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng theo mức quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.

Quy định thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 336/2026/NĐ-CP ngày 22/8/2026 quy định thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN.

Nghị định này quy định về việc thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN; quản lý, vận hành, trao đổi, chia sẻ dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Trong đó, Nghị định quy định đăng ký, khóa, kích hoạt, thu hồi, quản lý tài khoản người sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia và chữ ký số.

1. Đăng ký tài khoản người sử dụng là người khai

Người sử dụng đăng ký tài khoản và chữ ký số trên Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc sử dụng tài khoản định danh điện tử được cấp qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID để đăng ký, truy cập hệ thống. Các chỉ tiêu đăng ký thông tin quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện kiểm tra, đối chiếu thông tin của người khai trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận thông tin. Trường hợp thông tin khai không đầy đủ hoặc không chính xác, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo qua thư điện tử yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc thông báo không chấp nhận, đồng thời nêu rõ lý do tới người khai. Trường hợp thông tin khai đầy đủ, chính xác, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo chấp thuận qua thư điện tử cho người khai.

2. Đăng ký tài khoản người sử dụng là cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, đơn vị thuộc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực

a) Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp danh sách người sử dụng cần cấp mới tài khoản trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, thông tin gồm: đơn vị quản lý, họ và tên, chức danh, đơn vị công tác, số điện thoại, thư điện tử, số định danh cá nhân/số hộ chiếu, quyền sử dụng các chức năng thuộc bộ quản lý ngành, lĩnh vực trên Cổng thông tin một cửa quốc gia theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này và gửi văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy đến đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cung cấp danh sách người sử dụng cần cấp mới tài khoản theo đúng yêu cầu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia căn cứ các yêu cầu kỹ thuật về bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thực hiện xem xét số lượng người sử dụng do các bộ quản lý ngành, lĩnh vực yêu cầu cấp tài khoản, thực hiện cấp tài khoản và thông báo bằng văn bản về tên truy cập, mật khẩu mặc định đến bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Trường hợp số lượng tài khoản cấp mới ít hơn số lượng các bộ quản lý ngành, lĩnh vực yêu cầu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo gửi các bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

3. Khóa tài khoản người sử dụng hệ thống

a) Trong trường hợp cần khóa tài khoản, người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm gửi cho đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia bằng văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy trước 03 ngày kể từ thời điểm đề nghị khóa tài khoản, trong đó nêu rõ thông tin tài khoản, lý do khóa tài khoản, thời điểm đề nghị khóa tài khoản;

b) Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa tài khoản theo thời điểm đề nghị khóa tài khoản nêu tại điểm a khoản này. Trong trường hợp thời điểm đề nghị khóa tài khoản sớm hơn thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản hoặc thời điểm đề nghị khóa tài khoản muộn hơn dưới 01 ngày so với thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản thì thời gian khóa tài khoản là 01 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản;

c) Trong trường hợp khẩn cấp ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, ann ninh dữ liệu, người sử dụng hệ thống hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực gửi thông báo về đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông qua hình thức điện thoại hoặc thư điện tử để đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa ngay tài khoản. Chậm nhất trong thời gian 05 giờ làm việc kể từ thời điểm khóa tài khoản, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo cho người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực bằng một trong các hình thức: văn bản, thư điện tử hoặc điện thoại;

d) Trong trường hợp đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia phát hiện các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu thì thực hiện khóa ngay tài khoản và thông báo tới người khai, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực ngay sau khi hoàn thành việc khóa tài khoản.

4. Kích hoạt tài khoản đã khóa

a) Để tiếp tục sử dụng tài khoản đã khóa, người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia, nêu rõ thông tin tài khoản, lý do đề nghị kích hoạt tài khoản, thời điểm kích hoạt;

b) Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện kích hoạt tài khoản đã khóa theo thời điểm đề nghị kích hoạt nêu tại điểm a khoản này. Trong trường hợp thời điểm đề nghị kích hoạt sớm hơn thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt hoặc thời điểm đề nghị kích hoạt muộn hơn dưới 01 ngày so với thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt thì thời gian kích hoạt là 01 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt;

c) Đối với các tài khoản bị khóa do đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa khi phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu của hệ thống, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ thực hiện rà soát, đánh giá nguyên nhân và mức độ rủi ro. Trường hợp kết quả đánh giá xác định không còn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ thực hiện kích hoạt lại tài khoản đã bị khóa để người sử dụng tiếp tục thực hiện các thủ tục hành chính trên hệ thống.

5. Thu hồi tài khoản

Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện thu hồi tài khoản trong các trường hợp sau:

a) Người khai có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia đề nghị thu hồi tài khoản;

b) Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thông báo về việc giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động của người khai;

c) Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thông báo về việc thu hồi tài khoản của người sử dụng là cán bộ, công chức, viên chức được các bộ quản lý ngành, lĩnh vực giao quyền truy cập Cổng thông tin một cửa quốc gia;

d) Vi phạm quy định của pháp luật về thực hiện quản lý, khai thác, sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Người đề nghị thu hồi tài khoản phải có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia, trong đó nêu rõ thông tin tài khoản, lý do thu hồi tài khoản, thời điểm thu hồi; đối với trường hợp giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động của người khai thì phải nêu rõ thời điểm giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động.

Chậm nhất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi tài khoản, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện thu hồi tài khoản và gửi văn bản thông báo kết quả thực hiện tới người đề nghị thu hồi tài khoản.

Quy định chế độ, mức đài thọ cho đại biểu tham dự các hội nghị trong Năm APEC 2027

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/2026/NQ-CP quy định chế độ, mức đài thọ của Chính phủ Việt Nam cho đại biểu tham dự các hội nghị trong Năm APEC 2027. Về nguyên tắc áp dụng chế độ đài thọ, Nghị quyết số 38/2026/NQ-CP nêu rõ: Kinh phí thực hiện chế độ đài thọ của Chính phủ Việt Nam cho đại biểu tham dự các hội nghị trong Năm APEC 2027 do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành và nguồn huy động hợp pháp khác (nếu có). Ngoài chế độ đài thọ quy định tại Nghị quyết này, đại biểu tham dự các hội nghị trong Năm APEC 2027 được hưởng chính sách, chế độ theo quy định chế độ tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chế độ chi tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Trường hợp một người thuộc đối tượng hưởng chế độ đài thọ với các mức chi khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất.

Trường hợp phát sinh chế độ chưa được quy định hoặc cần áp dụng chế độ đài thọ đặc thù do yêu cầu đối ngoại, các bộ, cơ quan được phân công chủ trì hội nghị đề xuất cụ thể các chế độ đài thọ phát sinh (nếu có) trong Đề án tổ chức của từng hội nghị trình cấp có thẩm quyền quyết định bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Trong đó, Nghị quyết quy định cụ thể chế độ đài thọ của Chính phủ Việt Nam cho đại biểu các nền kinh tế tham dự Tuần lễ Cấp cao APEC 2027.

Chế độ đài thọ của Chính phủ Việt Nam cho đại biểu tham dự Hội nghị cấp Bộ trưởng Năm APEC 2027.

Chế độ Chính phủ Việt Nam đài thọ cho các đại biểu tham đự các Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) và các cuộc họp liên quan Năm АРЕС 2027.

Nghị quyết nêu rõ, cơ quan chủ trì tổ chức các hội nghị trong Năm АРЕС 2027 có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ, mức đài thọ của Chính phủ Việt Nam đối với đại biểu tham dự các hội nghị trong Năm АРЕС 2027 theo đúng quy định, đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, định mức, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch.

Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030.

Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 theo hướng nhấn mạnh quan điểm: Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải được xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Quyết định cũng bổ sung mục tiêu của Chiến lược là thúc đẩy các giao dịch quyền sở hữu trí tuệ trên thị trường, trong đó thí điểm hỗ trợ xác định giá trị của ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ của viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (bổ sung điểm đ khoản 5 Mục II Điều 1).

Nghiên cứu, xử lý vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, nền tảng số

Về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chiến lược, Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nội dung về hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Mục III Điều 1. Cụ thể:

Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật liên quan, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, bảo hộ, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, ngăn chặn hiệu quả việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó chú trọng:

- Cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến các xu hướng khoa học và công nghệ hiện đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), để có các đề xuất điều chỉnh pháp luật phù hợp; trong đó nghiên cứu, xử lý vấn đề bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mới, phi truyền thống như dữ liệu lớn (big data), tài sản số, công nghệ chuỗi khối (blockchain), công nghệ sinh học và công nghệ bán dẫn; vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, nền tảng số;

- Bảo đảm các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với tính chất dân sự của quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự; đồng thời nâng cao chất lượng xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

- Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đảm bảo tính răn đe, đặc biệt đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ. Đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ bí mật kinh doanh, dữ liệu chiến lược, công nghệ nguồn, công nghệ lõi, sáng chế thuộc bí mật Nhà nước, phòng ngừa chuyển giao trái phép công nghệ quan trọng; hình thành cơ chế phát hiện, cảnh báo sớm đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ gắn liền với bảo vệ quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia.

Bên cạnh đó hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giao dịch quyền sở hữu trí tuệ như: góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán, kiểm toán quyền sở hữu trí tuệ; ban hành cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng và các ưu đãi khác để thúc đẩy khai thác quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.

Nghiên cứu cơ chế đặc thù phát triển đội ngũ công chức, viên chức, chuyên gia sở hữu trí tuệ trình độ cao

Về giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Quyết định số 1624/QĐ-TTg bổ sung nhiệm vụ nghiên cứu áp dụng cơ chế tài chính, chính sách nhân lực đặc thù để phát triển đội ngũ công chức, viên chức và chuyên gia sở hữu trí tuệ có trình độ cao.

Bên cạnh đó, triển khai toàn diện dịch vụ công trực tuyến, số hóa dữ liệu về sở hữu trí tuệ; tăng cường đầu tư, phát triển hạ tầng, ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn, minh bạch và tạo thuận lợi để công chúng tiếp cận, tra cứu, phân tích và khai thác thông tin sở hữu trí tuệ.

Ứng dụng công nghệ tự động phát hiện và cảnh báo sớm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số

Về giải pháp tập trung đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động bảo vệ sở hữutrí tuệ, Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm a, b, c, d khoản 3 Mục III Điều 1, bổ sung điểm k như sau:

"a) Rà soát, phân định rõ chức năng nhiệm vụ, từng bước tinh giản đầu mối cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính; đơn giản hóa và minh bạch hóa thủ tục, cắt giảm chi phí và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Tăng cường phối hợp, xây dựng cơ chế điều phối tập trung, thống nhất giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là cơ quan tư pháp, trong đó có bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới; phối hợp nghiên cứu về việc tăng cường vai trò của tòa án trong giải quyết các vụ việc về sở hữu trí tuệ;

c) Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường kỹ thuật số; nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, chủ quản nền tảng số trong việc ngăn chặn, loại bỏ và không tiếp tay cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng;

d) Nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong thương mại điện tử;".

k) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ có chức năng giám sát, tự động phát hiện và cảnh báo sớm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số; xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về sở hữu trí tuệ được kết nối và chia sẻ liên thông bảo đảm phục vụ giám sát, cảnh báo và xử lý vi phạm thống nhất trên phạm vi cả nước.".

Khẩn trương hoàn thiện, bảo đảm chất lượng 14 dự án luật trước 24/8/2026

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 8631/VPCP-PL ngày 22/8/2026 gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu về việc chuẩn bị nội dung Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8/2026 (Phiên thứ 2).

Để chuẩn bị tốt nội dung Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8/2026 (Phiên thứ 2, ngày 26/8/2026), Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Công an, Công Thương, Tư pháp, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ trực tiếp chỉ đạo, khẩn trương hoàn thành rà soát, hoàn thiện hồ sơ 14 dự án luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình Chính phủ trước 11 giờ ngày 24/8/2026 và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ trình hồ sơ các dự án luật.

14 dự án luật trên gồm:

- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: (1) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; (2) Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

- Bộ Y tế: (1) Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi); (2) Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); (3) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

- Bộ Công an: (1) Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi); (2) Luật Định danh và xác thực điện tử; (3) Luật An ninh dữ liệu.

- Bộ Công Thương: Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh.

- Bộ Tư pháp: Luật về văn bản quy phạm pháp luật.

- Bộ Tài chính: (1) Luật Đấu thầu (sửa đổi); (2) Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi).

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

- Bộ Khoa học và Công nghệ: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu các Bộ tập trung nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Tư pháp để rà soát nội dung tiếp thu, giải trình và hồ sơ dự án luật sau thẩm định theo đúng Quy chế làm việc của Chính phủ.

Phó Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp tập trung chỉ đạo tổ chức thẩm định ngay sau khi nhận đủ hồ sơ dự án luật gửi thẩm định của các Bộ; khẩn trương hoàn thiện các báo cáo thẩm định, gửi cơ quan chủ trì soạn thảo để nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý hồ sơ dự án luật; đồng thời đẩy nhanh tiến độ rà soát nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và hồ sơ dự án luật sau thẩm định theo đúng Quy chế làm việc của Chính phủ.

Văn phòng Chính phủ đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ các dự án luật đã trình Chính phủ; tập trung rà soát, tổng hợp những vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau của các dự án luật, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định./.