
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 735/QĐ-TTg ngày 24/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ bàn giao nguyên trạng 08 Làng trẻ em SOS cơ sở thuộc các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Khánh Hoà, Gia Lai, bao gồm 06 Trường mầm non, mẫu giáo thuộc Làng trẻ em SOS cơ sở (Danh sách) và các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam thuộc các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Gia Lai, Vĩnh Long, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh (Danh sách) về địa phương quản lý toàn diện.
Hoàn thành bàn giao trước ngày 30/6
Phạm vi bàn giao gồm: Cơ sở vật chất, tài chính, tài sản, nghĩa vụ tài chính, trang thiết bị, trẻ em, thanh niên, học sinh, học viên, bà mẹ, bà dì, cán bộ, nhân viên, giáo viên, người lao động hiện có của 08 Làng trẻ em SOS cơ sở, bao gồm 06 Trường mầm non, mẫu giáo thuộc Làng trẻ em SOS cơ sở và các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam tại thời điểm bàn giao.
Thời gian thực hiện: hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.
Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam theo đúng quy định
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan tổ chức thực hiện phương án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định này theo đúng quy định của pháp luật.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có 08 Làng trẻ em SOS cơ sở quy định ở trên tổ chức tiếp nhận nguyên trạng 08 Làng trẻ em SOS cơ sở, bao gồm 06 Trường mầm non, mẫu giáo thuộc Làng trẻ em SOS cơ sở về địa phương quản lý toàn diện; sắp xếp, tổ chức lại mô hình tổ chức các Làng trẻ em SOS cơ sở và các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS cơ sở theo quy định của pháp luật hiện hành.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận nguyên trạng các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam về địa phương quản lý toàn diện; sắp xếp, tổ chức lại mô hình tổ chức các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành.
Các bộ, cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc tổ chức triển khai thực hiện phương án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam được phê duyệt ở trên; chủ động hướng dẫn, giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
Bộ Y tế (Văn phòng Làng trẻ em SOS Việt Nam) sử dụng kinh phí từ nguồn huy động quyên góp trong nước kết dư và trích lập dự phòng của hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam để hỗ trợ cho 08 Làng trẻ em SOS cơ sở duy trì hoạt động vận hành trong năm 2026 khi thực hiện phương án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định này.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 24/4/2026 phê duyệt Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).
Lấy phòng ngừa làm trọng tâm
Mục tiêu của Chương trình là lấy phòng ngừa làm trọng tâm; gắn công tác phòng, chống mại dâm với thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe, việc làm, giảm nghèo, bình đẳng giới và phát triển kinh tế - xã hội để giảm tệ nạn mại dâm và các tác động tiêu cực của tệ nạn mại dâm đến đời sống xã hội; quản lý hiệu quả địa bàn và môi trường mạng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Chương trình tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, bảo đảm công tác phòng, chống mại dâm được triển khai thống nhất, đồng bộ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và hệ thống pháp luật.
95% số cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm sẽ bị kiểm tra
Theo đó, Chương trình đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Hoàn thiện thể chế, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và phòng ngừa xã hội về phòng, chống mại dâm; phát triển mạng lưới hỗ trợ can thiệp giảm hại và hòa nhập cộng đồng đối với người bán dâm; tăng cường công tác kiểm tra, quản lý địa bàn; đấu tranh, triệt phá và xử lý các vi phạm trong phòng, chống mại dâm; nâng cao năng lực; nghiên cứu; giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết Chương trình.
Phát triển mạng lưới dịch vụ hỗ trợ
Trong đó, Chương trình triển khai phát triển mạng lưới dịch vụ hỗ trợ phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, đối tượng và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; nâng cao năng lực các cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm trong việc tham gia cung cấp dịch vụ hỗ trợ can thiệp giảm hại và hòa nhập cộng đồng đối với người bán dâm; phát triển các điểm tư vấn, hỗ trợ tại cộng đồng theo hướng dễ tiếp cận, an toàn, bảo mật, không kỳ thị.
Tổ chức thực hiện đa dạng, đồng bộ các hoạt động can thiệp giảm hại về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa bạo lực trên cơ sở giới, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý, tư vấn đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ vay vốn, phát triển sinh kế và các hình thức trợ giúp cần thiết khác nhằm hỗ trợ người bán dâm hòa nhập cộng đồng.
Thực hiện các kênh hỗ trợ linh hoạt như tư vấn trực tuyến, đường dây nóng, tư vấn lưu động; ưu tiên phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, tăng cường trao quyền và phát huy vai trò của các nhóm đồng đẳng, nhóm tự lực trong truyền thông, tiếp cận, hỗ trợ, giám sát và duy trì kết quả can thiệp; bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin cá nhân.
Triệt xóa các tụ điểm, đường dây, ổ nhóm, tổ chức môi giới, chứa chấp mại dâm
Đồng thời, đẩy mạnh quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm; tăng cường kiểm tra định kỳ, đột xuất; bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành và chính quyền địa phương trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm; kiểm soát chặt chẽ thông tin quảng cáo, giới thiệu dịch vụ hoạt động mại dâm trá hình trên nền tảng trực tuyến.
Chủ động phát hiện, triệt xóa các tụ điểm, đường dây, ổ nhóm, tổ chức môi giới, chứa chấp mại dâm và các phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, tinh vi, nhất là hoạt động trên môi trường mạng, hoạt động có tổ chức, liên tỉnh, xuyên biên giới hoặc có yếu tố nước ngoài...

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 đã ký Quyết định số 36/QĐ-BCĐCP sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Sửa đổi nguyên tắc làm việc
Trong đó, Quyết định số 36/QĐ-BCĐCP đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 Quyết định 96/QĐ-BCĐCP về nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo như sau:
"2. Ban Chỉ đạo và thành viên Ban Chỉ đạo, các Tổ Công tác, thành viên Tổ Công tác, Tổ Giúp việc và thành viên Tổ Giúp việc và Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo nguyên tắc thống nhất đầu mối tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, điều phối hoạt động chung của Ban Chỉ đạo; bảo đảm rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ kết quả, rõ thẩm quyền; không làm thay chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong hệ thống hành chính Nhà nước.".
Quyết định số 36/QĐ-BCĐCP sửa đổi khoản 1 Điều 5 nhiệm vụ, quyền hạn của các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo như sau:
"1. Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo giúp Trưởng Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của Ban Chỉ đạo, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, các Tổ Công tác, Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo; xem xét, giải quyết các công việc thường xuyên của Ban Chỉ đạo. Khi Trưởng Ban Chỉ đạo vắng mặt hoặc bận công tác, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo thay mặt Trưởng Ban Chỉ đạo lãnh đạo công tác của Ban Chỉ đạo; chủ trì các phiên họp, hội nghị, phiên làm việc của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo; ký văn bản của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ khác do Trưởng Ban Chỉ đạo phân công hoặc ủy quyền; báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định hoặc xin ý kiến chỉ đạo đối với những vấn đề quan trọng, vượt thẩm quyền.".
Bổ sung quy định về Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo
Đồng thời, Quyết định số 36/QĐ-BCĐCP sửa đổi Điều 8 nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo như sau:
"Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo
1. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo là đầu mối thống nhất giúp Trưởng Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo trong việc tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, điều phối hoạt động chung của Ban Chỉ đạo; không làm thay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành, địa phương và các Tổ Công tác, Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo.
2. Tham mưu sửa đổi, bổ sung Quy chế tổ chức và hoạt động; kiện toàn, bổ sung, thay thế thành viên Ban Chỉ đạo khi cần thiết hoặc theo chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo; trình Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, phê duyệt.
3. Xây dựng, trình Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành chương trình công tác hằng năm của Ban Chỉ đạo; theo dõi, đôn đốc, mời đại diện các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có liên quan tham dự họp để trao đổi, cung cấp thông tin, làm rõ tình hình và kết quả triển khai các nhiệm vụ được giao; tham mưu vận hành, hoàn thiện Hệ thống Bộ tiêu chí, chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo giao bộ, ngành, địa phương; tổ chức chấm điểm định kỳ, đột xuất, báo cáo Ban Chỉ đạo, Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, chỉ đạo.
4. Chủ trì, phối hợp với các Tổ Công tác của Ban Chỉ đạo tổng hợp, chuẩn bị nội dung, tài liệu phục vụ các phiên họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo và các hoạt động khác của Ban Chỉ đạo; báo cáo kịp thời tình hình, kết quả thực hiện, những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn và đề xuất phương án xử lý trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các Tổ Công tác và kết quả kiểm tra, giám sát, đánh giá của Tổ Giúp việc.
5. Kiến nghị, đề xuất biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định; báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
6. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Trưởng Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo giao.".
Bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo
Ngoài ra, Quyết định số 36/QĐ-BCĐCP cũng bổ sung Điều 8a sau Điều 8 về nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo như sau:
"Điều 8a. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo
1. Tổ Giúp việc tham mưu, giúp việc trực tiếp cho Trưởng Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo trong công tác kiểm tra, đánh giá, theo dõi, giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ; phát hiện khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn, nhiệm vụ chậm tiến độ hoặc phối hợp chưa hiệu quả để tham mưu, kiến nghị giải pháp tháo gỡ.
2. Tổ chức kiểm tra, theo dõi, giám sát theo kế hoạch được Trưởng Ban Chỉ đạo phê duyệt định kỳ hoặc đột xuất đối với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo; tổng hợp kết quả kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm để kiến nghị giải pháp tháo gỡ theo quy định.
3. Thường xuyên, liên tục theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện sau kiểm tra, giám sát; kịp thời báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo về những điểm nghẽn, vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền hoặc cần tập trung chỉ đạo.
4. Được đề nghị các bộ, ngành, địa phương cử đại diện, đầu mối có thẩm quyền trực tiếp báo cáo, giải trình các nội dung liên quan tại các cuộc họp.".

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 736/QĐ-TTg ngày 24/4/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.
Cụ thể, Thủ tướng bổ nhiệm ông Phạm Đức Ấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội thay bà Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đảm nhiệm công tác khác.
Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 24/4/2026./.