Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tại Nghị quyết số 112/NQ-CP ngày 20/4/2026, Chính phủ thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.

Trình bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vào Chương trình lập pháp năm 2026 - Ảnh minh họa
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về nội dung, báo cáo đề xuất, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản liên quan; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan liên quan của Quốc hội theo quy định.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định 701/QÐ-TTg ngày 20/4/2026 phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật được điều chỉnh trong Chương trình lập pháp năm 2026.

Phân công soạn thảo các dự án luật được điều chỉnh trong Chương trình lập pháp năm 2026
Cụ thể, Bộ Xây dựng được phân công chủ trì soạn thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) và Luật Nhà ở (sửa đổi), trình Chính phủ hồ sơ chính sách trước ngày 10/6/2026, trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026.
Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo, trình Chính phủ hồ sơ chính sách trước ngày 10/6/2026, trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026.
Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo 3 dự án luật gồm: Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh (trình Chính phủ hồ sơ chính sách trước ngày 10/6/2026, trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (trình Chính phủ hồ sơ chính sách trước ngày 10/5/2026, trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/7/2026); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực (trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026).
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới và Luật Hoạt động chữ thập đỏ sẽ do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo, trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026.
Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan (trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/7/2026); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trình Chính phủ hồ sơ dự án trước ngày 10/8/2026).
Thời hạn trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội các dự án luật trên vào tháng 9/2026, riêng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan sẽ phải trình vào tháng 8/2026.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thực hiện các nội dung sau: Đối với các bộ có dự án luật được phân công chủ trì xây dựng tại Bản phân công ban hành kèm theo Quyết định này có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026.
Tiếp tục chủ động nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết và các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ban Chỉ đạo Trung ương để sớm đề xuất bổ sung các dự án cần thiết khác vào Chương trình lập pháp năm 2026. Các dự án đề xuất bổ sung vào Chương trình phải gắn với đề xuất nhiệm vụ lập pháp trong Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 2 Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026.
Chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; bảo đảm tiến độ, chất lượng để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, tỉnh Ninh Bình.

Đưa Danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động trở thành khu du lịch hấp dẫn của quốc tế
Phạm vi lập quy hoạch di tích gồm: Toàn bộ diện tích Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động (thuộc phạm vi Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An) với tổng diện tích là 9.663 ha.
Mục tiêu của quy hoạch là tiếp tục nghiên cứu, nhận diện và bổ sung, làm rõ giá trị của Danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động và Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An; bảo tồn di tích kết hợp với phát triển bền vững, đưa khu danh thắng trở thành một trong những khu du lịch hấp dẫn của Việt Nam và quốc tế; là động lực phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình và khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Bảo tồn các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch và các định hướng phát triển của tỉnh Ninh Bình, thực hiện cam kết của Việt Nam với UNESCO trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Xác định quy mô, ranh giới, khoanh vùng bảo vệ di tích; xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất cho các khu vực; tổ chức không gian, bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật phù hợp với các giai đoạn bảo tồn, phát huy giá trị di tích. Xây dựng quy định, giải pháp quản lý, kiểm soát không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu vực di tích và các giải pháp quản lý, bảo vệ di tích theo quy định.
Tạo lập căn cứ pháp lý để bảo vệ, phát huy giá trị các điểm di tích thành phần; cho công tác lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai các dự án thành phần về bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích theo quy hoạch được duyệt; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực đầu tư, phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản.
Nội dung quy hoạch gồm: Quy hoạch phân vùng chức năng; định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; giải pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; quy hoạch không gian bảo tồn, phát huy giá trị di tích; định hướng quy hoạch bảo tồn cảnh quan địa chất; định hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể; giải pháp phát triển du lịch; định hướng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật; giải pháp, cơ chế thực hiện quy hoạch di tích...
Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa giữa việc gìn giữ giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản với phát triển kinh tế di sản, bảo đảm lợi ích, sinh kế cộng đồng, nâng cấp cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng du lịch.
Các hoạt động bảo tồn, tu bổ, phát huy giá trị phải giữ nguyên yếu tố gốc, đảm bảo toàn vẹn giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An.
Kiểm soát sức chứa, hoạt động du lịch và xây dựng; bảo đảm phục hồi môi trường, duy trì cảnh quan và khả năng thích ứng dài hạn của di sản; trong đó:
+ Đối với khu vực cảnh quan thiên nhiên cần được bảo vệ nghiêm ngặt khoanh vùng, cắm mốc ranh giới các khu vực bảo vệ di tích, địa điểm khảo cổ;
+ Đối với khu vực phát triển du lịch cần bảo đảm kiến trúc hài hòa với cảnh quan thiên nhiên; phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn, du lịch văn hóa…;
+ Đối với khu vực làng truyền thống, không mở rộng hoặc phát triển đô thị hoá, bảo tồn cảnh quan làng, xóm theo hiện trạng; bảo tồn cảnh quan nông nghiệp và giữ gìn các giá trị di sản văn hoá phi vật thể, làng nghề thủ công truyền thống;
+ Đối với khu vực bảo tồn đan xen, cần kiểm soát nghiêm ngặt và không xem xét, chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Theo định hướng, bảo tồn và phát huy làng nghề truyền thống như: Làng nghề chế tác đá Ninh Vân, nghề dệt ren Ninh Hải, nghề nấu rượu Gia Lạc, nghề trồng hoa cây cảnh Ninh Xuân cần có lộ trình bảo tồn, khôi phục, gắn với du lịch trải nghiệm.
Đồng thời, bảo tồn lễ hội truyền thống, giá trị tri thức bản địa gồm:
- Bảo tồn các các nghi lễ quan trọng phản ánh truyền thống lịch sử và đời sống văn hóa của người dân, vùng đất Cố đô, gồm: Tục rước nước Lễ hội Hoa Lư; Hội làng Khả Lương; Hội làng Hành Cung; Lễ hội đền Trần (Nội Lấm); Lễ hội đền Thái Vi; Lễ hội Bái Đính; Lễ tế Thần Nông...
- Bảo tồn giá trị tri thức bản địa gắn với các lễ hội: lễ hội làng Sinh Dược, nghề sản xuất dược liệu tự nhiên, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Nguyễn Minh Không, tập quán thờ Tô Hiến Thành và hệ truyện tích thời Lý.
Về phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, xây dựng các sản phẩm du lịch gắn với di sản, lễ hội, tham quan và tìm hiểu lối sống, ẩm thực; gắn kết hiệu quả du lịch với công nghiệp văn hóa. Phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái dựa trên lợi thế về tài nguyên tự nhiên, các loại hình dịch vụ du lịch mới theo hướng đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với những xu hướng mới của thị trường: Du lịch sinh thái (chèo thuyền, trekking, chụp ảnh thiên nhiên); du lịch văn hóa - lịch sử - khảo cổ (tham quan cố đô, di tích khảo cổ); du lịch văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng và thực hành tôn giáo, tín ngưỡng (các tour hành hương); du lịch thể thao - mạo hiểm (leo núi, đạp xe, chèo thuyền); du lịch nông nghiệp, làng nghề (trải nghiệm làng thêu, làng gốm, farmstay); du lịch sáng tạo - công nghệ ("du lịch thực tế ảo", ứng dụng thông minh, trung tâm nghệ thuật); du lịch kết hợp chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và thẩm mỹ; du lịch hội nghị, hội thảo, sự kiện (MICE); du lịch giáo dục...
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo tồn, phát huy tiềm năng vịnh Hạ Long đến năm 2035, tầm nhìn 2050.
Theo phê duyệt, phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch là khu vực không gian cảnh quan, các địa danh, địa điểm, địa giới tự nhiên có liên hệ mật thiết trong quá trình hình thành và phát triển Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long, gồm:
Phần đất liền và biển thuộc địa giới hành chính của 08 xã, phường, đặc khu của tỉnh Quảng Ninh: phường Tuần Châu, phường Hà Tu, phường Bãi Cháy, phường Hồng Gai, phường Hạ Long, phường Hà An, phường Quang Hanh, đặc khu Vân Đồn;
Phần biển giáp ranh với đặc khu Cát Hải của thành phố Hải Phòng bao quanh các khu vực khoanh vùng bảo vệ Di tích quốc gia đặc biệt Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long (đối với di sản thế giới vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà là phần khoanh vùng bảo vệ di sản thế giới vịnh Hạ Long thuộc địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh); không gian biển, các khu bảo tồn, rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, mặt nước, dòng chảy có liên quan thuộc phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch.
Quy mô lập quy hoạch có tổng diện tích khoảng 676,36 km2, trùng khớp với phần diện tích khu vực di sản (vùng lõi) và vùng đệm Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, thuộc địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh, được thể hiện tại các hồ sơ Di sản thế giới vịnh Hạ Long năm 1994 và năm 2000, hồ sơ Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà năm 2023 đang được lưu trữ tại Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO và được thể hiện tại Lý lịch, Biên bản khoanh vùng các khu vực bảo vệ Di tích quốc gia đặc biệt Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long.
Mục tiêu lập quy hoạch nhằm bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, môi trường, địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù của vịnh Hạ Long; các không gian văn hóa, lịch sử, truyền thống; giữ gìn bản sắc văn hóa biển - đảo Hạ Long.
Nhận diện đầy đủ tiềm năng, giá trị của Di tích quốc gia đặc biệt Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long; hoàn thiện hệ thống hồ sơ, dữ liệu phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích.
Hoàn chỉnh ranh giới, phạm vi khu vực bảo vệ Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long trong Quần thể di sản thế giới vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà theo quy định của pháp luật và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, góp phần cụ thể hóa các quy hoạch đã được phê duyệt trên địa bàn, gồm: Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023) và Quy hoạch chung thành phố Hạ Long đến năm 2040 (Quyết định số 72/QĐ-TTg ngày 10/02/2023).
Tiếp tục khẳng định vai trò của di tích trong định hướng phát triển tỉnh Quảng Ninh, của vùng Đông Bắc và khu vực. Thiết lập mô hình bảo tồn và phát triển bền vững, mở rộng hướng tiếp cận và kết nối, khẳng định vị thế, hình ảnh của di tích trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, dịch vụ du lịch của tỉnh Quảng Ninh.
Tổ chức không gian, kết cấu hạ tầng phù hợp với từng giai đoạn của quy hoạch gắn với bảo tồn Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà.
Là căn cứ pháp lý cho công tác quản lý và triển khai các dự án thành phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Xây dựng quy chế, quy định quản lý quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư, lộ trình triển khai các dự án thành phần, thu hút nguồn lực xã hội để bảo tồn di tích.
Thời kỳ và tầm nhìn của quy hoạch: Thời kỳ quy hoạch đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 204/TB-VPCP ngày 21/4/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp kiểm điểm tiến độ triển khai Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Quyết tâm đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành (giai đoạn 1) vào khai thác trong năm 2026.
Tại cuộc họp kiểm điểm tiến độ triển khai Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 (Dự án), sau khi nghe ý kiến của các đại biểu dự họp, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc kết luận như sau:
Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành, Nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế quan tâm, kỳ vọng lớn. Trong quá trình triển khai, các khó khăn, vướng mắc đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành quan tâm, ưu tiên xem xét, kịp thời tháo gỡ.
Phó Thủ tướng Chính phủ ghi nhận kết quả triển khai Dự án trong thời gian qua; về cơ bản đáp ứng các mốc tiến độ quan trọng theo yêu cầu, đã tổ chức thành công chuyến bay kỹ thuật đầu tiên vào ngày 19/12/2025 theo đúng kế hoạch.
Tuy nhiên, nhiệm vụ hoàn thành đưa Dự án vào vận hành, khai thác trong năm 2026 theo chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp ngày 26/2/2026 và của Thủ tướng Chính phủ tại buổi kiểm tra hiện trường ngày 29/3/2026 là rất nặng nề trong điều kiện Dự án còn gặp nhiều khó khăn như: khối lượng công việc còn lại lớn; công tác thanh toán còn vướng mắc chưa được xử lý dứt điểm; điều kiện thời tiết thuận lợi cho thi công không còn nhiều; lực lượng lao động trên công trường chưa đáp ứng yêu cầu; giá nhiên liệu, nguyên vật liệu tăng cao,...
Mục tiêu hoàn thành, đưa Dự án vào khai thác thương mại trong năm 2026 là nhiệm vụ bắt buộc phải hoàn thành. Do đó, yêu cầu các chủ thể tham gia Dự án tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung cao độ, nỗ lực, quyết tâm hơn nữa trong triển khai các nhiệm vụ được giao; các Bộ, ngành, địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền các vấn đề phát sinh liên quan đến Dự án; tăng cường phối hợp chặt chẽ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai, hoàn thành Dự án, trong đó cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ sau:
Bộ Công an chỉ đạo các cơ quan chức năng trực thuộc khẩn trương đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý các vi phạm, sai phạm trong quá trình triển khai Dự án, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; tập trung làm rõ mức độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan, nhất là lãnh đạo chủ chốt của các chủ đầu tư, nhà thầu trực tiếp tham gia chỉ đạo thi công; tạo điều kiện để các cá nhân không liên quan trực tiếp đến sai phạm tiếp tục tham gia triển khai Dự án.
Đồng thời, tiếp tục phối hợp với ACV, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương rà soát hồ sơ, tài liệu của các nội dung đang phục vụ công tác điều tra; tạo điều kiện để ACV thực hiện thanh toán đối với các khối lượng, hạng mục, gói thầu không có sai phạm; đồng thời có giải pháp xử lý phù hợp đối với các nội dung có sai phạm.
Bộ Tài chính khẩn trương kiện toàn bộ máy, tổ chức nhân sự tại ACV theo quy định.
Đồng thời, thành lập Tổ công tác để hướng dẫn xử lý các vướng mắc liên quan đến việc thanh toán theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hoàn thành trước ngày 22/4/2026.
Bên cạnh đó, chỉ đạo ACV tiếp tục rà soát các gói thầu về khối lượng, tiến độ, nhân lực, thiết bị, vật tư; yêu cầu các nhà thầu tăng cường nhân lực, thiết bị, tài chính tranh thủ thời tiết thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, bảo đảm tiến độ theo hợp đồng và cam kết, đặc biệt tại gói thầu 4.8, 5.10 DATP3; đàm phán, thống nhất với các nhà thầu các giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong công tác thanh toán, tạm thanh toán trong khi chờ cơ quan chức năng có kết luận chính thức.
Bộ Xây dựng khẩn trương thành lập Tổ công tác, phối hợp với UBND tỉnh Đồng Nai để xử lý các vướng mắc liên quan đến nguồn cung ứng, giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu xây dựng cho Dự án theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hoàn thành trước ngày 22/4/2026.
Hỗ trợ ACV trong công tác điều phối, tổ chức thi công, thủ tục nội nghiệp phục vụ nghiệm thu, thanh toán tại DATP3; chỉ đạo chủ đầu tư các công trình, dự án thành phần khác (Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam…) đẩy nhanh tiến độ các công trình bảo đảm hoàn thành đồng bộ khi đưa Dự án vào vận hành, khai thác; thường xuyên theo dõi tổng hợp, định kỳ báo cáo tình hình thực hiện, các khó khăn, vướng mắc và giải pháp tháo gỡ trong quá trình triển khai thực hiện Dự án.
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam với vai trò là chủ đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ và chất lượng Dự án thành phần 3.
Nghiêm túc triển khai các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng; khẩn trương làm việc trực tiếp với từng nhà thầu, từng gói thầu để xác định rõ khối lượng công việc còn lại, tiến độ thực hiện, khả năng huy động nguồn lực (tài chính, nhân lực, thiết bị, vật liệu, nhiên liệu), các khó khăn, vướng mắc; trên cơ sở đó yêu cầu các nhà thầu có giải pháp tăng cường nguồn lực, tập trung thi công bảo đảm tiến độ theo hợp đồng và cam kết.
Chủ động xử lý các khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; các kiến nghị phải cụ thể, rõ nội dung, rõ phương án xử lý, rõ cơ quan, rõ thời hạn, khắc phục tình trạng đề xuất chung chung.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chủ động có giải pháp bảo đảm nguồn cung nhiên liệu, vật liệu cho Dự án; chỉ đạo các nhà đầu tư tuyến ống dẫn nhiên liệu khẩn trương hoàn thiện thủ tục, triển khai thi công bảo đảm tiến độ.
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng đối với các dự án giao thông kết nối; bảo đảm hoàn thành đồng bộ các dự án kết nối khi đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác thương mại vào cuối năm 2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 702/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án "Chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự".

Ban Chỉ đạo triển khai Đề án “Chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự” tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, đôn đốc, điều phối triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án.
Cụ thể, thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án "Chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự" (Ban Chi đạo) là tổ chức phối hợp liên ngành, thực hiện chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành trong việc triển khai Đề án.
Ban Chỉ đạo gồm các thành viên sau:
Đồng chí Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, Trưởng Ban Chỉ đạo.
Đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo.
Các thành viên Ban Chỉ đạo gồm: Mời đồng chí Nguyễn Đức Thái, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; mời đồng chí Phạm Quốc Hưng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Nguyễn Quốc Trị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng chí Trần Quốc Phương, Thứ trưởng Bộ Tài chính; đồng chí Bùi Hoàng Phương, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Đăng Lực, Phó Trưởng ban Ban Cơ yếu Chính phủ.
Đồng chí Trung tướng Trần Minh Tiến, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an làm Thư ký Ban Chỉ đạo.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, đôn đốc, điều phối triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án; hướng dẫn, điều phối hoạt động phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan liên quan.
Chỉ đạo rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ phục vụ số hóa hồ sơ, ký số và trao đổi, chia sẻ dữ liệu phục vụ hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự theo quy định.
Chỉ đạo xây dựng, tổ chức triển khai các kế hoạch, dự án, nhiệm vụ chuyển đổi số của các bộ, ngành, cơ quan liên quan để bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu phục vụ triển khai Đề án; hạn chế trùng lặp, lãng phí.
Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Đề án; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; điều phối việc huy động nguồn lực và phối hợp liên ngành theo thẩm quyền.
Chỉ đạo bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; bảo vệ bí mật nhà nước; quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu đúng thẩm quyền, đúng quy định; tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá khi cần thiết.
Sơ kết, tổng kết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai Đề án; thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, sử dụng bộ máy hiện có, không làm tăng biên chế; Ban Chỉ đạo tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Bộ Công an sử dụng bộ máy hiện có để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực. Cơ quan thường trực có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo theo quy định./.