In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026.

26/08/2026 20:16
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026- Ảnh 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của 03 Nghị định của Chính phủ về chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ trong Quân đội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng 

Chính phủ ban hành Nghị định số 338/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 03 Nghị định của Chính phủ về chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ trong Quân đội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng. 

Sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn

Trong đó, Nghị định số 338/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 52/2025/NĐ-CP quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu như sau:

"2. Chế độ trợ cấp một lần đối với sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật, được quy định như sau:

a) Sĩ quan thuộc diện dôi dư do thay đổi tổ chức hoặc thay đổi biểu tổ chức, biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền (trừ đối tượng hưởng chính sách, chế độ trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quy định riêng của Chính phủ); sĩ quan hết hạn tuổi giữ chức vụ chỉ huy, quản lý đơn vị theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mà Quân đội không còn nhu cầu bố trí, sử dụng thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

b) Sĩ quan không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này, do sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý thấp hơn nhưng có nguyện vọng nghỉ hưu trước hạn tuổi và được cấp có thẩm quyền đồng ý thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

c) Sĩ quan không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản này, trong năm trước liền kề hoặc trong năm xét nghỉ hưu trước hạn tuổi được cấp có thẩm quyền kết luận không còn đủ tiêu chuẩn về sức khỏe phục vụ Quân đội thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

d) Ngoài chế độ được hưởng quy định tại điểm a hoặc điểm b hoặc điểm c khoản này, sĩ quan khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước hạn tuổi, được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có) theo quy định của pháp luật hiện hành và được trợ cấp một lần theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

Sĩ quan có từ đủ 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì 20 năm đầu công tác được trợ cấp bằng 05 tháng tiền lương; đối với số năm còn lại (từ năm thứ 21 trở đi), mỗi năm được trợ cấp bằng 0,5 tháng tiền lương;

Sĩ quan có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được trợ cấp bằng 05 tháng tiền lương.".

Như vậy, Nghị định số 338/2026/NĐ-CP nâng mức hưởng trợ cấp cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi từ 3 tháng lên mức 5 tháng tiền lương hiện hưởng.

Ngoài ra, sĩ quan khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước hạn tuổi.

Đồng thời được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có) theo quy định pháp luật hiện hành và được trợ cấp một lần theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Nâng các mức trợ cấp với sĩ quan phục viên

Nghị định số 338/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 52/2025/NĐ-CP như sau:

"1. Sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ không đủ điều kiện để nghỉ hưu, nghỉ theo chế độ bệnh binh hoặc không chuyển ngành được thì phục viên; khi phục viên, ngoài hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và các chế độ khác theo quy định của pháp luật hiện hành (nếu có) còn được hưởng các chế độ như sau:

a) Được hưởng trợ cấp tạo việc làm bằng 03 tháng tiền lương; được hỗ trợ đào tạo nghề hoặc giới thiệu việc làm tại các tổ chức giới thiệu việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác;

b) Được hưởng trợ cấp phục viên một lần, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được trợ cấp bằng 1,5 tháng tiền lương.".

So với quy định cũ, mức hưởng trợ cấp tạo việc làm với sĩ quan phục viên được thay đổi từ 6 tháng tiền lương cơ sở thành 3 tháng tiền lương hiện hưởng.

Mức hưởng trợ cấp phục viên (thôi việc) với thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được nâng từ 1 tháng lên 1,5 tháng tiền lương.

Tăng trợ cấp nghỉ hưu trước tuổi cho quân nhân chuyên nghiệp lên 5 tháng lương mỗi năm nghỉ hưu trước hạn

Ngoài ra, Nghị định số 338/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 Nghị định số 151/2016/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp nghỉ hưu.

Theo quy định mới, chế độ trợ cấp một lần đối với quân nhân chuyên nghiệp nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, được quy định như sau:

"a) Quân nhân chuyên nghiệp thuộc diện dôi dư do thay đổi tổ chức hoặc thay đổi biểu tổ chức, biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền (trừ đối tượng hưởng chính sách, chế độ trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quy định riêng của Chính phủ) mà Quân đội không còn nhu cầu bố trí, sử dụng thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

b) Quân nhân chuyên nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này, do cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý thấp hơn nhưng có nguyện vọng nghỉ hưu trước tuổi và được cấp có thẩm quyền đồng ý thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

c) Quân nhân chuyên nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản này, trong năm trước liền kề hoặc trong năm xét nghỉ hưu được cấp có thẩm quyền kết luận không còn đủ tiêu chuẩn về sức khỏe phục vụ Quân đội thì khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm được trợ cấp một lần bằng 05 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi;

d) Ngoài chế độ quy định tại điểm a hoặc điểm b hoặc điểm c khoản này, quân nhân chuyên nghiệp khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước hạn tuổi, được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có) theo quy định của pháp luật hiện hành và được trợ cấp một lần theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

Quân nhân chuyên nghiệp có từ đủ 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì 20 năm đầu công tác được trợ cấp bằng 05 tháng tiền lương; đối với số năm còn lại (từ năm thứ 21 trở đi), mỗi năm được trợ cấp bằng 0,5 tháng tiền lương;

Quân nhân chuyên nghiệp có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được trợ cấp bằng 05 tháng tiền lương.".

Như vậy, quân nhân chuyên nghiệp được nâng mức hưởng trợ cấp cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi từ 3 tháng lên mức 5 tháng tiền lương.

Thay đổi chế độ, chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp phục viên

Bên cạnh đó, Nghị định số 338/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 4 Nghị định số 151/2016/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp phục viên như sau:

Chế độ chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp phục viên theo điểm a, điểm c khoản 3 Điều 40 của Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, được quy định như sau:

1. Được hưởng trợ cấp tạo việc làm bằng 03 tháng tiền lương; được hỗ trợ đào tạo học nghề hoặc giới thiệu việc làm tại các tổ chức giới thiệu việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác.

2. Được hưởng trợ cấp phục viên một lần, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được trợ cấp bằng 1,5 tháng tiền lương.

3. Được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần hoặc bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

4. Được ưu tiên cộng thêm điểm vào kết quả thi tuyển công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thi tuyển.

Nghị định số 338/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 26/8/2026.

Mức hưởng chế độ trợ cấp; thời gian, tiền lương làm căn cứ tính hưởng chế độ trợ cấp quy định tại Nghị định này được áp dụng đối với các trường hợp hy sinh, từ trần hoặc có quyết định nghỉ hưu trước hạn tuổi, phục viên, chuyển ngành, thôi việc kể từ ngày 01/9/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026- Ảnh 2.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin 

Chính phủ ban hành Nghị định số 337/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin.

Trong đó, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

Nghị định nêu các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin gồm:

- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Vận hành, duy trì và phát triển cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị. Duy trì, lưu giữ, cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu thông tin của cơ quan, đơn vị, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, dễ dàng tra cứu, tải về, sử dụng; thực hiện các biện pháp kỹ thuật và quy trình để quản lý, bảo vệ thông tin theo quy định của pháp luật.

- Nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác để người yêu cầu cung cấp thông tin được sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.

- Tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan, đơn vị (nếu có), trên phương tiện thông tin đại chúng và qua mạng Internet.

- Bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin.

- Bố trí hợp lý nơi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị.

Tăng cường các hình thức cung cấp thông tin cho người khuyết tật

Nghị định quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin bao gồm:

- Căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan, đơn vị trang bị, sử dụng các công nghệ, thiết bị hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin phù hợp với dạng tật; tạo điều kiện cho người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng các thiết bị nghe, nhìn, các thiết bị phụ trợ và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để tiếp cận thông tin.

- Bố trí người hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ người khuyết tật gặp khó khăn trong việc điền Phiếu, ký Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin hoặc khó khăn trong việc tiếp cận thông tin.

- Thông tin thuộc khoản 1 Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật phải được kịp thời công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức thuận lợi cho người khuyết tật.

- Tăng cường các hình thức cung cấp thông tin cho người khuyết tật phù hợp với khả năng tiếp cận của người yêu cầu và điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị.

- Lồng ghép các kiến thức, kinh nghiệm cung cấp thông tin đối với người khuyết tật trong các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn cho đầu mối cung cấp thông tin của cơ quan, đơn vị.

Lựa chọn các hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của người dân tộc thiểu số

Nghị định quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin như sau:

1- Việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng các biện pháp phù hợp với từng đối tượng, điều kiện tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, bao gồm:

a) Thông qua cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị;

b) Thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình, trong đó có chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc và hệ thống thông tin cơ sở;

c) Xây dựng tài liệu chuyên đề, tờ rời, tờ gấp, ấn phẩm, video bằng tiếng dân tộc hoặc bằng hình ảnh trực quan, dễ hiểu phù hợp với người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn;

d) Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để chia sẻ thông tin cho công dân; phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong việc tuyên truyền, công khai thông tin theo quy định;

đ) Lồng ghép hoạt động cung cấp thông tin trong các sự kiện văn hóa, chính trị, xã hội của cơ quan, đơn vị, địa phương, trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, truyền thông các chính sách mới của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn;

e) Tăng thời lượng truyền, phát bản tin đối với thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách của người dân sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

2- Thông tin thuộc khoản 1 Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn phải được kịp thời công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức thuận lợi cho người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

3- Căn cứ vào loại thông tin, đối tượng cần cung cấp thông tin, cơ quan, đơn vị lựa chọn các hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn và điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị; bố trí người hướng dẫn, giải thích cho người yêu cầu cung cấp thông tin.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026- Ảnh 3.

Cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên nhưng không thay đổi pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP ngày 25/8/2026 về cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên nhưng không thay đổi pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa.

Nghị quyết này quy định cơ chế chuyển tiếp về việc tiếp tục sử dụng nhãn hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa gắn nhãn hàng hóa đã in, đã sản xuất mang tên cũ của doanh nghiệp để ghi nhãn, đóng gói và lưu thông hàng hóa; áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp thay đổi tên theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp nhưng không làm chấm dứt tồn tại pháp nhân, không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ, mã số doanh nghiệp và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa; đồng thời không thuộc phạm vi áp dụng quy định chuyển tiếp tại khoản 4 Điều 98 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Nguyên tắc, điều kiện áp dụng cơ chế chuyển tiếp

Nghị quyết nêu rõ, việc áp dụng cơ chế chuyển tiếp không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với hàng hóa; không miễn trừ việc tuân thủ các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Doanh nghiệp thay đổi tên được tiếp tục sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ đối với số lượng tồn kho tại ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Nhãn, bao bì được in, sản xuất trước ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới;

b) Doanh nghiệp lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu để chứng minh thời điểm in, sản xuất nhãn, bao bì; số lượng nhãn, bao bì tồn kho tại ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới; tính liên tục của pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa; bảo đảm truy xuất được nguồn gốc hàng hóa;

c) Việc tiếp tục sử dụng không làm sai lệch các thông tin bắt buộc khác trên nhãn, không gây nhầm lẫn về chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng, an toàn của hàng hóa. Thông tin về tên mới của doanh nghiệp phải được công khai và có thể tra cứu thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trang thông tin điện tử của doanh nghiệp (nếu có), phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương thức phù hợp khác.

Cơ chế chuyển tiếp quy định tại Nghị quyết này không áp dụng đối với nhãn, bao bì được đặt in, sản xuất mới mang tên cũ kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới.

Doanh nghiệp được tiếp tục sử dụng bao bì đã in tên cũ để đóng gói hàng hóa trong thời hạn 12 tháng

Theo quy định, doanh nghiệp thay đổi tên được tiếp tục sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ để ghi nhãn, đóng gói hàng hóa trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới.

Hàng hóa được ghi nhãn, đóng gói bằng nhãn, bao bì đã in tên cũ trong thời hạn quy định trên được tiếp tục lưu thông đến hết hạn sử dụng của hàng hóa theo quy định của pháp luật.

Phải công khai việc thay đổi tên doanh nghiệp

Nghị quyết nêu rõ, doanh nghiệp thay đổi tên có trách nhiệm lập và lưu giữ hồ sơ, tài liệu chứng minh thời điểm in, sản xuất nhãn, bao bì; số lượng nhãn, bao bì tồn kho tại ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới; nội dung nhãn tại thời điểm in; chứng từ sản xuất, nhập kho, xuất kho và tài liệu có liên quan; xuất trình cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu.

Đồng thời, phải công khai việc thay đổi tên doanh nghiệp; bảo đảm thông tin về tên mới có thể tra cứu thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trang thông tin điện tử của doanh nghiệp (nếu có), phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương thức phù hợp khác; thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hoặc cập nhật tên mới trong hồ sơ công bố chất lượng, hồ sơ tự công bố sản phẩm, mã số, mã vạch, dữ liệu truy xuất nguồn gốc và các hệ thống quản lý liên quan (nếu có) chậm nhất đến thời điểm hết thời hạn sử dụng nhãn, bao bì quy định nêu trên.

Doanh nghiệp thay đổi tên không đặt in, sản xuất mới nhãn, bao bì mang tên cũ kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới; không sử dụng nhãn, bao bì mang tên cũ để ghi nhãn, đóng gói hàng hóa sau thời hạn quy định.

Doanh nghiệp thay đổi tên chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của hồ sơ, tài liệu chứng minh; về chất lượng, an toàn, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa và việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với hàng hóa sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ theo Nghị quyết này.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026- Ảnh 4.

Quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.

Đáng chú ý, đối với nội dung tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghị định nêu rõ các quy định tự chủ về: Hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cơ cấu tổ chức, nhân sự; tài chính, tài sản và đầu tư của cơ sở giáo dục. Cụ thể:

Tự chủ về hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp

Nghị định quy định cơ sở giáo dục thực hiện quyền tự chủ trong hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; gắn với trách nhiệm giải trình, bảo đảm chất lượng, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục và chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Cơ sở giáo dục được tự chủ trong xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; được tự chủ tuyển sinh, đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật; thực hiện hoạt động bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của pháp luật; được tự chủ hợp tác, liên kết trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật...

Tự chủ về hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Nghị định quy định cơ sở giáo dục được tự chủ xây dựng, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý, khai thác và phát triển các nguồn lực, dữ liệu phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định của pháp luật; việc áp dụng cơ chế chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cơ sở giáo dục được tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật.

Trường hợp hội nghị, hội thảo quốc tế có nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quyền con người, bí mật nhà nước, hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp hoặc có thành phần tham dự thuộc diện theo quy định của pháp luật phải báo cáo, xin phép cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Cơ sở giáo dục được quyết định triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình giáo dục số, công nghệ giáo dục, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; được áp dụng quy định về miễn trừ trách nhiệm pháp lý và thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 và Nghị định số 353/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số.

Tự chủ về cơ cấu tổ chức, nhân sự

Nghị định quy định cơ sở giáo dục công lập thực hiện quyền tự chủ về cơ cấu tổ chức và nhân sự theo quy định của pháp luật có liên quan, bao gồm:

Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục; quyết định cơ cấu tổ chức, thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị thuộc, trực thuộc; quyết định vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong phạm vi đề án tự chủ, chiến lược phát triển đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phù hợp với quy chế tổ chức và hoạt động đã ban hành; đồng thời thực hiện công khai, báo cáo và chịu trách nhiệm về quyết định của cơ sở giáo dục công lập.

Quyết định phê duyệt vị trí việc làm, số lượng người làm việc và quản lý viên chức của cơ sở giáo dục theo quy định; bố trí số lượng cấp phó theo đề án tự chủ của cơ sở giáo dục được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng hoặc bố trí người làm phụ trách kế toán.

Đối với các vị trí viên chức thuộc thẩm quyền quản lý, cơ sở giáo dục quyết định việc tuyển dụng, đánh giá, xếp loại viên chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giao quyền, giao phụ trách, kéo dài thời gian giữ chức vụ, cho thôi giữ chức vụ, tạm đình chỉ, đình chỉ chức vụ, cho từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển; phê duyệt quy hoạch; cử viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng; cho thôi việc, chuyển công tác; xử lý kỷ luật; bố trí, phân công công tác, thay đổi vị trí việc làm; thực hiện chế độ tiền lương; chế độ nghỉ phép hằng năm, nghỉ công tác không hưởng lương, nghỉ hưu và chế độ bảo hiểm xã hội; quản lý hồ sơ viên chức theo quy định.

Cơ sở giáo dục ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ về cơ cấu tổ chức và nhân sự; thực hiện các quyền tự chủ khác về cơ cấu tổ chức và nhân sự theo quy định của pháp luật.

Cơ sở giáo dục có trách nhiệm cập nhật, quản lý và đồng bộ dữ liệu về viên chức, người lao động với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định.

Tự chủ về tài chính, tài sản và đầu tư của cơ sở giáo dục

Nghị định quy định cơ sở giáo dục tư thục tự chủ về nguồn thu, nội dung chi, phân phối kết quả tài chính, sử dụng lợi nhuận sau thuế, quản lý tài sản, huy động vốn, đầu tư theo quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, thuế và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Cơ chế tự chủ trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính của cơ sở giáo dục công lập được quy định như sau:

a) Cơ sở giáo dục quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính theo quy định để phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở vật chất theo các quy chế nội bộ về đầu tư, tài chính, tài sản trên cơ sở bảo đảm quy định của pháp luật có liên quan;

b) Các nội dung chi bao gồm chi trả tiền lương, tiền công, thu nhập tăng thêm, tiền thưởng và các khoản khuyến khích khác trên cơ sở vị trí việc làm và hiệu quả công việc; cơ chế đãi ngộ vượt trội để thuê chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; chi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; chi dịch vụ, quản lý vận hành; chi đầu tư, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản, trang thiết bị; chi trả lãi vay đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp và các khoản chi hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;

c) Các nội dung chi nêu tại điểm b khoản này phải được cụ thể hóa về đối tượng, tiêu chuẩn, định mức chi áp dụng thống nhất trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục;

d) Toàn bộ quy trình sử dụng ngân sách phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm chất lượng đầu ra và tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao.

Phân loại mức độ tự chủ tài chính đối với cơ sở giáo dục công lập và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước

Cơ sở giáo dục được phân loại tự chủ tài chính theo các mức bảo đảm chi thường xuyên, bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo các quy định của pháp luật. Chính sách học phí, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tiếp tục thực hiện theo quy định của Chính phủ về học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực đào tạo, khả năng xã hội hóa, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chiến lược phát triển kinh tế xã hội.

Nhà nước thực hiện cơ chế hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ đối với các ngành, nghề trọng điểm, mũi nhọn, khoa học cơ bản, công nghệ cao, ngành xã hội có nhu cầu khó tuyển sinh, đặt hàng đào tạo cho các đối tượng chính sách và cho các nhiệm vụ phát triển quốc gia quy định tại Nghị định này, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục.

Huy động, tiếp nhận và quản lý các nguồn lực hợp pháp trong và ngoài nước của cơ sở giáo dục công lập

Nghị định quy định cơ sở giáo dục chủ động huy động vốn vay ưu đãi từ các tổ chức tín dụng, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác; xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng số, học liệu số, phòng thí nghiệm chuyên sâu, trung tâm đổi mới sáng tạo, thư viện, ký túc xá cùng các dịch vụ hỗ trợ người học, ưu tiên đối với các cơ sở đào tạo chưa bảo đảm các điều kiện này; quyết định danh mục, quy mô, phương thức huy động và sử dụng nguồn lực phù hợp với chiến lược phát triển của đơn vị và chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư.

Cơ sở giáo dục tự chủ huy động, tiếp nhận các nguồn viện trợ không hoàn lại, tài trợ, quà tặng bằng tiền, hiện vật, tài sản số, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ và các tài sản hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân, pháp nhân trong nước và nước ngoài để nâng cao điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Cơ sở giáo dục quyết định sử dụng các nguồn tài chính hợp pháp của đơn vị để đầu tư cho đảm bảo chất lượng, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp theo quy định của pháp luật; trường hợp sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp phải bảo đảm đúng phạm vi, nội dung, đối tượng và điều kiện chi theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo...

Cơ chế ưu đãi

Ưu đãi về thuế và đất đai: Cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo quy định của pháp luật về thuế và đất đai.

Ưu đãi về tín dụng: Dự án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, xưởng thực hành, cơ sở đổi mới sáng tạo phục vụ nâng cao chất lượng giáo dục được ưu tiên xem xét đưa vào danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay và được áp dụng lãi suất vay ưu dãi từ Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác khi đáp ứng điều kiện cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương.

Ưu đãi về công nghệ: Các khoản đầu tư phát triển hạ tầng số, nền tảng số đồng bộ theo hình thức công tư phục vụ mục đích chuyển đổi số giáo dục được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, công nghiệp công nghệ số, thuế và các quy định pháp luật có liên quan.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/10/2026.

Bổ sung dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026

Tại Nghị quyết số 254/NQ-CP, Chính phủ thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.

Dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) được soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản liên quan; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định.

Đồng thời, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan triển khai xây dựng dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác có liên quan.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/8/2026- Ảnh 5.

Kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 26/8/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi.

Theo đó, Trưởng Ban Chỉ đạo là Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo là Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương.

Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm có: Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đôn Tuấn Phong; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Danh Huy; Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng; Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận; Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đoàn Trung Kiên; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh; Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu; Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Hoàng Nguyên Dinh.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 26/8/2026 và thay thế các Quyết định số 248/QĐ-TTg ngày 26/3/2024, số 249/QĐ-TTg ngày 7/2/2025 và số 1065/QĐ-TTg ngày 2/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi.

Giải thể Hội đồng Quốc gia về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 26/8/2026 về việc giải thể Hội đồng Quốc gia về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được thành lập theo Quyết định số 177/QĐ-TTg ngày 14/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ./.