In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/10/2026.

03/10/2026 14:31
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/10/2026- Ảnh 1.

Áp dụng chế độ phụ cấp cán bộ, công chức cấp xã kể từ ngày 1/7/2026

Quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu 

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 381/2026/NĐ-CP ngày 2/10/2026 quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu.

Đối tượng áp dụng Nghị định này là cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu (gọi tắt là cán bộ, công chức cấp xã).

Mức phụ cấp công vụ

Nghị định số 381/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp công vụ như sau:

1- Mức phụ cấp công vụ bằng 55% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã không được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm.

2- Mức phụ cấp công vụ bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm.

3- Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã tại khoản 2 ở trên được hưởng mức tiền lương, thu nhập tăng thêm thấp hơn mức phụ cấp công vụ 55% thì được hưởng chênh lệch cho bằng mức phụ cấp công vụ 55%.

Nguyên tắc áp dụng

Phụ cấp công vụ được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thời gian không được tính hưởng phụ cấp công vụ, bao gồm:

- Thời gian đi công tác, làm việc học tập ở nước ngoài được hưởng 40% tiền lương theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên;

- Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

- Thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

Cán bộ, công chức cấp xã khi thôi làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu thì thôi hưởng phụ cấp công vụ tại Nghị định này từ tháng tiếp theo.

Nguồn kinh phí chi trả chế độ phụ cấp công vụ quy định tại Nghị định này được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước và tổng hợp vào nhu cầu cải cách tiền lương hàng năm của các địa phương.

Áp dụng chế độ phụ cấp mới kể từ ngày 1/7/2026

Nghị định số 381/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 2/10/2026.

Chế độ phụ cấp quy định tại Nghị định này được áp dụng kể từ ngày 1/7/2026 đến khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương.

Cán bộ, công chức cấp xã áp dụng mức phụ cấp công vụ quy định tại khoản 1 và khoản 3 ở trên mà trong thời gian từ ngày 1/7/2026 đến khi Nghị định có hiệu lực thi hành đã hưởng mức phụ cấp công vụ thấp hơn mức phụ cấp công vụ 55% thì được hưởng chênh lệch cho bằng mức phụ cấp công vụ 55%.

Nghị định số 381/2026/NĐ-CP bãi bỏ các quy định liên quan về cán bộ, công chức cấp xã tại Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủ về chế độ phụ cấp công vụ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/10/2026- Ảnh 2.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030 

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.

Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 theo hướng thay đổi một số mục tiêu của Đề án, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Cụ thể, Quyết định số 1919/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 về mục tiêu và khoản 2 Điều 1 về giải pháp chủ yếu của Đề án.

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 về mục tiêu của Đề án

"1. Mục tiêu:

a) Mục tiêu tổng quát:

Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hoàn thiện, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo thuận lợi để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, góp phần giảm chi phí huy động vốn, giảm mức rủi ro tín dụng quốc gia.

b) Mục tiêu cụ thể:

- Đến năm 2030 đạt mức xếp hạng tín nhiệm từ Baa3 (đối với Moody's) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên.

- Các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế vĩ mô giai đoạn 2026 - 2030: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%.

- Các chỉ tiêu về tài khóa: Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm và kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP.

- Các chỉ tiêu lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu các ngân hàng thương mại giai đoạn 2026 - 2030 tiệm cận chuẩn mực Basel III, muộn nhất đến năm 2030 đạt tỷ lệ an toàn vốn ở mức 8,625%; củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước khi điều kiện thuận lợi.

- Các chỉ tiêu về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8.

- Các chỉ tiêu về môi trường: Tỷ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỷ lệ nước thải sinh hoạt tại các đô thị loại I trở lên được thu gom, xử lý đến năm 2030 đạt khoảng 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%.".

Sửa đổi, bổ sung điểm c, d, đ khoản 2 Điều 1 về các giải pháp chủ yếu của Đề án

Quyết định số 1919/QĐ-TT sửa đổi, bổ sung điểm c, d, đ khoản 2 Điều 1 về các giải pháp chủ yếu của Đề án như sau:

"c) Xây dựng nền tài chính công vững mạnh, mở rộng cơ sở thu bền vững để cải thiện các chỉ số nợ và thúc đẩy củng cố tài khóa.

- Việc điều hành chính sách tài khóa cần tiếp tục được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với mục tiêu duy trì ổn định tài khóa trong trung và dài hạn. Đảm bảo các chỉ tiêu bội chi ngân sách nhà nước; nợ công, nợ Chính phủ so với GDP theo các mục tiêu đã được Quốc hội phê duyệt.

- Chính sách tài khóa mở rộng áp dụng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan tỏa lớn, bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nợ công theo hướng kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng nợ công và tăng cường quản lý rủi ro danh mục nợ. Đồng thời, tăng cường quản lý các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn phát sinh từ bảo lãnh Chính phủ, các dự án đối tác công tư (PPP), doanh nghiệp nhà nước nhằm hạn chế rủi ro chuyển hóa thành nghĩa vụ của ngân sách nhà nước trong tương lai.

d) Cải thiện cơ cấu và chất lượng của khu vực ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước để giảm rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng đối với ngân sách nhà nước.

- Tiếp tục củng cố an toàn hệ thống và hiện đại hóa quản trị hoạt động ngân hàng theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế (bao gồm Basel III) phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam.

- Nâng cao tính minh bạch, khả năng tiếp cận, tính kịp thời và chất lượng của các dữ liệu ngân hàng như dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán và các chỉ tiêu liên quan, phù hợp với lộ trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các thông lệ quốc tế.

- Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện nhiệm vụ "lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế (IIP) của Việt Nam, làm cơ sở cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia khi được yêu cầu.

- Điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

- Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động ngân hàng theo hướng minh bạch, hiệu quả, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

- Phối hợp chặt chẽ giữa thanh tra, giám sát và cấp phép để đảm bảo an toàn hệ thống.

- Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển doanh nghiệp nhà nước tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước theo 04 nhóm giải pháp lớn: (i) tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; (ii) thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; (iii) Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp; (iv) Tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước và các quy định pháp luật liên quan đến doanh nghiệp nhà nước để đáp ứng tình hình mới và tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tế.

đ) Tăng cường hiệu quả, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, hợp tác với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các tổ chức quốc tế.

- Lãnh đạo các bộ, ngành liên quan (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường...) chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý, bố trí trực tiếp chủ trì các buổi làm việc đánh giá xếp hạng tín nhiệm nhằm tăng cường tính thuyết phục, trực tiếp làm rõ và chia sẻ thông tin điều hành cốt lõi.

- Nâng cao chất lượng, tần suất thông tin, số liệu công bố trên trang thông tin điện tử của các bộ, ngành và tổ chức liên quan, làm nguồn khai thác thông tin chính thức phục vụ công tác xếp hạng tín nhiệm.

- Nâng cao tính chủ động, tích cực của các bộ, ngành, tổ chức được giao tham gia công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia trong việc tiếp xúc, trao đổi với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tích cực tham gia các Hội nghị ngành, tọa đàm, diễn đàn nhằm cởi mở, chủ động trong việc chia sẻ thông tin với các tổ chức quốc tế, tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong khuôn khổ đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia và các đoàn đánh giá chuyên đề."

Bổ sung giải pháp về ứng phó biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài

Ngoài việc sửa đổi các giải pháp chủ yếu nêu trên, Quyết định số 1919/QĐ-TTg cũng bổ sung thêm một số giải pháp thực hiện Đề án.

Cụ thể, bổ sung điểm e, g, h vào khoản 2 Điều 1 quy định về giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng; nghiên cứu từng bước tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quản trị quốc gia nhằm đáp ứng tốt hơn xu hướng đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia như sau:

"e) Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

- Xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đẩy mạnh quản trị rủi ro khí hậu dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu theo vùng, dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái; chủ động di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ cao, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân. Xây dựng các chính sách thúc đẩy mô hình phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp. Kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính; xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu; từng bước xây dựng tiêu chuẩn tín chỉ các-bon và phương pháp tạo tín chỉ các-bon trong nước tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế.

- Tiếp tục triển khai các giải pháp khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các đô thị lớn, làng nghề; tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đồng thời, phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

- Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững theo hướng đa mục đích, đa giá trị trên cơ sở quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng. Tiếp tục triển khai trồng rừng, nâng cao chất lượng rừng gắn với bảo vệ rừng. Mở rộng phạm vi, đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng; phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; phát triển các mô hình nông lâm ngư kết hợp, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu dưới tán rừng; phát triển các mô hình tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong lâm nghiệp.

g) Nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng

- Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và đối tác đầu tư nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường lớn và tăng khả năng chống chịu trước các xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới. Chủ động theo dõi, ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại, các tiêu chuẩn, quy định, hàng rào kỹ thuật thương mại quốc tế về môi trường, khí hậu đồng thời tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để mở rộng thị trường xuất khẩu.

- Tiếp tục củng cố an ninh năng lượng quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung, phát triển hạ tầng năng lượng, nâng cao năng lực dự trữ, bảo đảm khả năng cung ứng ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, qua đó nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc về cung và giá năng lượng.

h) Nghiên cứu từng bước tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quản trị quốc gia nhằm đáp ứng tốt hơn xu hướng đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia

- Tăng cường công khai, minh bạch thông tin về các mục tiêu, kết quả thực hiện các cam kết phát triển bền vững, biến đổi khí hậu.

- Nghiên cứu từng bước lồng ghép đánh giá rủi ro do biến đổi khí hậu, rủi ro môi trường vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách tài khóa, đầu tư công và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội." .

Bộ Tài chính chủ trì tổ chức công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia

Ngoài ra, Quyết định số 1919/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 về phân công triển khai Đề án.

Theo đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án; tổ chức tổng kết, đánh giá thực hiện Đề án vào năm 2030; chủ trì, phối hợp với các cơ quan đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nội dung Đề án khi cần thiết; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tiếp nhận và xử lý các câu hỏi, đề nghị cung cấp thông tin liên quan từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tổ chức các hoạt động quảng bá tới nhà đầu tư, tổng hợp kết quả đánh giá báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đồng thời, Bộ Tài chính chủ trì kiện toàn Tổ công tác thực hiện các nhiệm vụ liên quan tới hoạt động xếp hạng tín nhiệm quốc gia nhằm tăng cường công tác cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia; xây dựng kế hoạch triển khai, phối hợp công tác xếp hạng tín nhiệm giữa các cơ quan liên quan mà nòng cốt là Tổ công tác thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động xếp hạng tín nhiệm quốc gia.../.