
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 3/4/2026 về việc tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác đấu thầu.
Chỉ thị nêu: Trong thời gian qua, pháp luật về đấu thầu lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư đã liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, bảo đảm an ninh lương thực, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục…, góp phần tạo dựng khung pháp lý đồng bộ, thống nhất, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng quyền chủ động cho các cơ quan, đơn vị trong hoạt động đấu thầu.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện công tác đấu thầu lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư tại một số bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp còn chưa thực sự bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả; tình trạng tiêu cực, tham nhũng, trục lợi qua các hành vi dàn xếp, thông thầu, chuyển nhượng thầu trái quy định pháp luật vẫn diễn biến phức tạp; còn có tình trạng nhà thầu, nhà đầu tư thực hiện hợp đồng chậm tiến độ, chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả… Bên cạnh đó, một số cơ quan, đơn vị còn tâm lý e ngại, lúng túng, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm thuộc thẩm quyền được phân cấp.
Rà soát toàn diện công tác quản lý đầu tư, xây dựng, mua sắm
Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong việc thực hiện công tác đấu thầu, khắc phục những tồn tại, hạn chế, bảo đảm hoạt động đấu thầu được thực hiện công khai, minh bạch, cạnh tranh, hiệu quả, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tổ chức rà soát toàn diện công tác quản lý đầu tư, xây dựng, mua sắm, bảo đảm chặt chẽ từ khâu khảo sát, lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án, tổng mức đầu tư, thiết kế, dự toán, đến khâu đấu thầu, xây dựng công trình, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán, bảo đảm hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn, tuân thủ quy định của pháp luật.
Tổ chức rà soát các dự án BT đã, đang và dự kiến triển khai, chỉ quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt các dự án thật sự cần thiết, cấp bách, có hiệu quả kinh tế - xã hội, phù hợp quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không đề xuất triển khai dự án BT đối với các công trình có thể thực hiện bằng hình thức đầu tư khác (như áp dụng loại hợp đồng BOT, BLT hoặc có thể bố trí vốn đầu tư công hoặc thu hút nguồn vốn tư nhân thông qua dự án đầu tư kinh doanh). Trường hợp sử dụng quỹ đất để thanh toán, phải xác định rõ vị trí, diện tích, sự phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, giá trị dự kiến của quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư khi lập dự án theo đúng quy định của pháp luật, hiệu quả, tính khả thi, tránh nguy cơ dẫn đến phát sinh lãi vay chậm thanh toán và các vướng mắc, tranh chấp khác khi thanh toán cho nhà đầu tư.
Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan phải chịu trách nhiệm toàn diện trong việc thực hiện công tác đấu thầu thuộc phạm vi quản lý, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không làm phát sinh cơ chế "xin - cho", gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện công tác đấu thầu trong phạm vi phụ trách; thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.
Thường xuyên rà soát, nắm bắt các thông tin, phản ánh, kiến nghị trong đấu thầu để có biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý ngay các hành vi vi phạm, trục lợi, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành các sai phạm lớn. Kiên quyết có biện pháp xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, dàn xếp, thông thầu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động đấu thầu, bảo đảm "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ".
Nghiêm cấm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt không đúng quy định
Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thực hiện ngay các giải pháp sau: Xác định giá gói thầu bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí để thực hiện gói thầu đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật. Khi lập giá gói thầu cần chú trọng rà soát, đánh giá kỹ lưỡng sự phù hợp về giá, phương pháp xác định giá, trường hợp cần thiết có thể tham vấn thị trường hoặc tham khảo thông tin, dữ liệu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để so sánh, đánh giá sự phù hợp về giá của hàng hóa, thiết bị, dịch vụ. Nghiêm cấm mọi hành vi nâng khống giá gói thầu.
Về áp dụng hình thức chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư và lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt:
- Bảo đảm tuân thủ quy định về trường hợp, điều kiện áp dụng hình thức chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, thực hiện trình tự, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật; không trình Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư, lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt đối với các trường hợp đã được pháp luật quy định cụ thể và thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền;
- Nghiêm cấm việc chỉ định nhà thầu, nhà đầu tư, lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt không đúng quy định hoặc lợi dụng quy định nhằm mục đích trao thầu cho các nhà thầu, nhà đầu tư "thân hữu, quen thuộc", không bảo đảm năng lực để thực hiện gói thầu, dự án, làm thất thoát, lãng phí ngân sách, nguồn lực đất đai của Nhà nước, tạo cơ chế "xin - cho", trục lợi, tiêu cực, lợi ích nhóm;
- Chủ đầu tư chịu trách nhiệm xác định nhà thầu có khả năng thực hiện gói thầu khi áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn. Tập trung rà soát việc bố trí, huy động nguồn lực (nhân sự, thiết bị, tài chính…), giải pháp kỹ thuật của nhà thầu để triển khai gói thầu đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng, đặc biệt trong trường hợp nhà thầu thực hiện đồng thời nhiều gói thầu trong cùng thời điểm.
Về lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu:
- Tổ chức lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo đúng quy định, bảo đảm tuân thủ đầy đủ nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm giải trình; khắc phục triệt để tình trạng xây dựng tiêu chí trong hồ sơ mời thầu không phù hợp với quy mô, tính chất gói thầu, dự án, tiêu chí mang tính định hướng dẫn đến hạn chế hoặc tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu, nhà đầu tư cụ thể;
- Lựa chọn tư vấn đấu thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện công việc tư vấn đảm bảo yêu cầu về chất lượng, tiến độ, không để xảy ra vi phạm. Hợp đồng tư vấn phải quy định rõ trách nhiệm của tư vấn đấu thầu, các điều kiện ràng buộc và chế tài phạt hợp đồng khi tư vấn đấu thầu vi phạm hoặc không đảm bảo yêu cầu chất lượng, tiến độ tại hợp đồng ký kết.
Về ký kết, quản lý thực hiện hợp đồng:
- Việc ký kết hợp đồng phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng phải có biện pháp tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu, nhà đầu tư; đôn đốc nhà thầu, nhà đầu tư tập trung huy động nguồn lực (nhân sự, máy móc thiết bị, tài chính…) để triển khai thực hiện các công việc của gói thầu, dự án theo đúng nghĩa vụ, trách nhiệm trong hợp đồng đã ký, bảo đảm tiến độ, chất lượng. Quản lý chặt chẽ việc tạm ứng, thu hồi tạm ứng, bảo đảm nguồn vốn tạm ứng được sử dụng đúng đối tượng, đúng mục đích; rà soát tình trạng hiệu lực các bảo lãnh của nhà thầu, nhà đầu tư (bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…). Xử lý nghiêm vi phạm và công khai thông tin nhà thầu, nhà đầu tư vi phạm hợp đồng;
- Kiểm soát chặt chẽ việc lựa chọn, đề xuất sử dụng nhà thầu phụ của nhà thầu, rà soát danh sách toàn bộ nhà thầu, nhà thầu phụ, giá trị và nội dung hợp đồng, các hợp đồng thuê nhân công, thiết bị, các đơn vị được huy động tham gia thực hiện dự án trên công trường. Tuyệt đối không để xảy ra việc chuyển nhượng thầu, sử dụng nhà thầu phụ trái quy định của pháp luật;
- Nghiêm cấm việc chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng thông đồng với nhà thầu, nhà đầu tư, đơn vị tư vấn (tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án…) để hợp thức hóa hồ sơ, thủ tục, làm sai lệch kết quả, tăng khống khối lượng nghiệm thu, thanh toán hợp đồng dẫn đến thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, nguồn lực đất đai;
- Tăng cường trách nhiệm của tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án trong quá trình thực hiện hợp đồng. Yêu cầu tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo hợp đồng và quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện, báo cáo chủ đầu tư về các sai sót, vi phạm của nhà thầu trong quá trình thi công, cung cấp hàng hóa, dịch vụ, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước chủ đầu tư nếu để xảy ra sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tư vấn dẫn đến thất thoát, lãng phí, không bảo đảm chất lượng công trình, dự án;
- Đối với các hợp đồng có phần công việc ký kết với nhà thầu bằng ngoại tệ, chủ đầu tư phải rà soát, xác định rõ các công việc sử dụng chi phí ngoài nước, chi phí trong nước; có biện pháp kiểm soát rủi ro biến động về tỷ giá.
Thủ tướng yêu cầu phải giải quyết kịp thời, thấu đáo các kiến nghị về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo đúng trình tự, thẩm quyền và thời gian theo quy định của pháp luật, trong đó phải có ý kiến, kết luận rõ ràng, cụ thể về các kiến nghị của nhà thầu, nhà đầu tư, không để xảy ra tình trạng kiến nghị, khiếu nại kéo dài; xử lý nghiêm nhà thầu, nhà đầu tư cố tình kiến nghị sai sự thật để cản trở hoạt động đấu thầu.
Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động đấu thầu
Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu chủ đầu tư cập nhật, đăng tải đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn các thông tin trong đấu thầu theo quy định của pháp luật (trong đó có các nội dung về thông tin chủ yếu của hợp đồng; kết quả thực hiện hợp đồng; uy tín của nhà thầu; chất lượng hàng hóa đã qua sử dụng; thông tin xử lý vi phạm…); thực hiện chế độ báo cáo công tác đấu thầu theo đúng quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh mua sắm tập trung đối với các loại hàng hóa, dịch vụ có nhu cầu sử dụng thường xuyên, khối lượng lớn tại nhiều cơ quan, đơn vị nhằm tận dụng lợi thế quy mô, giảm chi phí mua sắm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Chủ động rà soát, mở rộng danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện mua sắm tập trung; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của các đơn vị mua sắm tập trung; tăng cường áp dụng đấu thầu qua mạng đối với hình thức này.
Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động đấu thầu. Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng các gói thầu, dự án quan trọng, có giá trị lớn áp dụng hình thức chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, gói thầu, dự án có nhiều kiến nghị thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, mua sắm hiện nay, đặc biệt đối với hoạt động đầu tư, mua sắm khi triển khai chính quyền địa phương 02 cấp.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 3/4/2026 về việc đẩy mạnh công tác huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030.
Chỉ thị nêu: Trong giai đoạn 2020 - 2024, Đề án "Huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài" (được phê duyệt tại Quyết định số 1797/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ), đã được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, góp phần thực hiện hiệu quả Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã được phát huy mạnh mẽ trong việc xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước, kết nối cung cầu, giới thiệu, tiêu thụ hàng Việt Nam và phát triển hệ thống phân phối ở nước ngoài, góp phần thiết thực vào xuất khẩu của doanh nghiệp; đồng thời góp phần quảng bá và lan tỏa hình ảnh, văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam tới bạn bè quốc tế. Đề án là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, phát huy được nguồn lực và vai trò chiến lược của các doanh nhân, hiệp hội doanh nghiệp và toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, tạo đột phá chiến lược, kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho giai đoạn 2026 - 2030. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược: Đổi mới, xây dựng và thi hành pháp luật; đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; đột phá về phát triển giáo dục, đào tạo; về chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; về phát triển văn hóa Việt Nam... đang mở ra cơ hội lịch sử, có tính bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước. Việt Nam đang bước vào giai đoạn "tăng tốc - bứt phá" nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường huy động người Việt ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đồng thời, công tác này cũng đứng trước những yêu cầu mới: (i) Cần coi trọng hơn nữa vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần đẩy mạnh và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên tiêu chuẩn xanh/số; hướng tới tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới; (ii) Cần phát huy thế mạnh của cộng đồng trong việc thông tin, cập nhật, cảnh báo sớm về các thị trường, hỗ trợ kết nối cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh xu hướng bảo hộ, tranh chấp thương mại lan rộng; (iii) Cần triển khai bài bản, chuyên nghiệp, hiệu quả hơn, tăng cường tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm Việt Nam quy mô lớn có sự tham gia của doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài, có tính lan tỏa cao.
Tăng mạnh tỷ trọng hàng Việt Nam trong hệ thống phân phối của người Việt Nam ở nước ngoài
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Chỉ thị đặt các mục tiêu:
Huy động người Việt Nam ở nước ngoài phát huy vai trò chiến lược, là lực lượng tại chỗ trong hoạt động giới thiệu, tiêu thụ và phân phối sản phẩm Việt Nam, giữ vững các thị trường truyền thống, đưa hàng hóa Việt Nam vào các hệ thống phân phối, siêu thị, trung tâm thương mại lớn, có uy tín, tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, nhất là tại các thị trường ta đang có lợi thế, có cộng đồng người Việt đông đảo; ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Phấn đấu đến năm 2030, huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam tại tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ có sự hiện diện của cộng đồng người Việt Nam, huy động tất cả các hội doanh nhân người Việt Nam tại các nước tham gia, hình thành mạng lưới phân phối hàng hóa Việt Nam do người Việt Nam đóng vai trò chủ đạo.
Tăng mạnh tỷ trọng hàng Việt Nam trong hệ thống phân phối của người Việt Nam ở nước ngoài, đẩy mạnh thương mại điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp gắn liền với ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và quảng bá hàng Việt Nam bằng các hình thức đa dạng, hiện đại.
Gắn kết công tác huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam với việc nâng cao sức cạnh tranh, chống hàng giả, gian lận thương mại, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ thương hiệu quốc gia.
Đẩy mạnh đa dạng hóa các hoạt động, nhất là các hội chợ, triển lãm quy mô lớn, có uy tín; khuyến khích tổ chức chuỗi các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, quảng bá có sự tham gia của doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài nắm bắt, thông tin cho các doanh nghiệp trong nước về tình hình thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, các chính sách nhập khẩu, các quy định, biện pháp bảo hộ thương mại; đồng thời hỗ trợ bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp thương mại.
Để đạt được mục tiêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện các nhiệm vụ sau:
Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động xuất khẩu, phân phối hàng Việt Nam
Bộ Ngoại giao là đầu mối theo dõi, điều phối, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện và tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện Chỉ thị; chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, cơ quan liên quan thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài trong phạm vi lĩnh vực quản lý, đảm bảo quyền lợi chính đáng nhằm thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động xuất khẩu, phân phối hàng Việt Nam.
Đẩy mạnh công tác ngoại giao kinh tế, chú trọng các biện pháp vận động chính trị - ngoại giao để tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài. Hỗ trợ, tư vấn các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài kết nối các nguồn lực quốc tế nhất là vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị, tham gia thẩm định đối tác trong quá trình tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài.
Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài: (i) Củng cố, thành lập các hội doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài tại địa bàn; (ii) Triển khai các biện pháp cụ thể nhằm kết nối và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào chuỗi giá trị phân phối hàng hóa Việt Nam, bao gồm các hoạt động lưu kho, phân phối, logistic, kiểm định sản phẩm... ở sở tại và mở rộng ra khu vực, liên khu vực.
Kết nối doanh nghiệp trong và ngoài nước
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp trong và ngoài nước; vận động, hỗ trợ doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài và trong nước tham gia chuỗi phân phối toàn cầu, phát triển trung tâm logistic, kho hàng, điểm kiểm định, góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu và hiện diện của hàng Việt Nam tại thị trường quốc tế; lồng ghép hiệu quả với triển khai thực hiện Đề án "Thúc đẩy Doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030" và Chương trình vươn ra thị trường quốc tế (Go Global).
Đẩy mạnh giới thiệu và quảng bá Chương trình Thương hiệu quốc gia (Vietnam Value) và các sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia thông qua hệ thống thương vụ, các hoạt động xúc tiến thương mại. Ưu tiên hỗ trợ, kết nối các doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài tiêu thụ các sản phẩm mang Thương hiệu quốc gia tại thị trường nước ngoài, nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia và uy tín sản phẩm Việt Nam.
Khuyến khích, tạo điều kiện để gia tăng số lượng doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, trực tiếp tham gia sản xuất hàng hóa tại Việt Nam, nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng, xuất khẩu và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm, hàng hóa Việt Nam tại khu vực và trên thế giới; phối hợp hỗ trợ, tư vấn các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài kết nối các nguồn lực quốc tế nhất là vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị.
Thúc đẩy triển khai hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết; đẩy mạnh công tác thông tin, phổ biến, tuyên truyền và xây dựng cơ sở dữ liệu về FTA cho doanh nghiệp trong và ngoài nước, qua đó giúp doanh nghiệp, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài nắm bắt cam kết về FTA, tận dụng ưu đãi, tăng cường giao thương, mở rộng thị trường với các đối tác FTA.
Chỉ đạo các cơ quan thương vụ thực hiện vai trò hỗ trợ, kết nối, thúc đẩy mở rộng các kênh phân phối hàng Việt Nam tại thị trường nước ngoài; khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, phân phối hàng Việt Nam; đồng thời thúc đẩy việc ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá và phân phối hàng Việt Nam tại thị trường sở tại...
Thu hút, khuyến khích thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia khởi nghiệp sáng tạo
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp triển khai hoạt động kết nối: chủ trì tổ chức các hoạt động nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài kết nối với các quỹ đầu tư, vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo trong nước; đẩy mạnh thu hút nguồn lực tài chính, chất xám, kinh nghiệm quốc tế phục vụ nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Khuyến khích quảng bá, phân phối sản phẩm công nghệ số của Việt Nam: hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quảng bá, phân phối các sản phẩm công nghệ số "Make in Viet Nam", đặc biệt là các sản phẩm công nghệ số chiến lược như trí tuệ nhân tạo, blockchain, UAV, bán dẫn... ra thị trường khu vực và thế giới; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài và doanh nghiệp trong nước mở rộng hoạt động ra nước ngoài trong quá trình đăng ký, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm số (bản quyền phần mềm, bằng sáng chế công nghệ); phát huy vai trò cầu nối của người Việt Nam ở nước ngoài trong việc mở rộng thị trường quốc tế cho sản phẩm công nghệ số, công nghệ số chiến lược của Việt Nam.
Đồng thời, phối hợp với người Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số trong nước đưa sản phẩm lên các chợ ứng dụng số và nền tảng điện toán đám mây quốc tế; tư vấn, hỗ trợ tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, pháp lý tại thị trường sở tại, giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tiếp cận và cạnh tranh toàn cầu.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xúc tiến thương mại số: tổ chức các chương trình quảng bá công nghệ số quốc tế, giới thiệu gian hàng quốc gia của Việt Nam (do người Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ) tại các hội chợ, triển lãm công nghệ lớn nhằm lan tỏa thương hiệu công nghệ số Việt Nam, thúc đẩy hợp tác, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm công nghệ số "Make in Viet Nam".
Thu hút, khuyến khích thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia khởi nghiệp sáng tạo: phối hợp tổ chức, mời gọi thế hệ trí thức, chuyên gia, nhà đầu tư và doanh nhân trẻ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các sự kiện, diễn đàn, cuộc thi về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ số do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì; kết nối trực tiếp với các dự án, sản phẩm đổi mới sáng tạo cụ thể của Việt Nam, tạo môi trường hợp tác, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan giải quyết các vướng mắc, khó khăn cho các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương hỗ trợ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào hoạt động sản xuất và phát triển nông nghiệp; thực hiện chương trình kết nối doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài về nước tìm hiểu các mặt hàng nông sản thế mạnh, cơ sở sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu chủ lực...

Chính phủ có Nghị quyết số 75/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 02-CT/TW ngày 31/01/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong tình hình mới (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình nhằm tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Chỉ thị số 02-CT/TW ngày 31/01/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong tình hình mới.
Đồng thời, xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện; nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức và hành động của các cấp, các ngành và Nhân dân đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại về người, tài sản, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
Để đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra tại Chỉ thị số 02-CT/TW, các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện 7 nhiệm vụ sau:
1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ; gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Đổi mới tư duy, thống nhất về nhận thức và hành động, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cán bộ, đảng viên, người lao động tự giác chấp hành pháp luật, tích cực tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
2. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức, pháp luật, kỹ năng về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ; triển khai tích hợp, lồng ghép kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ vào chương trình giảng dạy trong các cơ sở giáo dục.
Đồng thời, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả, xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, khu dân cư, hộ gia đình.
3. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm, tiêu cực, tham nhũng, khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
4. Nâng cao năng lực, hiệu quả, xây dựng cơ chế phối hợp, thống nhất chỉ huy, điều hành giữa các lực lượng trong triển khai nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
Bên cạnh đó, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện sẵn sàng ứng phó kịp thời khi có cháy, nổ, tai nạn, sự cố, hạn chế thấp nhất hậu quả thiệt hại về người và tài sản; định kỳ tổ chức tập huấn, thực tập các phương án xử lý tình huống cháy, nổ, tai nạn, sự cố đối với khu dân cư, cơ sở có nguy cơ cao về cháy, nổ.
Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
5. Rà soát, triển khai quy hoạch hạ tầng phòng cháy, chữa cháy đồng bộ với quy hoạch tổng thể và các quy hoạch ngành, quy hoạch quốc gia có liên quan; khắc phục, tháo gỡ những khó khăn, bất cập về giao thông, nguồn nước phục vụ công tác chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, nhất là tại các khu vực có mật độ dân cư cao.
Ngoài ra, bố trí các nguồn kinh phí của trung ương, địa phương và huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư xây dựng, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất, mua sắm, trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
6. Ứng dụng hiệu quả khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ, thiết bị, phương tiện tiên tiến trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
Đồng thời, triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ phục vụ công tác quản lý, điều hành từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường hợp tác quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực này.
7. Tăng cường đầu tư tiềm lực cho lực lượng chuyên trách về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tình hình mới; đầu tư, xây dựng các trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên sâu, hiện đại để nâng cao năng lực cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, trong đó nêu rõ nguyên tắc, quy trình vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp.
Nghị quyết này quy định về một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước và vùng hạ du trong trường hợp mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; mưa, lũ gây ngập lụt ở hạ du hồ chứa trên diện rộng có nguy cơ gây thiệt hại lớn về người, tài sản và các công trình cơ sở hạ tầng; động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế trên lưu vực hồ chứa nước hoặc tác động khác gây mất an toàn cho đập (tình huống khẩn cấp).
Nguyên tắc vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp
Về vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp, Nghị quyết nêu rõ, vận hành hồ chứa phải bảo đảm nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước, phòng thủ dân sự, phòng, chống thiên tai và pháp luật có liên quan.
Ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để thực hiện nhiệm vụ cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ chứa, đơn hồ trong mùa mưa lũ và trong tình huống dự báo có thể xảy ra mưa lũ lớn, đặc biệt lớn trên lưu vực.
Phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong vận hành hồ chứa, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.
Quy trình vận hành
Quy trình vận hành, Lệnh vận hành liên hồ và đơn hồ chứa do cơ quan có thẩm quyền ban hành, đồng thời đảm bảo các quy định sau: vận hành hồ chứa theo diễn biến mưa, lũ thực tế trong năm; điều hành mực nước trước lũ theo các kịch bản mưa, lũ lớn, cực đoan để tăng tối đa dung tích phòng lũ; sử dụng một phần dung tích phòng lũ từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế để cắt, giảm lũ cho hạ du.
Về trách nhiệm chỉ đạo vận hành, Nghị quyết quy định Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng; các lưu vực sông khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.
Trường hợp dự báo lũ về hồ có khả năng vượt lưu lượng hoặc mực nước lũ thiết kế hoặc mực nước lũ ở hạ du có nguy cơ vượt mức nước lũ lịch sử hoặc các tình huống bất thường khác có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn đập, hồ chứa nước, công trình đê điều hoặc đe dọa đến an toàn dân cư ở hạ du, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuyên môn, chuyên gia tính toán xây dựng các kịch bản, hỗ trợ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định vận hành các hồ chứa trên địa bàn để bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước, công trình đê điều và dân cư.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2026.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP ngày 14/1/2026 và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 của Chính phủ
Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP ngày 14/1/2026 và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 của Chính phủ.
Bổ sung quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
Nghị định số 100/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 9a quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ vào sau Điều 9 như sau:
" Điều 9a. Quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện lập, lưu giữ Danh mục quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để sử dụng cho các mục đích quản trị nội bộ sau đây:
a) Quản lý, theo dõi tình trạng pháp lý của các quyền sở hữu trí tuệ;
b) Làm căn cứ để thực hiện định giá, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại và các mục đích hợp pháp khác;
c) Thông tin để minh chứng nguồn lực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp đối với đối tác, nhà đầu tư;
d) Xây dựng chiến lược về việc khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
đ) Các hoạt động khác mà luật không cấm.
2. Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này được lập dưới hình thức bản giấy hoặc bản điện tử, bao gồm các thông tin cơ bản sau:
a) Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;
b) Tình trạng pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ (căn cứ phát sinh, xác lập quyền); thời hạn bảo hộ; các thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ về phí, lệ phí (nếu có), v.v...;
c) Thông tin về tác giả, đồng tác giả;
d) Nguồn gốc hình thành (tự tạo ra, kế thừa, được tặng cho, v.v..
đ) Chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra, đăng ký, xác lập quyền;
e) Tình trạng sử dụng, khai thác (tự khai thác, chuyển quyền sử dụng, v.v...); giá trị thu được từ việc sử dụng, khai thác (nếu có).
g) Giá trị ước tính (do tổ chức, chuyên gia định giá đưa ra hoặc tự ước tính nội bộ) (nếu có).
3. Việc lập Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này không thay thế cho các nghĩa vụ ghi nhận, trình bày báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán.
4. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện rà soát, cập nhật Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này hằng năm hoặc khi phát sinh thay đổi về tình trạng pháp lý, giá trị của quyền sở hữu trí tuệ.
5. Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình triển khai các hoạt động để khuyến khích tổ chức, cá nhân có liên quan khai thác quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật, thực hiện hỗ trợ xác định giá trị đối với các quyền sở hữu trí tuệ tạo ra từ ngân sách nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghệ chiến lược, công nghệ cao, công nghệ xanh và quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với chiến lược phát triển ngành, địa phương; thúc đẩy hình thành và phát triển các tổ chức trung gian hỗ trợ cho hoạt động phát triển, khai thác, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ.".
Tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Đồng thời, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 9đ quy định về tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vào sau Điều 9d như sau:
" Điều 9đ. Tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, đầu tư, xây dựng và triển khai hệ thống tự động hóa quy trình, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm soát, phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm các mục tiêu sau:
a) Phát hiện, giám sát và theo dõi tự động hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng thông qua việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ phân tích dữ liệu lớn và phân tích hành vi;
b) Xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo thẩm quyền, bao gồm việc yêu cầu gỡ bỏ nội dung xâm phạm, tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động của tài khoản xâm phạm và phối hợp xử lý các vụ việc có yếu tố nước ngoài thông qua các cơ chế hợp tác, kết nối quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
c) Phân quyền truy cập, lưu nhật ký thao tác, kiểm tra định kỳ chất lượng hệ thống để tránh sai lệch hoặc tránh bị can thiệp.
2. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tăng cường đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
3. Phạm vi tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tiếp nhận, phân loại thông tin, vụ việc; đối chiếu dữ liệu quyền sở hữu trí tuệ trong cơ sở dữ liệu; cảnh báo, thống kê, báo cáo; hỗ trợ trích xuất dữ liệu phục vụ kiểm tra, xử lý và các hoạt động khác có liên quan.
4. Kết quả hoạt động tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là dữ liệu hoặc khuyến nghị nghiệp vụ, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hoặc người có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ".
Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
Cùng với đó, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 10a quy định quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo vào sau Điều 10 như sau:
" Điều 10a. Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
1. Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí do con người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra chỉ được xác lập theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu con người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra các đối tượng đó.
Người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra các đối tượng đó thì được coi là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Sở hữu trí tuệ.
2. Con người được coi là có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp con người thực hiện toàn bộ các hoạt động sau:
a) Xác định vấn đề cần giải quyết, trong đó phải bao hàm cả ý tưởng về giải pháp, không chỉ là mô tả vấn đề chung chung;
b) Lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của con người, không chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động từ hệ thống trí tuệ nhân tạo;
c) Đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh, thử nghiệm (nếu có) và diễn giải kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, trong đó việc tinh chỉnh phải làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra giá trị mới;
d) Quyết định kết quả cuối cùng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí yêu cầu được bảo hộ.
3. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không đáp ứng quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người tạo ra có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đó với điều kiện không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
4. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.".
Điều kiện để được thẩm định nhanh đơn đăng ký sáng chế, đăng ký nhãn hiệu
Ngoài ra, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 14a thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu vào sau Điều 14b như sau:
" Điều 14a. Thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu
1. Đơn đăng ký sáng chế được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:
a) Sáng chế nêu trong đơn đăng ký thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;
b) Sáng chế là đối tượng nêu trong đơn đăng ký đã được khai thác thương mại;
c) Đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu công bố sớm được nộp tại thời điểm nộp đơn;
d) Đơn đăng ký sáng chế có không quá 10 điểm yêu cầu bảo hộ, trong đó có không quá 02 điểm độc lập;
đ) Đơn đăng ký sáng chế không phải là đơn tách hoặc đơn chuyển đổi;
e) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.
2. Đơn đăng ký nhãn hiệu được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:
a) Đơn đăng ký nhãn hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a1) Nhãn hiệu được sử dụng cho hàng hoá được sản xuất theo sáng chế thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;
a2) Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là một trong những tài liệu hoặc điều kiện bắt buộc mà người nộp đơn phải có khi thực hiện thủ tục đăng ký hoặc xin cấp phép để được tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật.
b) Đơn đăng ký nhãn hiệu là đơn được nộp trực tiếp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (không phải là đơn quốc tế theo quy định tại Điều 120 của Luật Sở hữu trí tuệ);
c) Nhãn hiệu nêu trong đơn đăng ký không phải là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu ba chiều hoặc nhãn hiệu âm thanh;
d) Trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu cho nhiều hàng hóa, dịch vụ thì điều kiện nêu tại điểm a trên đây phải đáp ứng đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ nêu trong đơn;
đ) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.
3. Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu phải được làm bằng văn bản theo mẫu quy định và phải được nộp đồng thời tại thời điểm nộp đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu đó.
4. Đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh được tiếp tục xử lý theo các thời hạn quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh không đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này;
b) Phát sinh tranh chấp, khiếu nại hoặc có ý kiến phản đối theo quy định tại Điều 112a của Luật Sở hữu trí tuệ đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh;
c) Dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu được yêu cầu thẩm định nhanh trùng hoặc tương tự với dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu của người khác có ngày nộp đơn sớm hơn trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên mà đơn đó chưa được xử lý xong;
d) Người nộp đơn chủ động sửa đổi, bổ sung đơn hoặc tách đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu sau khi có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh.
5. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định mẫu đơn yêu cầu thẩm định nội dung nhanh và quy định chi tiết việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu.

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam (Chương trình).
Chương trình đặt mục tiêu chung hoàn thiện và triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách đột phá để thu hút, trọng dụng và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam; qua đó tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần từng bước đưa nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế vào năm 2035.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2035, thu hút ít nhất 30 chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, có khả năng đảm nhiệm vị trí dẫn dắt, chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm tạo đột phá trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ then chốt, chiến lược.
Thu hút 500 chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài có nguyện vọng làm việc toàn thời gian tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam; có khả năng đảm nhiệm vị trí trưởng nhóm nghiên cứu, trưởng phòng thí nghiệm, giám đốc các chương trình đào tạo thuộc các lĩnh vực công nghệ then chốt, chiến lược, mũi nhọn, ưu tiên.
Thu hút 1500 chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, giảng dạy, nghiên cứu, hợp tác thường xuyên hoặc cộng tác từ xa với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp như hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách; xây dựng hệ sinh thái, khai thác, cập nhật mạng lưới kết nối chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam là điểm đến học thuật, nghiên cứu có uy tín; xây dựng môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, hiện đại; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo; tăng cường giám sát, đánh giá, sơ kết và nhân rộng.
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng
Về hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, Chương trình nhấn mạnh việc xây dựng ban hành quy định tiêu chuẩn, điều kiện đối với chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và làm việc tại Việt Nam, trong đó ưu tiên các ngành khoa học, công nghệ chiến lược, then chốt và các ngành kinh tế trọng điểm; xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đặc thù, bảo đảm minh bạch, đồng bộ và phù hợp thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng, thuế thu nhập cá nhân; quy định về công nhận tương đương các chức danh giáo sư, phó giáo sư và giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp được phong tặng ở nước ngoài; đảm bảo điều kiện làm việc, nghiên cứu và môi trường học thuật thuận lợi.
Ngoài ra, cơ chế, chính sách quy định về tài chính và tự chủ của các cơ sở giáo dục được điều chỉnh theo hướng tăng quyền phân cấp, cho phép chủ động phân bổ kinh phí, chi trả thu nhập theo hiệu quả công việc; đồng thời xây dựng cơ chế thưởng gắn với kết quả đầu ra.
Chương trình cũng đặt ra yêu cầu về việc cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép lao động, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cấp thị thực cư trú và các thủ tục khác liên quan. Xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi về môi trường sống, nhà ở và các dịch vụ công thiết yếu nhằm giúp chuyên gia, nhà khoa học và gia đình được ổn định cuộc sống tại Việt Nam.
Tạo dựng hệ sinh thái, mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học
Về xây dựng hệ sinh thái, khai thác, cập nhật mạng lưới kết nối chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, Chương trình sẽ khai thác, cập nhật, chia sẻ cơ sở dữ liệu về chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài trên cơ sở nguồn lực hiện có tại các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức liên quan.
Xây dựng, khai thác và kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học thông qua các mạng lưới trí thức, hiệp hội, doanh nghiệp; định kỳ hàng năm tổ chức các diễn đàn, hội thảo kết nối và vinh danh chuyên gia tiêu biểu nhằm tạo động lực thu hút người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc.
Thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ; chú trọng phát triển mạng lưới, tạo động lực cho chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài cống hiến cho hệ thống giáo dục Việt Nam; nghiên cứu, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài về nước thực tập, giao lưu, kết nối với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.
Tạo dựng hệ sinh thái, mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, năng lượng nguyên tử, khoa học công nghệ chiến lược, mũi nhọn, các ngành kinh tế trọng điểm; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và tạo nguồn chuyên gia, nhà khoa học có khả năng đảm nhiệm vị trí dẫn dắt, chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ.

Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 609/QĐ-TTg ngày 3/4/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia về an toàn trong sử dụng điện giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình).
Hình thành thói quen, văn hóa sử dụng điện an toàn
Chương trình quốc gia về an toàn trong sử dụng điện được triển khai từ năm 2026 đến hết năm 2035 trên phạm vi cả nước với mục tiêu tổng quát nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hình thành thói quen, văn hóa sử dụng điện an toàn trong đời sống xã hội; chú trọng công tác phòng ngừa tai nạn, sự cố do điện, bảo đảm an toàn tính mạng cho người sử dụng điện, cho cộng đồng, tài sản của tổ chức, cá nhân, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.
Huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế cho việc thúc đẩy giải pháp kỹ thuật, quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ, tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức, kỹ năng sử dụng điện an toàn theo quy định của pháp luật về điện lực.
Phấn đấu đến năm 2035, giảm đến 50% số vụ cháy do chập điện
Chương trình phấn đấu đến năm 2035, giảm đến 50% số vụ cháy do chập điện, số vụ tai nạn do điện giật so với giai đoạn 2020 - 2025. Phấn đấu 100% số cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ gia đình được tư vấn, hướng dẫn tự đánh giá mức độ an toàn đối với hệ thống điện.
100% các thiết bị, dụng cụ điện được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường phải được kiểm soát chất lượng đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Khuyến khích lắp đặt thiết bị bảo vệ an toàn điện thông minh cho hệ thống điện trong cơ sở sản xuất, công trình nhà ở, thương mại, dịch vụ, hướng tới mục tiêu trang bị 100% cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; hoàn thiện tài liệu, giáo trình hướng dẫn về an toàn trong sử dụng điện và bổ sung vào chương trình đào tạo của các cấp học phổ thông toàn quốc.
Phấn đấu hoàn thành và nhân rộng kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, giải pháp kỹ thuật về an toàn sử dụng điện theo điều kiện thực tế.
Nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình là: Rà soát, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về an toàn trong sử dụng điện; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quản lý nâng cao mức độ an toàn trong sử dụng điện; tăng cường công tác thông tin và tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho tổ chức, cá nhân, cộng đồng về an toàn trong sử dụng điện; tăng cường năng lực cho lực lượng quản lý và tư vấn, hướng dẫn về an toàn trong sử dụng điện; tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra về an toàn trong sử dụng điện và kiểm soát chất lượng sản phẩm thiết bị điện lưu thông trên thị trường; tăng cường quan hệ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực điện lực về an toàn trong sử dụng điện.
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong việc cảnh báo mất an toàn điện
Trong đó, Chương trình xây dựng và triển khai nhiệm vụ, dự án nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất, chế tạo các loại thiết bị thông minh cảnh báo chập cháy, rò điện, tự động ngắt mạch bảo vệ quá tải, thiết bị bảo vệ an toàn điện; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong việc cảnh báo mất an toàn điện. Ứng dụng công nghệ chuyển đổi số trong việc thông tin cho khách hàng sử dụng điện về nguy cơ mất an toàn điện trong quá trình sử dụng điện.
Nghiên cứu xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với các thiết bị điện, thiết bị bảo vệ an toàn điện thông minh sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt để nâng cao mức độ an toàn điện và phòng chống cháy nổ.
Tổ chức rà soát, kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn đối với hệ thống điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt, dịch vụ để phát hiện sớm các khu vực có nguy cơ cao về mất an toàn điện.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về an toàn trong sử dụng điện
Đồng thời, tăng cường triển khai công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá việc tuân thủ pháp luật về an toàn trong sử dụng điện đối với tổ chức, cá nhân sử dụng điện; tăng cường năng lực cho các phòng thí nghiệm, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, thiết bị điện; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa thiết bị điện lưu thông trên thị trường.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 606/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 (Quy hoạch).
Nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 (Quy hoạch) nêu rõ phạm vi quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính tỉnh với 54 đơn vị cấp xã, bao gồm 22 xã, 30 phường cùng hai đặc khu Vân Đồn và Cô Tô. Quy hoạch được triển khai theo các giai đoạn: đến năm 2040, năm 2050 và tầm nhìn dài hạn đến năm 2075.
Mục tiêu xây dựng phát triển Quảng Ninh theo mô hình thành phố hiện đại, thông minh, xanh và bền vững, vừa là cực tăng trưởng quốc gia; tạo động lực phát triển đột phá trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và phát triển bền vững về dài hạn, có sức hút lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường; là hình mẫu về quản trị phát triển đô thị bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, tạo động lực phát triển đột phá trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và phát triển bền vững về dài hạn, có sức hút lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường; là hình mẫu về quản trị phát triển đô thị bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cụ thể hóa các định hướng phát triển Quảng Ninh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và vùng; làm cơ sở pháp lý quan trọng về quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn; hoạch định các chính sách, kiến tạo các động lực phát triển; làm cơ sở cho việc lập, điều chỉnh các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, chương trình phát triển đô thị và quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch.
Phát triển đô thị biển - di sản - cửa ngõ quốc tế hàng đầu Việt Nam
Quy hoạch cũng đặt mục tiêu phát triển đô thị biển - di sản - cửa ngõ quốc tế hàng đầu Việt Nam, phát triển theo mô hình đô thị thông minh, với định hướng là đô thị xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc, phát triển tích hợp biển đảo - biên giới - di sản - đô thị thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Tạo lập nền tảng không gian và hạ tầng cho phát triển các đô thị, các trung tâm về văn hóa, kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực liên kết vùng, kết nối quốc gia, quốc tế. Đảm bảo quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế.
Về tính chất đô thị: xây dựng Quảng Ninh là đô thị loại I, là một trong những trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á và là động lực phát triển của vùng đồng bằng Sông Hồng
Trung tâm du lịch quốc gia và quốc tế, trung tâm công nghiệp hiện đại; trung tâm dịch vụ, thương mại gắn với các ngành kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế cao.
Đô thị biển - biên giới - di sản, xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu; đầu mối giao thông, hạ tầng quan trọng của quốc gia có vai trò kết nối các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế.
Khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo đảm an ninh biên giới, an ninh năng lượng và an toàn không gian phát triển quốc gia.
Đến năm 2050, Quảng Ninh đón 30-31 triệu lượt khách
Quy hoạch cũng đưa ra dự báo phát triển Quảng Ninh với quy mô dân số khoảng 2 triệu người vào năm 2030, tăng lên 2,4 - 2,5 triệu người vào năm 2040 và đạt khoảng 2,8 - 3 triệu người vào năm 2050.
Dự kiến quy mô khách du lịch đến năm 2030: khoảng 25,0 – 26,0 triệu lượt khách (trong đó khách quốc tế khoảng 7,0 – 7,5 triệu lượt khách); Đến năm 2040: khoảng 28,0 – 29,0 triệu lượt khách (trong đó khách quốc tế khoảng 8,0 – 8,5 triệu lượt khách) và đến năm 2050: khoảng 30,0 – 31,0 triệu lượt khách (trong đó khách quốc tế khoảng 9,0 – 10,0 triệu lượt khách).
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 533/QĐ-TTg kiện toàn bổ sung thành viên của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông.
Cụ thể, Quyết định kiện toàn bổ sung 3 thành viên Tổ công tác gồm: Đồng chí Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an; đồng chí Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đồng chí Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, chủ trì phiên họp lần thứ hai năm 2026 của Ban Chỉ đạo - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 167/TB-VPCP kết luận Phiên họp lần thứ hai năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
Tại Phiên họp, bên cạnh các kết quả đạt được, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong chuyển đổi số, cải cách hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng kết nối, nguồn nhân lực… Đồng thời, Thủ tướng đưa ra các nhiệm vụ giải pháp cụ thể để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện như sau:
Các bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt, đồng bộ các chương trình, nghị quyết, kế hoạch về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và Tổng Bí thư.
Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách
Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030; phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, ngành rà soát các quy định về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ liên quan đến quản lý, ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; bảo đảm sát thực tiễn, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cấp xã, tuân thủ nguyên tắc "một việc do một cơ quan chịu trách nhiệm chính đến cùng", báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trong tháng 6/2026.
Bộ Công an khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Đề án 06 giai đoạn 2026 - 2030; trao đổi, thống nhất với Bộ Khoa học và Công nghệ về nội dung định mức kinh tế kỹ thuật trong số hóa tài liệu, hỗ trợ kinh phí cho người làm công tác số hóa dữ liệu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án phân công trong tháng 4/2026.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo thẩm quyền hướng dẫn triển khai Mô hình hợp tác 3 Nhà, hoàn thành trong tháng 4/2026.
Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương ban hành Kiến trúc dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh, Từ điển dữ liệu, Khung quản lý, quản trị dữ liệu; rà soát, tạo lập, chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu, xác định, công bố và cập nhật bộ dữ liệu chủ chuyên ngành tích hợp vào Hệ thống Từ điển dữ liệu dùng chung, hoàn thành trong Quý II/2026.
Các bộ, ngành hỗ trợ, hướng dẫn địa phương thực hiện chuẩn hóa, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nhiệm vụ thường xuyên.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ
Bên cạnh đó, các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng các chỉ số KPI theo dõi, giám sát việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được giao tại các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, hoàn thành trong Quý II/2026; phối hợp Văn phòng Chính phủ kết nối, tích hợp chia sẻ dữ liệu về Hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoàn thành trong Quý IV/2026.
Giao các Tổ trưởng Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo chủ trì, chỉ đạo tập trung giải quyết dứt điểm các nhóm vấn đề trọng tâm, bảo đảm rõ đầu mối, không chồng chéo.
Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế số, xã hội số, hạ tầng số, cải cách hành chính
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng, hiệu quả khai thác, sử dụng các cơ sở dữ liệu.
Đồng thời, chỉ đạo bảo đảm kết nối, chia sẻ, liên thông với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; đồng thời chủ động tổ chức công bố cơ sở dữ liệu khi đủ điều kiện theo quy định, làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, thay thế hồ sơ giấy trong giải quyết thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, chỉ đạo hoàn thành việc công bố, tái cấu trúc quy trình đối với 324 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý theo danh mục ban hành kèm theo Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 13/09/2025, bảo đảm chuẩn hóa, cắt giảm thành phần hồ sơ, giấy tờ, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, hoàn thành trong tháng 4/2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông đẩy nhanh tiến độ đầu tư, phấn đấu đạt tỷ lệ phủ sóng 5G trên toàn quốc trong năm 2026; chỉ đạo việc triển khai, khai thác hiệu quả dịch vụ Internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp; sớm đưa vào 01 tuyến cáp quang biển; đầu tư trung tâm dữ liệu lớn.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) bảo đảm tiến độ dự án nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên của Việt Nam.
Bộ Công Thương khẩn trương tổ chức triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2026 - 2030; hoàn thiện Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử và cơ sở dữ liệu về thương mại điện tử, hoàn thành trong Quý III/2026.
Đồng thời, triển khai hiệu quả chương trình thúc đẩy tiêu dùng trên môi trường số và tạo lập niềm tin số; thúc đẩy các mô hình thương mại điện tử theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững, tạo giá trị cho cộng đồng, tăng cường tiêu thụ cho sản phẩm Việt Nam (ưu tiên tiêu thụ sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP) thông qua thương mại điện tử, nhiệm vụ thường xuyên.
Cắt giảm thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ, tái sử dụng dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu
Bộ Nội vụ hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi, đánh giá, kiểm tra các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030, nhiệm vụ thường xuyên.
Bộ Tư pháp tổ chức rà soát, cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so với năm 2024 và tiếp tục cắt giảm 30% các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 100% điều kiện kinh doanh không cần thiết, hoàn thành trong Quý II/2026.
Các bộ, ngành khẩn trương nghiên cứu các đánh giá của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về 25 dịch vụ công trực tuyến có lưu lượng sử dụng nhiều nhất; rà soát, sửa đổi, bổ sung ngay các quy định pháp luật, văn bản hướng dẫn để tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục hành chính, hạ tầng, hệ thống, dữ liệu… để triển khai toàn quốc, hoàn thành trong tháng 4/2026.
Các bộ, ngành, địa phương rà soát, sửa đổi các quy định, cắt giảm thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ, tái sử dụng dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Triển khai kết nối Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính với 09 cơ sở dữ liệu đã được công bố, hoàn thành trong Quý II/2026; phối hợp tích cực với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong xây dựng và vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản (dự kiến ngày 01/5/2026 triển khai toàn quốc).
Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu
Bộ Công an chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng theo chức năng, nhiệm vụ được giao; chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hoạt động tấn công mạng, gián điệp mạng, thông tin xấu độc; tập trung triệt phá các đường dây, công cụ lừa đảo trực tuyến; điều tra, xử lý nghiêm các hành vi chiếm đoạt, mua bán trái phép dữ liệu cá nhân theo quy định pháp luật; nhiệm vụ thường xuyên.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông phối hợp với cơ quan chuyên trách của Bộ Công an xử lý dứt điểm tình trạng SIM "rác"; triển khai đối soát dữ liệu, bắt buộc xác thực sinh trắc học đối với thuê bao di động mới, hoàn thành trong Quý II/2026.
Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực
Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, hoàn thiện và triển khai khung chương trình đào tạo chuyên sâu chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách, hoàn thành trong Quý III/2026.
Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát các chương trình, đề án đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số đã được đánh giá hiệu quả, đề xuất nguồn vốn ngân sách cho các chương trình, đề án này theo quy định, hoàn thành trong Quý II/2026.
Bộ Công an xây dựng, hoàn thiện và triển khai khung chương trình đào tạo chuyên sâu về quản trị dữ liệu; tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả Nền tảng "Bình dân học vụ số" quốc gia; cung cấp học liệu số mở, miễn phí phục vụ phổ cập kỹ năng số cho toàn dân; nhiệm vụ thường xuyên.
Đồng thời, trao đổi, thống nhất với Bộ Tài chính về việc xây dựng khung pháp lý về định giá dữ liệu, cơ chế thu phí, giá khai thác, sử dụng dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia, chính sách ưu đãi thuế, vốn cho doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến dữ liệu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án phân công trước ngày 14/4/2026, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ nêu trên trong Quý II/2026.
Các địa phương đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động có kỹ năng số cơ bản, đáp ứng yêu cầu thực hiện các tác vụ số phổ thông và nhiệm vụ thường xuyên tại cơ sở, nhiệm vụ thường xuyên; phát huy hiệu quả Tổ công nghệ số cộng đồng, nhiệm vụ thường xuyên; tổ chức tổng kết 01 năm triển khai phong trào "Bình dân học vụ số", hoàn thành trong Quý II/2026.

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 172/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với lãnh đạo Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Tại Thông báo trên, Thủ tướng hoan nghênh và đánh giá cao những nỗ lực của Công ty Lọc hóa dầu Nghi Sơn trong việc chủ động tìm kiếm nguồn cung nguyên liệu đầu vào, duy trì hoạt động liên tục của Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Công ty Lọc hóa dầu Nghi Sơn phải khẩn trương đa dạng hóa nguồn cung dầu thô lâu dài cho Nhà máy, không phụ thuộc nguồn cung cố định; cơ cấu lại nguồn cung, cơ cấu lại tài chính, cơ cấu lại sản phẩm để nhà máy hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh năng lượng của Việt Nam theo tinh thần lợi ích hài hòa, khó khăn và rủi ro chia sẻ. Trước mắt, Nhà máy cần tập trung sản xuất các sản phẩm xăng dầu, nhất là nhiên liệu hàng không.
Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan và địa phương làm việc với các nước, đối tác liên quan để bảo đảm nguồn cung dầu thô đầu vào cho nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn; tiếp tục thúc đẩy các giải pháp tạo thuận lợi cho việc vận chuyển xăng dầu qua eo biển Hormuz về Việt Nam, trong đó có nguồn cung dầu thô cho nhà máy; báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc triển khai việc xây dựng kho dự trữ dầu thô chiến lược trong trường hợp khẩn cấp tại khu vực Nghi Sơn, phục vụ Nhà máy và các nhu cầu khác. Trong đó, đề xuất chủ đầu tư bảo đảm có đủ năng lực để thực hiện.
Khẩn trương xử lý các đề xuất, kiến nghị liên quan về thuế với một số nguyên liệu đầu vào ngoài dầu thô
Đồng thời, Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xử lý theo thẩm quyền các đề xuất, kiến nghị liên quan về thuế với một số nguyên liệu đầu vào ngoài dầu thô (sản phẩm trung gian như dầu cặn...) cho các nhà máy lọc hóa dầu trong bối cảnh hiện nay. Trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa khẩn trương làm việc với các hộ dân có đất dự kiến thu hồi và xây dựng kế hoạch tổ chức giải phóng mặt bằng phục vụ dự án xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn./.