In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026.

06/11/2026 19:35
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026 - Ảnh 1.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Nghị định số 401/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số là 100.000.000 đồng và đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số là 200.000.000 đồng.

Trong đó, Nghị định quy định hành vi vi phạm quy định về cung cấp, cập nhật thông tin, kết nối, chia sẻ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu công nghiệp công nghệ số bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Hỗ trợ hoạt động bất hợp pháp trong công nghiệp công nghệ số bị phạt tới 140 triệu đồng

Đối với vi phạm quy định về các hành vi bị cấm trong công nghiệp công nghệ số, Nghị định quy định phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với một trong các hành vi cản trở hoạt động hợp pháp hoặc hỗ trợ hoạt động bất hợp pháp trong công nghiệp công nghệ số sau đây:

- Cố ý cản trở trái pháp luật việc thực hiện nghiên cứu và phát triển, thiết kế, chế tạo, lắp ráp, thử nghiệm, kiểm thử, đóng gói sản phẩm phần cứng và các công việc khác để sản xuất sản phẩm phần cứng theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số;

- Cố ý cản trở trái pháp luật việc thực hiện nghiên cứu và phát triển, phân tích, sáng tạo, thiết kế, lập trình, thử nghiệm, kiểm thử, đóng gói sản phẩm phần mềm, nội dung số và các công việc khác để sản xuất sản phẩm phần mềm, nội dung số theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số;

- Cố ý cản trở trái pháp luật việc thực hiện tư vấn, thiết kế, cài đặt, tích hợp, quản lý, vận hành, đào tạo, số hóa, xử lý dữ liệu, bảo hành, bảo trì, sửa chữa, tân trang, xuất bản, phân phối sản phẩm công nghệ số; cung cấp sản phẩm công nghệ số dưới dạng dịch vụ và các dịch vụ công nghệ số khác theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số;

- Cố ý hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bị cấm trong công nghiệp công nghệ số thông qua việc cung cấp, chuyển giao, phân phối, cho thuê hoặc cho phép sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số.

Sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số để thực hiện hành vi bị cấm bị phạt tới 170 triệu đồng

Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số để thực hiện hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số và không thuộc trường hợp xử phạt theo quy định của pháp luật chuyên ngành khác.

Phạt tiền từ 170.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động công nghiệp công nghệ số để thực hiện hành vi xâm phạm đến: Lợi ích quốc gia, dân tộc, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi ích công cộng; quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và đạo đức xã hội, sức khỏe, tính mạng của con người.

Gian dối hồ sơ để được hưởng chính sách ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm bị phạt tới 200 triệu đồng

Vi phạm quy định về hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ số, cung cấp dịch vụ công nghệ số bị phạt tới 200.000.000 đồng. Cụ thể, Nghị định quy định phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin không trung thực, sử dụng tài liệu không hợp lệ hoặc có hành vi gian dối trong hồ sơ để được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm có quy mô đầu tư lớn và dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo có quy mô đầu tư lớn theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số và pháp luật có liên quan mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nghị định cũng quy định phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin không trung thực, sử dụng tài liệu không hợp lệ hoặc có hành vi gian dối trong hồ sơ dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số và pháp luật có liên quan hoặc nhận hỗ trợ kinh phí trực tiếp từ ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước hoặc từ Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số.

Mức phạt tiền quy định ở trên là mức phạt tiền đối với tổ chức; mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 22/11/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026 - Ảnh 2.

Khám sức khỏe định kỳ cho chiến sĩ Công an nhân dân - Ảnh minh họa

Quy định chế độ nghỉ dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 400/2026/NĐ-CP ngày 03/11/2026 quy định chế độ nghỉ dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu.

Nghị định này quy định chế độ, chính sách đối với sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu (gọi tắt là sĩ quan Công an nghỉ hưu), gồm: Chế độ nghỉ dưỡng; chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ thông tin và chế độ hỗ trợ tang lễ khi từ trần.

Đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với các đối tượng sau:

1. Sĩ quan Công an nghỉ hưu bao gồm:

a) Sĩ quan có cấp bậc hàm cấp Tướng; sĩ quan nguyên là lãnh đạo cấp Tổng cục trở lên và cán bộ hoạt động cách mạng trước Tháng 8 năm 1945;

b) Sĩ quan nguyên là Cục trưởng và tương đương; nguyên là Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh;

c) Sĩ quan nguyên là Phó Cục trưởng và tương đương; nguyên là Phó Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh;

d) Sĩ quan có cấp bậc hàm Thượng tá, Đại tá; sĩ quan nguyên là lãnh đạo cấp phòng, lãnh đạo Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương;

đ) Sĩ quan có cấp bậc hàm Thiếu tá, Trung tá; sĩ quan nguyên là chỉ huy cấp đội và tương đương; sĩ quan nguyên là chỉ huy Công an xã, phường, thị trấn, đặc khu;

e) Sĩ quan có cấp bậc hàm cấp Úy.

2. Đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an, Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Công an đơn vị, địa phương) và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan Công an nghỉ hưu.

Đối tượng không áp dụng

Nghị định không áp dụng đối với các đối tượng sau:

1. Sĩ quan Công an nghỉ hưu thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chế độ, chính sách đối với cán bộ cao cấp.

2. Sĩ quan Công an nghỉ hưu đang bị tạm giam; đã và đang chấp hành án phạt tù; bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng; khai trừ ra khỏi Đảng; xóa tất cả tư cách chức vụ đã đảm nhiệm hoặc bị tước danh hiệu Công an nhân dân.

3. Sĩ quan Công an trước khi nghỉ hưu vi phạm kỷ luật, pháp luật dẫn đến bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng; khai trừ ra khỏi Đảng; xóa tất cả tư cách chức vụ đã đảm nhiệm; tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc phạt tù.

4. Sĩ quan Công an nghỉ hưu định cư ở nước ngoài (bao gồm cả các trường hợp đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định này sau đó đi định cư ở nước ngoài).

Chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo

Nghị định quy định chế độ chăm sóc khi sĩ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo như sau:

1. Sĩ quan Công an nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh thuộc danh mục bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì được khám giám định bệnh hiểm nghèo, nếu được Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền kết luận mắc bệnh hiểm nghèo thì được hưởng các chế độ, chính sách sau đây:

a) Hằng quý được hỗ trợ bằng 02 lần mức lương cơ sở. Thời điểm tính từ quý được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo;

b) Khi điều trị nội trú ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài Công an nhân dân, được đảm bảo tiền ăn bệnh lý chênh lệch so với tiền ăn cơ bản hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Công an nhân dân.

Trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chi trả; trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài Công an nhân dân do Công an cấp tỉnh nơi sĩ quan Công an nghỉ hưu thường trú thanh toán trực tiếp theo số ngày điều trị thực tế được xác nhận tại giấy ra viện.

c) Trường hợp đang hưởng chế độ, chính sách quy định tại điểm a và b khoản này đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này thì không được hưởng chính sách quy định tại khoản này từ quý sau liền kề của quý đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý.

2. Trường hợp sĩ quan Công an trước khi nghỉ hưu đã được cấp có thẩm quyền công nhận mắc bệnh hiểm nghèo thì khi thực hiện chế độ hưu trí được hỗ trợ hằng quý và chính sách theo quy định tại khoản 1 nêu trên. Thời điểm hỗ trợ tính từ quý bắt đầu thực hiện chế độ hưu trí và mức hưởng bằng mức hỗ trợ của cả quý.

3. Trường hợp sĩ quan Công an nghỉ hưu đã được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định hưởng chế độ hỗ trợ mắc bệnh hiểm nghèo mà từ trần thì đại diện thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở.

4. Hồ sơ giải quyết gồm:

a) Đơn đề nghị giám định y khoa để hưởng chế độ hỗ trợ mắc bệnh hiểm nghèo của đối tượng hoặc thân nhân đối tượng;

b) Bản chính (bản giấy) hoặc bản sao điện tử tóm tắt hồ sơ bệnh án điều trị bệnh hiểm nghèo của bệnh viện trong hoặc ngoài Công an nhân dân;

c) Bản sao hoặc bản sao điện tử quyết định về việc hưởng chế độ hưu trí hằng tháng.

5. Trình tự giải quyết

a) Sĩ quan Công an nghỉ hưu hoặc thân nhân nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 4 nêu trên cho Công an cấp xã nơi thường trú bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử.

Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ khai thác được các giấy tờ trong thành phần hồ sơ (trừ đơn đề nghị giám định y khoa) trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin có liên quan thì sĩ quan Công an nghỉ hưu hoặc thân nhân không phải nộp các giấy tờ nêu trên.

b) Trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ theo quy định, Công an cấp xã có trách nhiệm tổng hợp, đề nghị Công an cấp tỉnh.

Trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp xã chuyển đến, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu với danh mục bệnh hiểm nghèo do cấp có thẩm quyền ban hành.

Trường hợp đủ điều kiện thì cấp giấy giới thiệu đề nghị Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền kèm theo bản sao hồ sơ để khám giám định; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lời Công an cấp xã nơi đề nghị và đối tượng bằng văn bản.

c) Trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ do Công an cấp tỉnh chuyển đến, Hội đồng giám định y khoa có trách nhiệm tổ chức khám giám định bệnh hiểm nghèo theo quy định; kết luận, gửi biên bản giám định y khoa về Công an cấp tỉnh nơi đề nghị.

d) Căn cứ kết quả giám định của Hội đồng giám định y khoa, nếu kết luận mắc bệnh hiểm nghèo, trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên bản của Hội đồng giám định y khoa, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quyết định về việc hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý đối với sĩ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo (02 bản), trong đó 01 bản gửi đối tượng, 01 bản gửi Công an cấp xã nơi đối tượng thường trú.

Trường hợp kết luận không mắc bệnh hiểm nghèo thì trả lời Công an cấp xã nơi đề nghị và đối tượng bằng văn bản. Chi phí khám giám định y khoa cho Hội đồng giám định y khoa được bảo đảm từ ngân sách nhà nước do Công an cấp tỉnh thanh toán theo mức phí như mức phí thẩm định cấp giấy giám định y khoa theo quy định của Bộ Tài chính.

đ) Sau khi có quyết định của Giám đốc Công an cấp tỉnh về việc hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý đối với sĩ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo, Công an cấp xã tiếp nhận, quản lý và thực hiện hỗ trợ theo quy định. Khi sĩ quan Công an nghỉ hưu đang hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý từ trần, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo Công an cấp tỉnh để quyết định thôi hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027

Nghị định nêu rõ: Sĩ quan Công an nghỉ hưu thuộc nhiều đối tượng hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định này thì được hưởng theo mức cao nhất. Hạ sĩ quan Công an, công nhân công an nghỉ hưu được áp dụng thực hiện chế độ, chính sách như đối với sĩ quan cấp Úy nghỉ hưu.

Cán bộ Công an chưa được phong cấp bậc hàm, do nghỉ hưu trước thời điểm ban hành Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc hàm của sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 16/7/1962 hoặc Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam ngày 02/11/1987 thì căn cứ vào chức vụ hoặc tiền lương để thực hiện các chế độ, chính sách như đối với sĩ quan có chức vụ hoặc lương cấp bậc hàm tương ứng theo quy định tại Nghị định này.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026 - Ảnh 3.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 4/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 4/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Nghị định số 402/2026/NĐ-CP ngày 6/11/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 4/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước. 

Thay đổi thẩm quyền quyết định danh mục đập, hồ chứa thuỷ lợi quan trọng đặc biệt, lớn, vừa, nhỏ

Trong đó, Nghị định số 402/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 3 Nghị định số 114/2018/NĐ-CP về thẩm quyền quyết định danh mục đập, hồ chứa thuỷ lợi quan trọng đặc biệt, lớn, vừa, nhỏ như sau:

a) Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có đập, hồ chứa thuỷ lợi trên địa bàn, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục đập, hồ chứa thủy lợi quan trọng đặc biệt;

b) Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định danh mục đập, hồ chứa thủy lợi mà việc khai thác và bảo vệ liên quan đến 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh mục đập, hồ chứa thuỷ lợi trên địa bàn, trừ đập, hồ chứa thuỷ lợi quy định tại điểm a, điểm b nêu trên.

Như vậy, Nghị định số 402/2026/NĐ-CP đã quy định một đầu mối là Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục đập, hồ chứa thủy lợi quan trọng đặc biệt và quyết định danh mục đập, hồ chứa thủy lợi mà việc khai thác và bảo vệ liên quan đến 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thay vì cả Bộ Công Thương như quy định trước kia.

Quy định mới về phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi

Nghị định số 402/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 25 quy định về phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi như sau:

"1. Chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi có trách nhiệm tổ chức lập, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi.

2. Nội dung chính của phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi

a) Kịch bản vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập;

b) Bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập theo quy định tại Điều 27 Nghị định này; tại các khu vực chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công bố bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập, chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thuỷ lợi có trách nhiệm tổ chức khảo sát, tính toán để xác định phạm vi vùng hạ du đập bị ảnh hưởng và mức độ ngập lụt vùng hạ du đập khi hồ chứa xả nước theo quy trình, xả lũ trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập phục vụ việc xây dựng phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp;

c) Các tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập; dự kiến và kế hoạch ứng phó ở công trình đầu mối;

d) Thống kê các đối tượng bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng theo các kịch bản;

đ) Quy định về chế độ, phương thức thông tin, cảnh báo, báo động đến chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi, phòng chống thiên tai và người dân khu vực bị ảnh hưởng;

e) Kế hoạch ứng phó phù hợp với từng tình huống lũ, ngập lụt ở vùng hạ du đập;

g) Nguồn lực tổ chức thực hiện phương án;

h) Trách nhiệm của chủ sở hữu, chủ quản lý, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa nước, chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan;

i) Phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đập, hồ chứa thuỷ lợi theo mẫu tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Hàng năm hoặc khi bản đồ ngập lụt được điều chỉnh, bổ sung, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi có trách nhiệm tổ chức rà soát phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi. Trường hợp, sau rà soát không có thay đổi, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi báo cáo bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án để được tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt. Trường hợp sau rà soát có thay đổi cần phải lập phương án điều chỉnh, bổ sung, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi điều chỉnh, bổ sung phương án để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.".

Thẩm quyền phê duyệt phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp

Đồng thời, Nghị định số 402/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 26 thẩm quyền phê duyệt phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp.

Theo quy định mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt phương án đối với đập, hồ chứa nước và vùng hạ du đập trên địa bàn 01 xã.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án đối với đập, hồ chứa nước và vùng hạ du đập trên địa bàn từ 02 xã trở lên trên địa bàn tỉnh; trường hợp đập, hồ chứa thuỷ lợi thuộc địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ra lệnh vận hành hồ chứa có trách nhiệm chủ trì phê duyệt phương án ứng phó tình huống khẩn cấp sau khi lấy ý kiến thống nhất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/12/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026 - Ảnh 4.

Thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp"

Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản số 574/TB-VPCP ngày 8/11/2026 thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp".

Thông báo nêu: Nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), với hơn 60% dân số sống ở nông thôn, liên quan trực tiếp đến an sinh - xã hội, đời sống người dân, an ninh lương thực quốc gia, sức khỏe, chất lượng sống và phát triển bền vững. Những năm qua, nông nghiệp nước ta cơ bản phát triển ổn định, giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng nông nghiệp bình quân đạt khoảng 3,57%/năm, đóng góp quan trọng trong phát triển KTXH, là khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong những lúc khó khăn; 9 tháng năm 2026 đạt 4,02%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung 9,01% của cả nước.

Thời gian qua, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp; là cơ sở để lựa chọn công nghệ phù hợp với từng chuỗi; cần tiếp tục kiểm chứng kết quả, nhân rộng trên quy mô sản xuất và trong điều kiện thị trường thực tế.

Bên cạnh kết quả đạt được, nông nghiệp nước ta cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế và đứng trước các khó khăn, thách thức, điểm nghẽn cần phải giải quyết để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng nông nghiệp

Phó Thủ tướng khẳng định, yêu cầu phát triển đối với ngành nông nghiệp thời gian tới là rất cao, đòi hỏi hiệu quả về phương pháp và công cụ, tiến độ phải nhanh và kết quả phải có chất lượng; hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp phải là việc làm thường xuyên, liên tục, thực chất và hiệu quả.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng nông nghiệp; các sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng phải hướng vào thực tiễn sản xuất, có khả năng thương mại hóa, sức cạnh tranh cao; mục đích là nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải, giá trị gia tăng cao hơn và thu nhập, đời sống của người dân tốt hơn.

Lấy yêu cầu tăng trưởng và thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm điểm xuất phát; doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất làm trung tâm ứng dụng; lấy hiệu quả (kinh tế - xã hội - môi trường), năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng làm thước đo. Mọi nhiệm vụ phải hướng tới kết quả cụ thể, gắn với thị trường, có địa chỉ ứng dụng, có khả năng nhân rộng; không đầu tư dàn trải. Mỗi địa phương phải xác định đúng bài toán theo tiềm năng, thế mạnh của mình.

Phải nhận diện đúng, đầy đủ và thực chất các điểm nghẽn để tập trung giải quyết

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành, địa phương phải nhận diện đúng, đầy đủ và thực chất các điểm nghẽn để tập trung nguồn lực giải quyết về thể chế, cơ chế tài chính, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu giống, thức ăn chăn nuôi, vaccine, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…;

Xác định đúng định hướng, nhiệm vụ và lĩnh vực ưu tiên, bài toán lớn trên cơ sở thế mạnh, tiềm năng của địa phương, của vùng; khẩn trương thực hiện chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc toàn trình.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải rà soát, đánh giá đầy đủ các điều kiện hoàn thiện danh mục các bài toán lớn, cấp thiết, ưu tiên, hoàn thành trước ngày 15 tháng 12 năm 2026; tổ chức triển khai các nhiệm vụ đủ điều kiện trong quý I năm 2027.

Điều phối, kết nối nhu cầu của ngành hàng, địa phương, doanh nghiệp; xây dựng cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp theo chuỗi giá trị; tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình ưu tiên và các chuỗi sản phẩm mô hình điểm.

Trước ngày 15/12/2026, phải báo cáo những nội dung cần tháo gỡ

Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổng hợp đầy đủ và xử lý các kiến nghị tại Hội nghị theo thẩm quyền, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền. Trước ngày 15 tháng 12 năm 2026, tập hợp, báo cáo các cơ quan liên quan những nội dung cần tháo gỡ về thể chế, quy chuẩn, tiêu chuẩn, công cụ kỹ thuật, dữ liệu, cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; giải quyết các kiến nghị; chuẩn bị Hội nghị toàn quốc về "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp".

Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện, đẩy mạnh cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ trong nông nghiệp; thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ, định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu; phấn đấu tối thiểu 30% số đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.

Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Công an, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Công Thương và các cơ quan, địa phương liên quan hoàn thiện, tổ chức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; đẩy nhanh chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu; xác định bộ dữ liệu tối thiểu theo từng nhóm sản phẩm; hướng dẫn quy trình cập nhật và yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật kết nối, cơ chế xác thực thông tin; phối hợp với các địa phương rà soát, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu định danh chủ thể, hộ nông dân nuôi/trồng/đánh bắt, vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói tại địa phương lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất, được cập nhật thường xuyên và có khả năng kết nối, liên thông, phục vụ truy xuất nguồn gốc theo chuỗi; kết nối, liên thông dữ liệu kiểm nghiệm, kiểm dịch, chứng nhận chất lượng với từng lô hàng, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật và yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Nghiên cứu, đề xuất mô hình phát triển Sàn giao dịch nông sản quốc gia

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, đề xuất mô hình phát triển Sàn giao dịch nông sản quốc gia theo nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị quyết số 162/NQ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2025, hoàn thành trong năm 2026; tiếp tục chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan vận hành hiệu quả Sàn giao dịch carbon trong nước theo quy định của Nghị định số 29/2026/NĐ-CP.

Xây dựng cơ chế theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ sau các Hội nghị, bao gồm việc các địa phương thực hiện nhiệm vụ; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, để kịp thời tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh nhiệm vụ không còn phù hợp; khắc phục tình trạng chậm triển khai, hình thức, đầu tư dàn trải hoặc không xác định được sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng.

Triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đến từng địa phương

Bộ Công an tiếp tục phối hợp, hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh xây dựng, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu chuyên ngành, ưu tiên các cơ sở dữ liệu, kết nối dữ liệu định danh chủ thể và dữ liệu lưu thông hàng hóa theo quy định; kết nối Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; rà soát chỉnh sửa lỗi hệ thống kết nối trên Cổng thông tin điện tử quốc gia; phối hợp hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, hướng dẫn và thúc đẩy việc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đến từng địa phương, bảo đảm kết nối, liên thông và vận hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc; phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan liên quan chuẩn bị Hội nghị toàn quốc về "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp".

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì tổng hợp, giải quyết hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền các kiến nghị tại Hội nghị về các vấn đề về đầu tư, tài chính, định giá và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát.

Khẩn trương xây dựng tiêu chí và phương án khả thi để lựa chọn các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng và thương mại hóa ngay, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rất khả thi; rà soát các đề tài, nhiệm vụ đang thực hiện, tiếp tục hỗ trợ những đề tài sẽ tạo ra sản phẩm cụ thể; hình thành thực chất các nhóm liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, ngành, địa phương tham mưu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2026 theo hướng cho phép đề xuất, đặt hàng, triển khai các nhiệm vụ có thời gian thực hiện dài, sau năm 2030; khẩn trương xây dựng mô hình phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên cứu dùng chung theo các quyết định đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Nghiên cứu, đề xuất quy định và mô hình để sớm thúc đẩy hoạt động của Sàn giao dịch khoa học, công nghệ quốc gia theo Kết luận tại Thông báo số 505/TB-VPCP ngày 29 tháng 9 năm 2026; hỗ trợ hoạt động các thiết chế phát triển thị trường khoa học, công nghệ (tư vấn chuyển giao công nghệ, định giá, giám định, bảo vệ sở hữu trí tuệ...); xây dựng chỉ số đo lường, đánh giá các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và công bố công khai.

Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ

Bộ Công Thương hướng dẫn tổ chức kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối và các kênh thương mại điện tử; thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ. Rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn về dịch vụ logistics, bảo quản và phân phối nông sản.

Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức truy xuất nguồn gốc; kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; hướng dẫn các chủ thể kinh doanh tham gia chuỗi cập nhật, cung cấp dữ liệu theo quy định, bảo đảm liên kết thông tin lô hàng giữa các công đoạn.

Hướng dẫn, phối hợp với các địa phương kiểm tra, xử lý hành vi gian lận về nguồn gốc, xuất xứ và thông tin hàng hóa trong lưu thông, phân phối và thương mại điện tử theo thẩm quyền; khai thác dữ liệu truy xuất nguồn gốc phục vụ phát hiện, cảnh báo và xử lý vi phạm.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan rà soát, giải quyết theo thẩm quyền các vướng mắc về cơ chế tài chính, quản lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền những nội dung vượt thẩm quyền.

Đồng thời, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ, cơ quan liên quan tham mưu bố trí, huy động nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ theo quy định; chỉ đạo cơ quan hải quan kết nối, chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý phục vụ truy xuất nguồn gốc các chuỗi nông sản xuất khẩu được lựa chọn.

Các địa phương phải xây dựng thương hiệu bền vững

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, đánh giá thực chất hiện trạng nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường: số lượng đề tài nghiên cứu, kết quả đã đạt được, nội dung chưa đạt được.

Xác định danh mục các bài toán lớn, cấp thiết; mỗi địa phương lựa chọn từ 3 đến 5 bài toán ưu tiên, thể hiện rõ mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, xây dựng thương hiệu bền vững và triển khai thực hiện.

Hoàn thiện cơ sở dữ liệu, trước hết là dữ liệu đất đai; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kết nối dữ liệu định danh chủ thể, hộ nông dân nuôi/trồng/đánh bắt, vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng và dữ liệu lưu thông hàng hóa theo quy định.

Giải quyết các bài toán theo yêu cầu phát triển của từng chuỗi ngành hàng, ngành nông nghiệp

Phó Thủ tướng yêu cầu các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã trước ngày 15 tháng 12 năm 2026, đăng ký và đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Môi trường các giải pháp công nghệ để giải quyết các bài toán thực tiễn, theo yêu cầu phát triển của từng chuỗi ngành hàng và ngành nông nghiệp; chủ động đăng ký nhu cầu công nghệ, năng lực đầu tư, tiếp nhận và khả năng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

Tổ chức ghi nhận, cập nhật, lưu giữ và cung cấp dữ liệu truy xuất nguồn gốc phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình; bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, có khả năng đối chiếu với hồ sơ, chứng từ và liên kết giữa các công đoạn; phối hợp với cơ quan chuyên môn triển khai các chuỗi sản phẩm được lựa chọn...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2026 - Ảnh 5.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng làm việc với 3 địa phương: Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp về việc thực hiện các kết luận của Thủ tướng Chính phủ và tình hình thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 

 Văn phòng Chính phủ có văn bản số 572/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, các địa phương đã cố gắng vượt qua khó khăn, có nhiều nỗ lực trong triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, các ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ; có nhiều giải pháp quyết liệt, phong trào thi đua về đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư, phát triển kinh tế tư nhân và khơi thông các nguồn lực phục vụ tăng trưởng, qua đó cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống người dân.

Các địa phương đã đạt được một số kết quả tích cực như: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế trong Quý III cơ bản cao hơn so với Quý II; nông nghiệp tiếp tục là điểm sáng; thu ngân sách nhà nước đạt trên 75% dự toán; kim ngạch xuất khẩu tăng khá, đạt thặng dư thương mại; công tác nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính được chú trọng thực hiện; công tác giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, y tế, văn hóa và thực hiện chính sách an sinh xã hội được quan tâm; bộ máy chính quyền địa phương hai cấp hoạt động cơ bản ổn định, thông suốt; quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.

Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng 9 tháng của 03 địa phương chưa đạt kịch bản đề ra và thấp hơn tăng trưởng bình quân của cả nước, đặt ra thách thức lớn trong thời gian còn lại của năm 2026. Quy mô kinh tế của các địa phương còn hạn chế; điều kiện phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng còn khó khăn, chi phí đầu tư lớn. Giải ngân vốn đầu tư công vẫn là điểm nghẽn, thuộc nhóm thấp nhất và thấp hơn mức bình quân chung của cả nước. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, nội tỉnh và logistics vẫn là nút thắt cần được khơi thông; một số dự án trọng điểm còn chậm tiến độ. Hạ tầng thông tin, hạ tầng số, số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cấp xã nhìn chung còn hạn chế.

Tập trung xử lý các dự án tồn đọng, vướng mắc khơi thông nguồn lực

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2026 được Chính phủ giao, Phó Thủ tướng yêu cầu 03 địa phương phải quyết tâm và nỗ lực hơn nữa, có những giải pháp thực sự mạnh mẽ, đột phá trong quản lý điều hành và phát triển kinh tế - xã hội.

Trong đó, tiếp tục bám sát các chủ trương, kết luận của Trung ương, chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 05/10/2026 và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại các buổi làm việc với các địa phương; khẩn trương xây dựng kịch bản tăng trưởng cụ thể của từng ngành, lĩnh vực và giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng Sở, ngành, xã, phường, cơ quan, đơn vị trong Quý IV năm 2026.

Phân công cụ thể các đồng chí Thường trực, Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Thành ủy trong việc đôn đốc, theo dõi, bám sát cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng đã được Chính phủ giao; nêu cao tinh thần trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các Sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường; coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng và là cơ sở để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức, cá nhân năm 2026.

Khẩn trương triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 và xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công năm 2027; tập trung xử lý các dự án tồn đọng, vướng mắc để khơi thông nguồn lực; quyết liệt giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026; đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng giao thông, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, phục vụ cho phát triển lâu dài và bền vững.

Chú trọng nghiên cứu, xây dựng mô hình tăng trưởng mới phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, các ngành, lĩnh vực chủ lực của địa phương theo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ tại các buổi làm việc với từng địa phương. Tăng cường liên kết Vùng, phát huy hiệu quả không gian phát triển xung quanh các tuyến cao tốc và tuyến hành lang kinh tế nối liền Cần Thơ – Vĩnh Long – Đồng Tháp – Tây Ninh – Thành phố Hồ Chí Minh.

Cần Thơ phải quyết tâm, quyết liệt hơn nữa để trở thành một cực tăng trưởng năng động, trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long như kỳ vọng của Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ tại các lần làm việc gần đây với Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ.

Đồng thời, Cần Thơ khẩn trương nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét chủ trương để Thành phố được áp dụng một số cơ chế, chính sách của Luật Phát triển đô thị; trên cơ sở đó phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong quá trình xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định để tạo động lực bứt phá toàn diện cho Thành phố.

Đồng Tháp tiếp tục phát huy thế mạnh về sản xuất lúa gạo, trái cây, hoa kiểng, thủy sản, kinh tế biên mậu; đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp như Tân Kiều, Sông Hậu 2, Hòa Tân, Cao Lãnh II, III để thu hút các nhà đầu tư chiến lược; phát triển hệ thống các trung tâm logistics tại Cao Lãnh, Sa Đéc, Hồng Ngự, Gò Công, Tân Phước.

Vĩnh Long đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt là ngành thủy sản, kinh tế biển; tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tạo đột phá về công nghiệp chế biến nông, thủy sản, năng lượng tái tạo và vận tải biển.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ

Ngoài ra, 03 địa phương quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là trụ cột, động lực chủ yếu cho tăng trưởng, đặc biệt là trong phát triển các ngành nông nghiệp chủ lực, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các địa phương.

Làm tốt công tác dự báo, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng công tác khắc phục tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, suy giảm nước ngầm, thiếu hụt nước ngọt phục vụ sinh hoạt, sản xuất.

Quan tâm thực hiện tốt các chính sách về y tế, văn hóa, an sinh xã hội, đặc biệt là đối với các đối tượng yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số; khẩn trương triển khai có hiệu quả chương trình khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí cho người dân; quyết liệt triển khai các dự án phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê, phục vụ nhu cầu của người dân, đặc biệt là công nhân, người lao động có thu nhập thấp.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ. Khẩn trương hoàn thiện các cơ sở dữ liệu dùng chung, đặc biệt là về đất đai. Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, rà soát, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương hai cấp và năng lực thực thi ở cấp cơ sở; khẩn trương hoàn thành phương án xử lý nhà đất công dôi dư, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, không lãng phí nguồn lực.

Tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ biên cương, chủ quyền lãnh thổ cả trên biển và đất liền; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; quyết liệt quản lý, xử lý vi phạm về khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), góp phần cùng cả nước gỡ thẻ vàng của EC đối với thủy sản Việt Nam./.