
Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2026
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 122/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2026.
Nghị quyết nêu rõ, thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, chiến tranh xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, kéo dài; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm; thị trường tài chính, tiền tệ tiếp tục biến động, tiềm ẩn rủi ro... Ở trong nước, khó khăn, thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, tạo áp lực lên công tác chỉ đạo điều hành và việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2026, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP cả năm đạt từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phát huy tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao độ, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tập trung chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra.
Khẩn trương xây dựng văn bản quy định chi tiết 14 luật, nghị quyết
Trong đó, chủ động rà soát, tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ theo Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, các Nghị quyết của Quốc hội về các kế hoạch 05 năm về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ, nhất là 44 nhiệm vụ có thời hạn hoàn thành trong quý II năm 2026; cụ thể hóa thành các nhóm nhiệm vụ tại chương trình, kế hoạch hành động của bộ, cơ quan, địa phương, phân công rõ tổ chức, cá nhân chủ trì, phối hợp thực hiện với thời hạn hoàn thành cụ thể, làm cơ sở để giám sát, kiểm tra việc thực hiện và đánh giá cán bộ theo quy định; định kỳ hằng tháng báo cáo tình hình, tiến độ triển khai từng nhiệm vụ, gửi Bộ Tài chính trước ngày 25 để tổng hợp. Trong quá trình xây dựng đề án và chính sách, phải đánh giá đầy đủ về nguồn lực thực hiện, phù hợp với Kế hoạch tài chính 5 năm để đảm bảo khả thi và an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Chủ động xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành 14 luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất và khẩn trương xây dựng văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết này, bảo đảm chất lượng, tiến độ, có hiệu lực đồng thời với hiệu lực của luật, nghị quyết. Đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026 trở về trước và các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Tập trung rà soát hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến các nội dung đã được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội. Khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ; rà soát, sửa đổi quy chế làm việc phù hợp với Quy chế làm việc của Chính phủ và quy định pháp luật.
Tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết; tập trung xây dựng, hoàn thiện hồ sơ chính sách, hồ sơ dự án luật trình Chính phủ trong tháng 5 năm 2026 để trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ 2, bảo đảm chất lượng, thời hạn trình tại Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2025 và Quyết định số 701/QĐ-TTg ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó lưu ý rà soát kỹ nội dung giao quy định chi tiết và dự kiến hợp lý thời điểm có hiệu lực của luật, nghị quyết; khi trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, phải trình kèm theo dự thảo nghị định, quyết định, thông tư quy định chi tiết để bảo đảm tính khả thi trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết; giao Văn phòng Chính phủ đưa nội dung này vào Quy chế làm việc của Chính phủ.
Tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo đúng kế hoạch, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do đồng chí Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng Ban, Công điện số 32/CĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của bộ, cơ quan, địa phương mình.
Kịp thời tham mưu giải pháp điều hành, phản ứng chính sách nhanh, phù hợp, tuyệt đối không chủ quan, bị động, bất ngờ
Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thế giới và khu vực, nhất là thay đổi chính sách của các nền kinh tế lớn, kịp thời tham mưu giải pháp điều hành, phản ứng chính sách nhanh, phù hợp, tuyệt đối không chủ quan, bị động, bất ngờ. Chuẩn bị kịch bản trong tình huống xung đột Mỹ/Israel - Iran tiếp tục kéo dài. Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng.
Về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, đối với đầu tư công, thực hiện nghiêm Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25 tháng 4 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ. Khẩn trương hoàn thiện danh mục, phương án phân bổ vốn giai đoạn 2026 - 2030, gửi Bộ Tài chính trước ngày 15 tháng 5 năm 2026 để tổng hợp, báo cáo cấp thẩm quyền; đẩy nhanh phân bổ, giải ngân kế hoạch vốn được giao, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao. Quán triệt nguyên tắc hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án phải thực hiện xuyên suốt trong quá trình từ xây dựng nhu cầu, phân bổ vốn đến tổ chức thực hiện, quản lý sử dụng vốn đầu tư công và vận hành, khai thác dự án sau khi hoàn thành đầu tư.
Theo dõi sát diễn biến xuất nhập khẩu, tình hình nhập siêu, tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, kịp thời có giải pháp hỗ trợ. Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là nông sản theo mùa vụ. Tổ chức sản xuất, điều hành cung ứng năng lượng chủ động, linh hoạt; sử dụng điện, nhiên liệu tiết kiệm, hiệu quả; tuyệt đối không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống.
Tập trung phát triển, hiện đại hóa một số ngành công nghiệp nền tảng, quan trọng; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tổ chức vận hành đồng bộ, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam gắn với thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Khẩn trương thực hiện đầy đủ, đồng bộ các giải pháp tại Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" để tiêu dùng trong nước đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng GDP.
Khẩn trương cụ thể hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao thành các chương trình, dự án hợp tác cụ thể gắn với thu hút FDI; tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, đẩy mạnh đàm phán, ký kết các FTA mới theo kế hoạch, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, hỗ trợ xuất khẩu bền vững.
Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp tổ dân phố, thôn, bản và các đơn vị sự nghiệp công lập
Triển khai hiệu quả các kết luận, chỉ đạo của Đảng, Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Căn cứ vào các kiến nghị mà đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ ra, các bộ, ngành khẩn trương giải quyết trước khi họp sơ kết 01 năm chính quyền 3 cấp. Tổ chức sơ kết, đánh giá 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp tổ dân phố, thôn, bản và các đơn vị sự nghiệp công lập theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.
Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Xử lý triệt để tài sản công là nhà, đất dôi dư, không sử dụng; thời hạn hoàn thành trong quý II năm 2026.
Triển khai hiệu quả các Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện. Trong quý III năm 2026, hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024 (ở trung ương và địa phương), phấn đấu tiếp tục cắt giảm tối thiểu 30% các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, 100% các điều kiện kinh doanh không cần thiết.
Tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn
Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng "2 con số". Tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn; chủ động phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài. Tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại; hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính sách; chủ động, kịp thời định hướng dư luận; kiên quyết đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, thông tin giả, thông tin xấu độc, các luận điệu xuyên tạc.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Chỉ thị nêu, triển khai vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, công tác sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức cấp xã của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc của Đảng, quy định của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản được kiện toàn, từng bước thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới; năng lực lãnh đạo, điều hành được nâng lên; phương thức làm việc bước đầu đáp ứng mục tiêu, yêu cầu kiến tạo, phát triển và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
Tuy nhiên, hiện nay đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu rất cao, chức năng của cấp cơ sở đang và tiếp tục mở rộng, đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao, phát triển bền vững, đồng thời đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc theo hướng chủ động, kiến tạo, phát triển. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị, điều hành, thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Triệt để điều động cấp phó vượt số lượng quy định từ cấp tỉnh về cấp xã
Thực hiện Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành, địa phương tập trung, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiêm túc quán triệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương theo Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng (thực hiện thường xuyên).
Khẩn trương chỉ đạo xây dựng kế hoạch, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã phù hợp với đặc thù của địa bàn, vùng, miền, khu vực, đáp ứng yêu cầu linh hoạt trong tổ chức thực thi công vụ, hoàn thành trong tháng 5/2026.
Rà soát, đánh giá tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm được quy định tại các văn bản của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, các Nghị định của Chính phủ và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Tham mưu cấp ủy cùng cấp bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã bảo đảm "đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng địa bàn" và phát huy năng lực thực tiễn, sở trường và kinh nghiệm công tác; triệt để phân công, điều động đối với các lãnh đạo, quản lý cấp phó đang vượt quy định của các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cấp xã.
Bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, công chức cấp xã theo yêu cầu vị trí việc làm, gắn với thực tiễn địa bàn
Ưu tiên bố trí cán bộ, công chức có bản lĩnh, khả năng chịu áp lực và kinh nghiệm xử lý tình huống về công tác tại các địa bàn phức tạp, khối lượng công việc lớn, nhất là các lĩnh vực đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn chuyên sâu, như đất đai, xây dựng, dân tộc, tôn giáo, khiếu nại, tố cáo,... Kiên quyết không để xảy ra tình trạng phân công cán bộ, công chức không phù hợp với năng lực, sở trường công tác, hoàn thành trong Quý III/2026.
Tổ chức triển khai việc đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã trên cơ sở tiến độ, chất lượng xử lý công việc, năng lực phối hợp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp; thực hiện tinh giản biên chế đối với những người năng lực yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (thực hiện thường xuyên).
Thực hiện việc tuyển dụng để bổ sung nguồn nhân lực cho các cơ quan, đơn vị tại chính quyền địa phương cấp xã, ưu tiên người có tài năng và kinh nghiệm công tác đáp ứng ngay yêu cầu công việc (thực hiện thường xuyên).
Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo yêu cầu vị trí việc làm, gắn với thực tiễn của địa bàn. Chú trọng bồi dưỡng năng lực thực thi công vụ, năng lực phát triển, năng lực xử lý tình huống; tăng cường hướng dẫn tại chỗ. Thực hiện chế độ, chính sách và tạo điều kiện để cán bộ, công chức vừa học, vừa làm, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động của cơ quan, đơn vị (thực hiện thường xuyên).
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình của cán bộ
Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; siết chặt kỷ luật lao động, thực hiện nghiêm quy trình xử lý hồ sơ, thời hạn trả kết quả trên môi trường điện tử; ngăn chặn biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chậm trễ trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp (thực hiện thường xuyên).
Bố trí kinh phí, đầu tư bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng số, trang thiết bị làm việc của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên).
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; rà soát, đánh giá tính khả thi của việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định cho phù hợp, nhất là các nội dung phân cấp, phân quyền cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Rà soát, đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; ban hành các quy định, hướng dẫn về hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính, xử lý các tình huống... đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho cấp tỉnh, cấp xã, phù hợp với trình độ, năng lực cán bộ, công chức, yêu cầu thực tiễn khi vận hành tổ chức bộ máy mới, hoàn thành trong Quý II/2026.
Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành bảo đảm liên thông, kết nối đồng bộ từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; khẩn trương rà soát các hệ thống thông tin, phần mềm, ứng dụng thuộc phạm vi quản lý nhằm giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc bảo đảm thông suốt, đáp ứng yêu cầu người dùng (thực hiện thường xuyên).
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý cán bộ và thực thi công vụ
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý cán bộ và thực thi công vụ, số hóa quản lý cán bộ (hồ sơ điện tử, theo dõi quá trình công tác, đào tạo, đánh giá, cảnh báo thiếu chuẩn vị trí việc làm); nâng cao kỹ năng số trong thực thi công vụ (văn bản điện tử, dịch vụ công, họp trực tuyến, khai thác cơ sở dữ liệu, bảo mật thông tin, nghiên cứu điều hành dựa trên dữ liệu). Gắn chuyển đổi số với công tác cán bộ, bảo đảm cần đủ năng lực làm việc trong môi trường số, sử dụng dữ liệu, nâng cao tốc độ xử lý công việc, tính minh bạch và khả năng phối hợp liên thông để phục vụ người dân, doanh nghiệp (thực hiện thường xuyên).
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Xây dựng chính sách nhà ở xã hội đối với cán bộ có khó khăn về nhà ở trong Quý III/2026
Bộ Xây dựng tập trung xây dựng các chính sách nhà ở xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức có khó khăn về nhà ở, hoàn thành trong Quý III/2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn, bố trí kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ, chính sách và kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên).
Bộ Nội vụ hướng dẫn các hình thức đặc thù tuyển dụng để kịp thời bổ sung nguồn nhân lực cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc trong tháng 12/2026
Xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc cho cán bộ, công chức cấp xã trên nền tảng "Bình dân học vụ số", hoàn thành trong tháng 12/2026.
Phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã thuộc trách nhiệm quy định tại Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức và khoản 2 Mục VII Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị; tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 808/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
20 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược
Tại Quyết định trên, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho 10 bộ, cơ quan trung ương thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển công nghệ chiến lược (sau đây gọi tắt là nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược) tại Danh mục nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với bài toán lớn kèm theo Quyết định này, gồm:
1. Phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới bằng công nghệ gen, tế bào và công nghệ sinh học (Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ quản);
2. Làm chủ vắc xin thú y thế hệ mới, chế phẩm sinh học và sinh phẩm nông nghiệp (giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ quản);
3. Xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản (Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ quản);
4. Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ (Bộ Công Thương chủ quản);
5. Tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao (Bộ Công Thương chủ quản);
6. Hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy (Bộ Công Thương chủ quản);
7. Chủ động nguồn vắc xin thế hệ mới dùng cho người (Bộ Y tế chủ quản);
8. Làm chủ liệu pháp tế bào (tế bào miễn dịch, tế bào gốc) phục vụ điều trị ung thư, bệnh mạn tính, bệnh nan y (Bộ Y tế chủ quản);
9. Phát triển y tế cá thể hóa, thiết bị y tế in 3D (Bộ Y tế chủ quản);
10. Phát triển công nghệ xây dựng công trình đường sắt tốc độ cao (Bộ Xây dựng chủ quản);
11. Phát triển nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát và hệ thống thực - ảo (Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ quản);
12. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống quản lý thiết bị bay không người lái quốc gia (UTM) phục vụ quản lý vùng trời và phát triển kinh tế tầm thấp (Bộ Quốc phòng chủ quản);
13. Xây dựng và phát triển nền tảng điện toán đám mây nội địa phục vụ chuyển đổi số quốc gia, bảo đảm chủ quyền dữ liệu (Bộ Công an chủ quản);
14. Phát triển nền tảng bảo mật và an ninh mạng cho hạ tầng số quốc gia (Bộ Công an chủ quản);
15. Phát triển thiết bị, phương tiện bay không người lái (UAV) và hệ thống giám sát, phát hiện, chế áp UAV phục vụ bảo đảm an ninh, trật tự và mục tiêu lưỡng dụng (Bộ Công an chủ quản);
16. Xây dựng năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia tự chủ (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ quản);
17. Tăng cường năng lực làm chủ công nghệ lõi và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghệ chiến lược (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ quản);
18. Làm chủ hạ tầng mạng di động thế hệ sau và phát triển hệ sinh thái 5G (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ quản);
19. Nâng cao năng lực giám sát ngân hàng và quản trị rủi ro bằng trí tuệ nhân tạo (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ quản);
20. Phát triển vệ tinh, chùm vệ tinh quan sát Trái đất và hạ tầng dữ liệu không gian (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ quản).
Hoàn thành xây dựng nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trước 30/6
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo Tổ Công tác của Chính phủ về phát triển công nghệ chiến lược xem xét, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc ủy quyền Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định việc phê duyệt, điều chỉnh, gia hạn, tạm dừng, đình chỉ nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do bộ, cơ quan trung ương đề xuất thuộc Danh mục trên.
Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn bộ, cơ quan trung ương xây dựng nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược theo Danh mục; theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đã được phê duyệt; định kỳ hoặc theo yêu cầu báo cáo kết quả cho Tổ Công tác của Chính phủ về phát triển công nghệ chiến lược; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đánh giá định kỳ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung Danh mục nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với bài toán lớn.
Các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Y tế, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Quốc phòng, Công an, Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì, phối hợp với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, địa phương xây dựng nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược theo Danh mục, bảo đảm xác định rõ sản phẩm đầu ra, hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo
Chính phủ ban hành Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.
Nhà cung cấp phải thực hiện phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng
Về nguyên tắc phân loại và đánh giá sự phù hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo, Nghị định quy định việc phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo phải dựa trên mức độ rủi ro theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này.
Nhà cung cấp phải thực hiện phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng.
Bên triển khai phải phối hợp với nhà cung cấp để rà soát, phân loại lại hệ thống trí tuệ nhân tạo khi việc triển khai, sửa đổi, tích hợp hoặc thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn của hệ thống đã được phân loại.
Nhà cung cấp và bên triển khai phải thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này. Trường hợp kết quả đánh giá chưa bao phủ đầy đủ yêu cầu quản lý rủi ro đặc thù của hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này, nhà cung cấp hoặc bên triển khai chỉ phải thực hiện bổ sung đối với nội dung chưa được đánh giá hoặc chưa được chứng minh.
Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo được tích hợp trong sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hoặc pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật đó đối với sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng; đồng thời thực hiện các yêu cầu quản lý rủi ro đặc thù của thành phần trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định này.
Cơ quan quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phải bảo đảm nguyên tắc không trùng lặp trong phân loại, đánh giá sự phù hợp và kiểm tra đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo. Kết quả thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận hợp quy hoặc kết quả đánh giá sự phù hợp đã được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sử dụng để chứng minh việc đáp ứng yêu cầu tương ứng theo pháp luật về trí tuệ nhân tạo trong phạm vi nội dung đã được đánh giá hợp pháp, đầy đủ và còn hiệu lực thì tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại nội dung đó.
Bộ Khoa học và Công nghệ cung cấp công cụ hỗ trợ điện tử phục vụ việc tự đánh giá, phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trên cơ sở các tiêu chí theo quy định. Việc sử dụng công cụ hỗ trợ điện tử có tính chất hỗ trợ, không bắt buộc và không làm phát sinh thủ tục phê duyệt hành chính hoặc nghĩa vụ khác ngoài quy định của Nghị định này.
Về phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo, Nghị định quy định nhà cung cấp có trách nhiệm tự thực hiện việc phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của kết quả phân loại.
Việc phân loại chỉ áp dụng đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo; không áp dụng đối với mô hình trí tuệ nhân tạo, trừ trường hợp mô hình được sử dụng như một thành phần của hệ thống trí tuệ nhân tạo cụ thể.
3 mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo
Mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định như sau:
a) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại rủi ro cao là các hệ thống thuộc Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo;
b) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại có rủi ro trung bình là hệ thống không thuộc trường hợp quy định tại điểm a ở trên và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 9 của Nghị định này;
c) Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại có rủi ro thấp là hệ thống không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b ở trên.
Nghị định nêu rõ trường hợp bên triển khai sửa đổi, tích hợp, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng của hệ thống so với công bố ban đầu của nhà cung cấp làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn, bên triển khai có trách nhiệm phối hợp với nhà cung cấp để rà soát, phân loại lại mức độ rủi ro.
Thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo
Một quy định mới của Nghị định là việc thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống AI.
Nghị định quy định Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm quản lý, vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
Việc thu thập, cập nhật, công khai, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm quy định pháp luật về giao dịch điện tử và các yêu cầu sau đây:
- Phù hợp với mục đích quản lý nhà nước và phạm vi thông tin được pháp luật cho phép;
- Tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Không làm phát sinh thủ tục hành chính, nghĩa vụ báo cáo hoặc yêu cầu cung cấp thông tin đối với tổ chức, cá nhân ngoài các trường hợp quy định tại Nghị định này;
- Các hệ thống trí tuệ nhân tạo, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan Đảng, tổ chức chính trị, hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc danh mục bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi phải thông báo, đăng ký, chia sẻ dữ liệu công khai trên cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
Phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo
Một nội dung đáng chú ý khác của Nghị định là về phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo. Nghị định quy định Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối điều phối phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo; có trách nhiệm công bố thông tin về năng lực hạ tầng, dữ liệu, chương trình, nhiệm vụ và nhu cầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khu vực công để kết nối cung - cầu và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực theo quy định của pháp luật.
Việc phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo được thực hiện theo các chính sách sau đây:
- Phát triển nguồn cung công nghệ trí tuệ nhân tạo thông qua việc tạo điều kiện tiếp cận và khai thác hạ tầng tính toán, dữ liệu và môi trường thử nghiệm có kiểm soát; thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo có khả năng thương mại hóa;
- Kích thích cầu thị trường và mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo thông qua việc ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo trong phạm vi các nhiệm vụ, dự án ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phát triển chính phủ số, kinh tế số và cung cấp dịch vụ công theo quy định của pháp luật; khuyến khích triển khai các mô hình đặt hàng, mua sắm đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội; kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư công được xem xét bố trí theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đấu thầu và pháp luật có liên quan;
- Kết nối thị trường và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo thông qua việc phát triển các nền tảng kết nối cung - cầu công nghệ; thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học và nhà đầu tư.
Nghị định nêu rõ doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học tham gia phát triển, cung cấp hoặc ứng dụng sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo được ưu tiên trong triển khai các chính sách quy định ở trên theo quy định của pháp luật có liên quan./.