Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Khẩn trương rà soát, tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa TTHC về thành lập và hoạt động khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phòng vừa ký Công văn 3905/VPCP-CĐS ngày 2/5/2026 gửi Bộ trưởng các Bộ: Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Tư pháp, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục rà soát để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Ngày 29 tháng 4 năm 2026, Chính phủ đã ban hành 08 Nghị quyết để cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh (ĐKKD) trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của 14 Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao các Bộ, cơ quan đã chủ động, tích cực rà soát, tham mưu cho Chính phủ ban hành các Nghị quyết, bảo đảm kịp thời, đúng tiến độ, ghi nhận Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tích cực phối hợp với các Bộ, cơ quan, tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng các Nghị quyết.
Để bảo đảm tiếp tục cắt giảm mạnh mẽ các TTHC, tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân, doanh nghiệp, nhất là trong 04 lĩnh vực: (i) phòng cháy chữa cháy, (ii) thành lập và hoạt động khu công nghiệp, cụm công nghiệp, (iii) đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và (iv) cấp phép xây dựng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng "2 con số" theo yêu cầu tại Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo như sau:
Các đồng chí Bộ trưởng các Bộ: Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng chỉ đạo các đơn vị liên quan khẩn trương rà soát, nghiên cứu các quy định, TTHC liên quan đến 04 lĩnh vực nêu trên; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10 tháng 5 năm 2026 về hiện trạng các quy định, TTHC hiện nay (thẩm quyền, trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ, thời gian giải quyết...), đánh giá về kết quả cắt giảm, đơn giản hóa TTHC thời gian qua, đề xuất tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, đánh giá độc lập.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì chỉ đạo các đơn vị liên quan, trên cơ sở báo cáo của các Bộ, có ý kiến đánh giá và đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định, TTHC, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 12 tháng 5 năm 2026.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên của các Bộ, cơ quan.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 117/NQ-CP ngày 2/5/2026 về việc bổ sung Dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.
Cụ thể, Chính phủ quyết nghị thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI và soạn thảo theo trình tự, thủ tục thông thường như đề nghị của Bộ Nội vụ.
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về nội dung, báo cáo đề xuất, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản liên quan; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan liên quan của Quốc hội theo quy định.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026 ban hành Kế hoạch quốc gia phòng, chống các bệnh Cúm gia cầm, Lở mồm long móng và Dịch tả lợn Châu Phi, giai đoạn 2026 – 2030.
Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch là nâng cao năng lực quản lý, giám sát, xét nghiệm, cảnh báo sớm, điều tra dịch tễ, thực hành an toàn sinh học, tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh (ATDB); từng bước xây dựng hệ thống phòng, chống dịch bệnh động vật hiện đại, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững theo đúng định hướng của Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1520/QĐ-TTg ngày 06/10/2020.
Chủ động giám sát, phát hiện sớm, cảnh báo và ứng phó kịp thời với các ổ dịch Cúm gia cầm (CGC), Lở mồm long móng (LMLM) và Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP); giảm thiểu tác động tiêu cực của bệnh CGC, LMLM, DTLCP đối với sản xuất chăn nuôi, sức khỏe cộng đồng, an toàn thực phẩm, môi trường và các hoạt động thương mại.
Mục tiêu cụ thể là giảm tối thiểu 30% số ổ dịch CGC so với trung bình của cả giai đoạn 2019-2025; giảm tối thiểu 30% số ổ dịch LMLM và số gia súc buộc phải tiêu hủy so với trung bình của cả giai đoạn 2021-2025; giảm tối thiểu 30% số ổ dịch và số lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh DTLCP so với trung bình của cả giai đoạn 2020-2025.
Nguyên tắc xác định chỉ tiêu của địa phương
Mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch quốc gia là mục tiêu, chỉ tiêu khung ở cấp quốc gia; làm căn cứ để Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu và tổ chức thực hiện tại địa phương.
UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế của địa phương, mức độ nguy cơ dịch bệnh, quy mô và cơ cấu đàn vật nuôi, điều kiện chăn nuôi, giết mổ, lưu thông động vật và sản phẩm động vật, định hướng phát triển sản xuất, yêu cầu xây dựng cơ sở, vùng ATDB và khả năng bảo đảm nguồn lực để xác định mục tiêu, chỉ tiêu, địa bàn ưu tiên, lộ trình và giải pháp tổ chức thực hiện cho giai đoạn 2026 - 2030 và hằng năm theo thẩm quyền; trong đó phải bảo đảm có mức phấn đấu giảm số ổ dịch, số động vật mắc bệnh, chết, buộc phải tiêu hủy và nâng cao tỷ lệ bao phủ tiêm phòng, phù hợp với yêu cầu đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu chung của Kế hoạch quốc gia; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện quản lý nhà nước thông qua việc hướng dẫn chung, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, tổng hợp và đánh giá việc thực hiện Kế hoạch.
10 nhiệm vụ, giải pháp
Kế hoạch đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp gồm: 1. Hoàn thiện thể chế; 2. Chăn nuôi an toàn sinh học; 3. Phòng bệnh bằng vaccine; 4. Giám sát dịch bệnh; 5. Xử lý khi có dịch; 6. Kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y; 7. Xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh; 8. Chẩn đoán, xét nghiệm, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; 9. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi; 10. Hợp tác quốc tế.
Trong đó, về nhiệm vụ, giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, tổ chức thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học theo chuỗi giá trị, phù hợp với loài vật nuôi, quy mô chăn nuôi, phương thức chăn nuôi và điều kiện thực tế của từng địa phương; ưu tiên áp dụng tại cơ sở chăn nuôi tập trung, khu vực nguy cơ cao, địa bàn giáp biên giới, khu vực có lưu lượng vận chuyển, buôn bán động vật và sản phẩm động vật lớn, cơ sở giết mổ, chợ buôn bán động vật sống và vùng đã từng xảy ra dịch bệnh.
Ưu tiên lồng ghép, huy động và sử dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi theo quy định hiện hành, trong đó có các chính sách hỗ trợ thực hiện chăn nuôi theo tiêu chí an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, xử lý chất thải chăn nuôi và công trình khí sinh học, phù hợp với điều kiện, đối tượng, trình tự, thủ tục và khả năng cân đối ngân sách của địa phương theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, thực hiện kê khai, quản lý hoạt động chăn nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi, thú y và văn bản hướng dẫn thi hành; hướng dẫn cơ sở chăn nuôi áp dụng các biện pháp an toàn sinh học theo mức độ phù hợp với quy mô nông hộ, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp, trang trại và cơ sở tham gia chuỗi sản xuất.
Đối với chăn nuôi nông hộ tập trung thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, bao gồm: quản lý con giống, thức ăn, nước uống, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, xử lý chất thải, xác động vật, kiểm soát người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, không sử dụng thức ăn thừa chưa qua xử lý theo quy định và khai báo kịp thời khi phát hiện động vật ốm, chết bất thường.
Đối với chăn nuôi trang trại thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, bao gồm: quản lý con giống, thức ăn, nước uống, xử lý chất thải, xác động vật, kiểm soát người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, không sử dụng thức ăn thừa chưa qua xử lý theo quy định, khai báo kịp thời khi phát hiện động vật ốm, chết bất thường; cách ly, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, kiểm soát ra vào, kiểm soát động vật trung gian truyền bệnh, truy xuất nguồn gốc, quản lý nội bộ về an toàn sinh học và các yêu cầu khác theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y.
Tổ chức định kỳ và đột xuất vệ sinh, tiêu độc, khử trùng tại cơ sở chăn nuôi, điểm tập kết, chợ, cơ sở giết mổ, phương tiện vận chuyển và địa bàn nguy cơ cao bằng vôi bột hoặc hóa chất khử trùng được phép sử dụng trong thú y theo quy định; triển khai các đợt tổng vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát động và chủ động tổ chức bổ sung theo tình hình thực tế của địa phương.
Không đưa ra khỏi cơ sở chăn nuôi đang có dịch hoặc nghi có dịch con giống, thức ăn chăn nuôi, chất độn chuồng, chất thải, xác động vật, vật tư, dụng cụ và các vật phẩm có nguy cơ mang mầm bệnh khi chưa được xử lý theo quy định của pháp luật.
Về phòng bệnh bằng vaccine, việc tiêm phòng được tổ chức trên cơ sở đánh giá nguy cơ, đặc điểm dịch tễ, cơ cấu đàn vật nuôi, tổng số gia súc, gia cầm trong diện tiêm phòng, mùa vụ, kết quả giám sát lưu hành vi rút, đánh giá hiệu lực vaccine và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y. Thực hiện tiêm phòng theo đợt, tiêm phòng bổ sung và giám sát sau tiêm phù hợp với mức độ nguy cơ, mục tiêu kiểm soát dịch bệnh và khả năng bảo đảm nguồn lực của từng địa phương.
Đối với bệnh DTLCP, căn cứ kết quả giám sát lưu hành vi rút, loại vaccine được phép lưu hành, đối tượng sử dụng, hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y để lựa chọn loại vaccine phù hợp.
Việc tiêm phòng vaccine cần được thực hiện đồng thời với các biện pháp an toàn sinh học, giám sát, kiểm soát vận chuyển, kiểm soát giết mổ và xử lý ổ dịch bệnh động vật theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 phê duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030.
Mục tiêu chung của Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 (Chương trình) nhằm hỗ trợ cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, thiết bị đầu cuối góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chuyển đổi số quốc gia và đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Về hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, Chương trình đặt mục tiêu phấn đấu 100% địa bàn sau đây được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất: Thôn đã có điện thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn đã có điện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn lại; thôn đã có điện thuộc xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; nhà giàn trên biển.
Phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet
Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông bắt buộc, Chương trình phấn đấu 100% đối tượng sử dụng theo quy định được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông bắt buộc.
Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông phổ cập: Phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất hoặc dịch vụ viễn thông di động mặt đất.
Phấn đấu 100% các đối tượng chính sách đặc biệt sau đây có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất: Cơ sở giáo dục mầm non; cơ sở giáo dục phổ thông (bao gồm cả điểm trường); trạm y tế xã (bao gồm cả điểm y tế/điểm trạm y tế xã); điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
Phấn đấu 100% điểm cộng đồng tại địa bàn sau đây chưa được cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất và dịch vụ Internet băng rộng cố định mặt đất được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh tầm thấp: Thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn lại; thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
100% ngư dân trên tàu, thuyền Việt Nam đánh bắt trên biển có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông di động hàng hải.
Về hỗ trợ thiết bị đầu cuối, phấn đấu 400.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ trang bị điện thoại thông minh.
Nhiệm vụ, địa bàn được hỗ trợ
Chương trình sẽ triển khai các nhiệm vụ, địa bàn, khu vực hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích; hỗ trợ thiết bị đầu cuối.
Về Hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, Chương trình sẽ hỗ trợ bù đắp chi phí phát triển mới và duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông di động mặt đất tại địa bàn, khu vực chưa có dịch vụ viễn thông di động mặt đất.
Hỗ trợ bù đắp chi phí duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông di động mặt đất tại địa bàn, khu vực chỉ có 01 doanh nghiệp đã tự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông di động mặt đất theo Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025.
Hỗ trợ bù đắp chi phí phát triển mới và duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng trên mạng viễn thông cố định mặt đất tại địa bàn, khu vực chưa có dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất.
Hỗ trợ bù đắp chi phí duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng trên mạng viễn thông cố định mặt đất tại địa bàn, khu vực chỉ có 01 doanh nghiệp đã tự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng trên mạng viễn thông cố định mặt đất theo Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025.
Hỗ trợ bù đắp chi phí nâng cấp và duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để phù hợp với sự phát triển của công nghệ hoặc để cung cấp dịch vụ viễn thông bắt buộc theo yêu cầu của Nhà nước, đảm bảo thông tin liên lạc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
Địa bàn, khu vực triển khai là thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn lại; thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; nhà giàn trên biển.
Hỗ trợ thiết bị đầu cuối
Chương trình sẽ hỗ trợ 400.000 điện thoại thông minh cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, trừ hộ nghèo, hộ cận nghèo có học sinh, sinh viên được hỗ trợ thiết bị đầu cuối từ Chương trình "Sóng và máy tính cho em" do Thủ tướng Chính phủ phát động ngày 12 tháng 9 năm 2021 và trừ hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước trong các chương trình khác từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến thời điểm lập danh sách hỗ trợ trên.
Thời gian thực hiện Chương trình được tính từ ngày 30/4/2026 đến hết ngày 31/12/2030./.