In bài viết

Chuỗi cung ứng sắn còn nhiều thách thức

(Chinhphu.vn) - Mặc dù đứng vào ngành hàng "tỷ đô" của các sản phẩm nông nghiệp và đứng hàng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu nhưng chuỗi cung ứng của ngành hàng sắn Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều thách thức, nhất là trước các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và môi trường.

28/01/2026 15:03
Chuỗi cung ứng sắn còn nhiều thách thức- Ảnh 1.

Năm 2025, tổng giá trị tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của ngành sắn nước ta ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 tỷ USD

Hôm nay (28/1), tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức cuộc họp với chủ đề "Chuỗi cung ứng ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức".

Ngành sắn trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng và chế biến sâu

Những năm gần đây, trong khi xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó khăn, kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn vẫn duy trì đà tăng trưởng tương đối ổn định. Năm 2025, tổng giá trị tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của ngành sắn ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới và là quốc gia tiêu thụ sắn lớn thứ hai toàn cầu.

Theo ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, ngành sản xuất, chế biến và thương mại sắn có đóng góp quan trọng trong thương mại nông sản của Việt Nam. Thời gian qua, ngành sắn đã từng bước đầu tư theo hướng thân thiện với môi trường, mở rộng khả năng ứng dụng của sản phẩm.

Việt Nam hiện vừa là nước sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô trong khu vực. Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hàng năm đạt trên 18 triệu tấn tươi; trong đó khoảng 58% từ sản xuất trong nước và 42% từ nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia. Diện tích trồng sắn trong nước khoảng hơn 500.000 ha, cung cấp trên dưới 10 triệu tấn sắn tươi mỗi năm; lượng sắn nhập khẩu tương đương khoảng 8 triệu tấn.

Các đại biểu cho rằng, trong bối cảnh xuất khẩu sắn tăng mạnh về sản lượng nhưng kim ngạch tăng chậm, giải pháp căn bản và lâu dài là nâng cao giá trị gia tăng thông qua đẩy mạnh chế biến sâu. Theo đó, cần từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế, đồng thời khuyến khích đầu tư phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như tinh bột biến tính, sản phẩm phục vụ ngành thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp và năng lượng sinh học. Đây được xem là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và giảm phụ thuộc vào biến động của thị trường nguyên liệu thô.

Chia sẻ thêm về giải pháp, ông Nguyễn Vinh Quang, đại diện Tổ chức Forest Trends cho rằng, để bảo đảm truy xuất nguồn gốc, ngành sắn cần tái cấu trúc chuỗi cung hiện nay, tăng cường kiểm soát khâu sản xuất, đặc biệt là quản lý việc sử dụng đất; từng bước chuyển các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch hóa toàn bộ chuỗi và đảm bảo đầy đủ bằng chứng phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Tái cấu trúc lại chuỗi cung theo hướng có thể thực hiện truy xuất đòi hỏi ngành cần nhận được những ưu tiên thỏa đáng từ Chính phủ và các cơ quan hữu quan. “So với các ngành hàng khác như cà phê, gỗ,… ngành sắn hiện chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ Chính phủ. Với 1,2 triệu nông hộ, bao gồm nhiều hộ đồng bào ở những vùng khó khăn, hiện đang tham gia khâu sản xuất, ngành sắn xứng đáng nhận được sự quan tâm cao của Chính phủ”, Tiến sỹ Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends nêu quan điểm.

Chuỗi cung ứng sắn còn nhiều thách thức- Ảnh 2.

TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam: Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Truy xuất nguồn gốc - thách thức lớn trong bối cảnh mới

Ở góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Nghiêm Minh Tiến khẳng định, doanh nghiệp ngành sắn cam kết hướng tới xây dựng chuỗi cung minh bạch, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc; đồng thời kiến nghị các cơ quan quản lý sớm có hướng dẫn cụ thể và cơ chế hỗ trợ phù hợp để doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các yêu cầu mới.

Nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn; trong đó có Đề án "Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế còn gặp nhiều hạn chế do thiếu hướng dẫn cụ thể, công cụ giám sát và chưa tạo được động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng.

Trong khi đó, những năm gần đây, dù diện tích trồng sắn cả nước nhìn chung giảm nhẹ, song tại một số địa phương, việc mở rộng diện tích vẫn diễn ra, làm dấy lên lo ngại về tác động đến tài nguyên rừng. Đáng chú ý, các thị trường quốc tế ngày càng gia tăng yêu cầu đối với tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng; điển hình là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đang áp dụng với các ngành hàng như cà phê, cao su, gỗ… Theo đó, sản phẩm sắn Việt Nam được dự báo sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong thời gian tới.

Tiến sỹ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: "Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc của ngành sắn Việt Nam nằm ở phần nguyên liệu, cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu."

Hiện tại, nguồn cung trong nước chủ yếu được trồng trên những diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về các hoạt động sử dụng đất, giao dịch giữa hộ và thương lái khiến việc truy xuất nguồn gốc khó khăn; nhiều trường hợp là không thể. Khó khăn trong luồng cung nhập khẩu tương tự: các doanh nghiệp nhập khẩu không biết hoặc không có thông tin về vùng trồng, thiếu bằng chứng về các giao dịch.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn, nổi bật là Đề án "Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050", cùng với các cơ chế khuyến khích liên kết sản xuất, phát triển phù hợp.

Tuy nhiên, việc triển khai các chính sách này trên thực tế còn nhiều hạn chế, thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu công cụ giám sát và chưa tạo được các động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng. 

Chính phủ cũng đã trọng tâm ưu tiên vào thực hiện việc truy xuất sản phẩm, trong đó nhấn mạnh mục tiêu năm 2026 các hàng hóa nông lâm sản của Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài cần thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro, chống mất rừng, duy trì thị trường xuất khẩu và bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng triệu hộ trồng sắn trong tương lai.

Đỗ Hương