
Giai đoạn 2026-2030 sẽ triển khai 8 dự án trọng điểm với tổng kinh phí 32.593 tỷ đồng nhằm ứng phó với sạt lở, hạn mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh: VGP/LS
Chiều 9/5, tại TP. Cần Thơ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm việc với các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về triển khai các dự án phòng, chống sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn theo Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), giai đoạn 2026-2030 sẽ triển khai 8 dự án trọng điểm với tổng kinh phí 32.593 tỷ đồng. Hiện các dự án đang được chuẩn bị đầu tư để sớm triển khai trên toàn vùng ĐBSCL.
Trong đó, tại Cà Mau sẽ xây dựng hệ thống công trình kiểm soát, điều tiết nguồn nước vùng phía Nam Quốc lộ 1A. Công trình có nhiệm vụ điều tiết nguồn nước ngọt từ vùng Bắc Quốc lộ 1A về khu vực Nam Quốc lộ 1A, phục vụ nuôi trồng thủy sản mùa khô cho khoảng 43.000 ha thuộc TP. Bạc Liêu và huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (cũ), đồng thời phục vụ vùng sản xuất lúa – tôm ven kênh Cà Mau – Bạc Liêu với diện tích khoảng 10.400 ha.
Tại TP. Cần Thơ, dự án công trình kiểm soát nguồn nước bờ Nam sông Hậu giai đoạn 2 sẽ được triển khai nhằm khép kín hệ thống thủy lợi, điều tiết nguồn nước cho khoảng 70.000 ha khu vực Nam sông Hậu và Bắc kênh Phụng Hiệp; góp phần giảm ngập úng do triều cường, tăng khả năng luân chuyển dòng chảy và phục vụ giao thông thủy.
TP. Cần Thơ cũng sẽ triển khai dự án chống ngập úng, sạt lở, thích ứng biến đổi khí hậu khu vực phía Nam sông Hậu, gồm xây dựng 3 cống âu thuyền Ô Môn, Trà Nóc, Bình Thủy cùng các công trình phụ trợ khác.
Tại Vĩnh Long, dự án cải thiện hệ thống thủy lợi ven biển sẽ được triển khai nhằm khép kín hệ thống thủy lợi, kiểm soát nguồn nước phục vụ sản xuất khu vực Bắc Bến Tre và một phần Nam Bến Tre (trước đây). Một dự án khác là xây dựng đồng bộ hệ thống kiểm soát nguồn nước khu vực Nam Bến Tre, từng bước hoàn thiện hệ thống thủy lợi vùng ngọt hóa, bảo đảm nguồn nước tưới ổn định cho khoảng 24.000 ha cây ăn trái và hoa kiểng.
Ngoài ra, tỉnh Cà Mau sẽ triển khai cụm công trình Tắc Thủ và các công trình thủy lợi ven biển Tây; đồng thời Cà Mau, Vĩnh Long và TP. Cần Thơ sẽ nâng cấp hệ thống đê biển Đông, đê biển Tây. Một dự án quy mô lớn khác là chương trình chống chịu khí hậu và chuyển đổi tổng hợp vùng ĐBSCL sử dụng vốn vay Ngân hàng Thế giới và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Australia (WB11).

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại cuộc làm việc - Ảnh: VGP/LS
Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ NN&MT Trịnh Việt Hùng cho biết Bộ đã chủ động xây dựng Kế hoạch thực hiện Kết luận 26-KL/TW và dự kiến ban hành trong tháng 5. Đồng thời, Bộ cũng đã hoàn thành dự thảo lần 1 Nghị quyết của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận 26-KL/TW để lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương trước khi trình Chính phủ cuối tháng 5.
Bộ trưởng yêu cầu các địa phương vùng ĐBSCL khẩn trương quán triệt và cụ thể hóa Kết luận số 26-KL/TW vào quy hoạch phát triển của từng địa phương; rà soát, bổ sung các nội dung liên quan đến sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và lấn biển để có giải pháp ứng phó phù hợp.
Các địa phương cũng cần xây dựng phương án di dời dân cư tại những khu vực thường xuyên ngập úng hoặc có nguy cơ cao xảy ra sụt lún, sạt lở đến nơi an toàn; đồng thời quản lý chặt hoạt động xây dựng nhà ở, công trình, khai thác cát lòng sông, khai thác nước ngầm và các hoạt động có nguy cơ làm gia tăng sụt lún, sạt lở.
Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, việc triển khai các dự án phải bảo đảm tính liên kết vùng, tránh tình trạng đầu tư cục bộ, manh mún. “Không thể làm xong chỗ này nhưng lại gây tổn thương chỗ khác”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Bộ trưởng cũng yêu cầu các địa phương cung cấp số liệu chính xác về hộ dân phải di dời, tái định cư do sụt lún, sạt lở để các cơ quan chuyên môn có cơ sở xây dựng giải pháp căn cơ, lâu dài cho toàn vùng.
Theo báo cáo của Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai, tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL đang diễn biến rất nghiêm trọng, nhiều vấn đề đã vượt mức dự báo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết khu vực ĐBSCL đều xảy ra sụt lún với mức từ 0,5-3 cm/năm; riêng vùng ven biển lún từ 1,5-2,5 cm/năm, nhiều nơi trên 2,5 cm/năm. Trong khi đó, số liệu đo đạc của Bộ NN&MT cho thấy mức độ sụt lún tại vùng ĐBSCL trong vòng 5 năm gần đây dao động từ dưới 5 cm đến trên 10 cm.
Về sạt lở, từ năm 2016 đến nay, toàn vùng xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài hơn 1.210 km. Trong số này có 315 điểm đặc biệt nguy hiểm với chiều dài 619 km, đe dọa trực tiếp đê điều, khu dân cư và hạ tầng quan trọng, đồng thời gây mất đất và rừng ngập mặn nghiêm trọng.
Ngập úng do triều cường cũng gia tăng mạnh cả về diện tích lẫn độ sâu. Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, độ ngập sâu trung bình hiện ở mức 0,2-0,4 m, tăng khoảng 5-6% so với 10 năm trước. Một số khu vực tại TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long ngập sâu tới 0,6-0,7 m. Thời gian ngập thường kéo dài từ 2-4 giờ mỗi đợt triều cường; riêng tại Cần Thơ kéo dài 4-6 giờ và có thể lên tới 10-12 giờ nếu triều cường kết hợp mưa lớn.
Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn cũng diễn biến ngày càng khốc liệt. Do thay đổi dòng chảy từ thượng nguồn, xâm nhập mặn hiện xuất hiện sớm hơn từ 1-1,5 tháng so với trước năm 2013. Trong 10 năm gần đây, ĐBSCL đã trải qua hai đợt hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng nhất lịch sử là mùa khô 2015-2016 với ranh mặn 4 g/l xâm nhập sâu 60-73 km và mùa khô 2019-2020 với ranh mặn 4 g/l xâm nhập sâu 70-80 km.

Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trần Chí Hùng báo cáo tại Hội nghị - Ảnh: VGP/LS
Đại diện UBND TP. Cần Thơ đề nghị Bộ NN&MT sớm hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý tài nguyên nước, khai thác cát sông, khai thác nước ngầm và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời xây dựng cơ chế điều phối, chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các địa phương để phục vụ công tác dự báo, cảnh báo và điều hành theo thời gian thực.
Các địa phương cũng kiến nghị ưu tiên nguồn lực cho các công trình kiểm soát sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn có tính liên vùng, đa mục tiêu và cấp bách đối với ĐBSCL.
Bên cạnh đó là đầu tư nâng cấp hệ thống quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm; hỗ trợ xây dựng hệ thống giám sát, điều hành công trình thủy lợi theo thời gian thực, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích và dự báo thiên tai. Các địa phương cũng đề xuất hỗ trợ nghiên cứu, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước và giảm khai thác nước ngầm nhằm phát triển bền vững vùng ĐBSCL.
Lê Sơn