
Nghệ nhân Đào Đức Hiếu trình diễn trà di sản tại sự kiện văn hóa, góp phần đưa trà Việt trở thành cầu nối mềm trong các hoạt động giao lưu, đối ngoại. Ảnh: VGP/NVCC.
Trà là văn hóa, là triết lý sống, là sự kết nối giữa con người và tự nhiên
Cuộc gặp gỡ với nghệ nhân Đào Đức Hiếu diễn ra bên bàn trà trong không gian lớp học Hiểu về Trà tại Hà Nội. Không gian tĩnh, ánh sáng dịu. Hương trà Shan tuyết cổ thụ lan nhẹ, không gắt, không phô trương, như một mạch thở chậm của núi rừng theo chân người về phố thị.
Nghệ nhân Đào Đức Hiếu rót trà bằng những động tác tiết chế, giọng nói trầm và chừng mực. Những điều anh chia sẻ không nhằm phô diễn tri thức, mà dẫn dắt người đối diện suy ngẫm về cách con người đối xử với thiên nhiên, với di sản và với chính mình trong nhịp sống hiện đại. "Làm trà trước hết là học cách chậm lại. Khi mình chậm, mình mới nghe được trà nói", anh chia sẻ.
Sinh năm 1980 trong một gia đình trí thức tại Hà Nội, Đào Đức Hiếu được đào tạo bài bản tại Đại học Kiến trúc Hà Nội và từng được giữ lại trường làm giảng viên. Nhiều năm làm nghề trong môi trường đô thị giúp anh hình thành tư duy hệ thống, kỷ luật nghề nghiệp và thẩm mỹ chặt chẽ. Chính nền tảng ấy trở thành điểm tựa quan trọng khi anh bước sang một con đường hoàn toàn khác, ít hào nhoáng hơn, nhưng đòi hỏi sự bền bỉ dài hơi hơn.
Bước ngoặt đến vào năm 2016, khi Hiếu quyết định rời Hà Nội, vượt đèo lên Suối Giàng, xã vùng cao của huyện Văn Chấn, tiếp quản khu vườn mười tám gốc trà Shan tuyết cổ thụ của gia đình. Đêm đầu tiên trên đỉnh núi cao hơn 1.300 mét, khi Suối Giàng chưa có dịch vụ lưu trú, anh buộc phải quay về thị xã Nghĩa Lộ. Rạng sáng hôm sau, Hiếu quay lại. Nắng ban mai vén mây, soi rõ những thân trà cổ thụ xù xì, trầm mặc giữa sương núi. "Khoảnh khắc ấy, tôi biết mình không còn đường quay lại. Trà đã chọn tôi", anh nhớ lại.
Với Đào Đức Hiếu, trà không phải là một sản phẩm tiêu dùng thông thường. Trà là văn hóa, là triết lý sống, là sự kết nối giữa con người và tự nhiên. Qua thực hành và chiêm nghiệm, anh đúc kết nghệ thuật thưởng trà trong một nguyên tắc cổ truyền: "Nhất thủy, nhì trà, tam pha, tứ ấm, ngũ quần anh". Theo anh, "nước phải tinh khiết, trà phải là tinh hoa của đất trời, cách pha phải đúng, ấm phải hợp và quan trọng nhất là phải có tri âm. Không có tri âm thì trà ngon mấy cũng chỉ là nước".
Gắn bó với Suối Giàng, Hiếu sớm đối diện một nghịch lý dai dẳng. Hàng nghìn hộ dân sở hữu những cây trà Shan tuyết cổ thụ quý hiếm, nhưng địa phương vẫn thuộc diện xã nghèo. Trong khi đó, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu trà lớn của thế giới với sản lượng hơn hai trăm nghìn tấn mỗi năm, song phần lớn là trà thô, thiếu thương hiệu, giá trị gia tăng thấp. Không ít sản phẩm trà Việt ra nước ngoài mang tên gọi khác và được bán với giá cao gấp nhiều lần.
"Nỗi đau lớn nhất của ngành trà Việt là có tài nguyên quý nhưng không làm chủ được giá trị", Đào Đức Hiếu thẳng thắn. Theo anh, nếu chỉ khai thác ngắn hạn, trà sẽ mãi là nguyên liệu rẻ, còn người trồng trà sẽ mãi nghèo.
Tình yêu trà của Hiếu không đến từ lý thuyết, mà bắt nguồn từ gia đình. Ông nội anh, ông Đào Thanh, là người mua vườn trà Suối Giàng từ năm 1973. Ba thế hệ trong gia đình gắn bó với trà, từ làm đồ uống chăm sóc sức khỏe đến thưởng trà. Khi sống cùng bà con người Mông, Hiếu càng thấy rõ rằng nếu không có cách tiếp cận dài hạn, vùng tài nguyên quý này sẽ tiếp tục bị khai thác manh mún và lãng phí.
Thay vì chọn con đường ngắn hạn, Hiếu xây dựng Giải pháp Hệ sinh thái du lịch Suối Giàng với mười tám nhiệm vụ cụ thể, mang đi trao đổi với lãnh đạo tỉnh và các sở, ngành. Không ít ý kiến hoài nghi, bởi tập quán sinh hoạt của đồng bào Mông vốn tự do, khó áp dụng kỷ luật du lịch. Nhưng Hiếu kiên trì với lựa chọn của mình. "Tôi không đi thuyết phục bằng lời. Tôi chọn làm mẫu để người dân tự nhìn thấy kết quả", nghệ nhân nói.
Anh sống cùng bản, ăn ở trong bản, đưa bạn bè và đối tác lên trải nghiệm để bà con thấy rằng làm du lịch có thể mang lại sinh kế ngay trên chính quê hương mình. Du lịch cộng đồng dần hình thành. Những không gian như Giàng House, Nahi Village, Enna Suối Giàng lần lượt ra đời. Trẻ em được học ngoại ngữ, học nghề. Người dân tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch. Năm 2019, Không gian văn hóa trà Suối Giàng được khởi công, do chính thợ Mông trong bản xây dựng và sau đó đạt giải kiến trúc toàn quốc, trở thành điểm nhấn văn hóa trên đỉnh núi.
Song song với du lịch, cách làm trà cũng thay đổi. Trà Shan tuyết cổ thụ được chế biến theo tiêu chuẩn quốc tế, giá trị tăng lên rõ rệt. Từ mức vài trăm nghìn đồng mỗi kilogram, có những sản phẩm được đấu giá lên tới hàng trăm triệu đồng. Nhiều hộ dân từ chỗ trông chờ trợ cấp đã có thu nhập ổn định, đời sống cải thiện rõ rệt. Hợp tác xã Hệ sinh thái du lịch Suối Giàng do Hiếu sáng lập và điều hành được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vinh danh là doanh nghiệp tiêu biểu.
Với Đào Đức Hiếu, Suối Giàng không phải đích đến cuối cùng. Anh coi đây là điểm khởi đầu cho một tư duy phát triển mới của trà Việt. "Suối Giàng là mô hình mẫu để tôi kiểm chứng một cách làm. Khi mô hình ấy đứng vững, tôi phải đi tiếp", nghệ nhân chia sẻ.
Mục tiêu lớn hơn mà Hiếu theo đuổi là đưa trà Việt trở thành quốc bảo, được định vị xứng đáng trên bản đồ trà thế giới. Theo anh, cần nhân rộng mô hình từ Suối Giàng sang chín vùng trà cổ thụ khác, xa hơn là các vùng trà hữu cơ. Từ định hướng đó, Hiếu xây dựng hệ thống Vietnam Teashop Organic, quy tụ trà hữu cơ từ nhiều vùng nguyên liệu, đặt nền tảng cho minh bạch và truy xuất nguồn gốc.
Một dấu mốc quan trọng là sự ra đời của bộ sưu tập Thập Trà Long Đỉnh, quy tụ tinh hoa từ mười đỉnh núi, mười vùng trà danh tiếng. Mỗi phẩm trà được giới hạn số lượng, bán bằng gram, gắn với hộp sơn mài do nghệ nhân làng nghề Hạ Thái chế tác. "Tôi không bán trà bằng sản lượng. Tôi bán trà bằng câu chuyện và chiều sâu văn hóa", Hiếu nói.
Anh không giấu khát vọng làm ra những loại trà có thể được định giá ở phân khúc cao nhất, thậm chí hướng tới mức một tỷ đồng mỗi kilogram. Với anh, "con số không phải để khoe, mà để đo xem tư duy của mình đã đi đến đâu".
Năm 2023, Đào Đức Hiếu trở lại Hà Nội, xây dựng không gian Việt Nam Ơi - Tinh hoa làng nghề Việt. Tại đây, trà Shan tuyết cổ thụ hiện diện cùng gốm, lụa, sơn mài, khảm trai trong một chỉnh thể văn hóa Việt Nam đương đại. Từ không gian này, anh thường xuyên được mời tổ chức các tiệc trà di sản trong các hoạt động đối ngoại, tiếp đón đại biểu quốc tế và bạn bè nước ngoài. "Trà Việt không cần nói nhiều. Khi được đặt đúng chỗ, trà tự kể câu chuyện của mình", anh chia sẻ.
Song song với sản xuất và kinh doanh, Hiếu dành nhiều tâm huyết cho giáo dục di sản. Trà được đưa vào các chương trình trải nghiệm văn hóa tại làng nghề và những không gian biểu tượng. Theo anh, "trà không chỉ để bán, mà để kể chuyện và truyền lại ký ức văn hóa cho các thế hệ".
Khoảng 5 năm trở lại đây, Đào Đức Hiếu chủ động rời khỏi vùng an toàn để bắt đầu một hành trình mà anh gọi là "xuống núi". Nếu Suối Giàng là nơi khởi phát tư duy, thì Thái Nguyên, vùng chè lớn nhất cả nước, là phép thử đầu tiên cho khả năng lan tỏa của cách làm trà tinh hoa. Trong suốt ba năm, gần như tháng nào anh cũng trở lại đây, trực tiếp tập huấn, tư vấn và đồng hành cùng người làm trà.

Nghệ nhân Đào Đức Hiếu chia sẻ về văn hóa trà và di sản, lan tỏa thông điệp gìn giữ và nâng tầm tinh hoa trà Việt. Ảnh: VGP/NVCC.
Và, sự thay đổi không diễn ra ồn ào, nhưng đủ sâu để tạo ra bước ngoặt về tư duy và giá trị sản phẩm. Trà Thái Nguyên lần đầu xuất hiện trong các phiên đấu giá công khai với mức giá gây chú ý. Có hộp trà 100 gam đạt tới 150 triệu đồng, tương đương khoảng 1,5 tỷ đồng mỗi kilogram, thậm chí có mẻ trà đặc biệt được định giá ở mức 2,68 tỷ đồng mỗi kilogram. "Điều quan trọng không nằm ở con số, mà ở tư duy lấy ít được nhiều, làm trà tinh hoa thay vì chạy theo sản lượng", Hiếu nhấn mạnh.
Từ Thái Nguyên, hành trình tiếp tục mở rộng. Tại Hà Giang, anh được mời hỗ trợ định hướng phát triển trà gắn với sinh kế địa phương. Ở Ninh Bình, trà hiện diện trong các festival văn hóa được truyền hình trực tiếp như một nghi lễ sống động. Tại Hưng Yên, trà trở thành cầu nối trong những chương trình đón kiều bào về nước. Những vùng trà từng bị lãng quên ở Tuyên Quang, Lai Châu, Lạng Sơn cũng dần được đưa vào lộ trình đồng hành.
Với Đào Đức Hiếu, mở rộng không phải để khẳng định cá nhân. "Một mình mạnh là chưa đủ. Trà Việt chỉ có thể đi xa khi cả hệ sinh thái cùng mạnh, cùng sạch và cùng tử tế", anh nói. Từ triết lý ấy, Vietnam Teashop Organic được hình thành như một không gian quy tụ trà hữu cơ từ nhiều vùng miền, đặt nền tảng cho minh bạch và truy xuất nguồn gốc trong hành trình dài hơi của trà Việt.
Giữa những ngày đầu xuân, khi chén trà nóng lan tỏa hương núi rừng, câu chuyện của nghệ nhân văn hóa trà Đào Đức Hiếu gợi mở một cách tiếp cận khác về phát triển. Đi chậm nhưng chắc. Lấy văn hóa làm gốc. Lấy sự tử tế làm thước đo. Lấy cộng đồng làm điểm tựa. Trong mỗi chén trà Shan tuyết cổ thụ, người thưởng trà cảm nhận được khát vọng đưa tinh hoa Việt Nam đi ra thế giới bằng chính bản sắc và niềm kiêu hãnh Việt.
Minh Anh