In bài viết

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10: Điều hành kinh tế vĩ mô, các vấn đề dân sinh được quan tâm

(Chinhphu.vn) - Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10 diễn ra sáng 4/11, vấn đề điều hành tỉ giá, giá, nhà ở xã hội, ngăn chặn bạo lực học đường, hiệu quả sử dụng xăng E10, đấu tranh chống tội phạm lừa đảo... được báo chí quan tâm đặt câu hỏi với đại diện các cơ quan chức năng.

04/11/2026 12:56

PV Thành Nam (cơ quan Báo, Phát thanh - Truyền hình Hà Nội): Ngày 19/10/2026, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức cuộc họp và yêu cầu các ngân hàng giảm thực chất 0,5% lãi suất huy động, đồng thời giảm lãi suất cho vay, trong đó tập trung ưu tiên giảm từ 1,5-2% cho các lĩnh vực ưu tiên và sản xuất kinh doanh. Sau hơn nửa tháng qua, xin Phó Thống đốc cho biết tình hình triển khai giảm lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay thực tế tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Cũng xin Phó Thống đốc chia sẻ thêm về một số định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới.

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10:  - Ảnh 1.

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà trả lời phóng viên về vấn đề điều hành lãi suất - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà: Bối cảnh thực tế cho thấy nhu cầu vốn cho nền kinh tế luôn ở mức cao, phục vụ mục tiêu tăng trưởng. Cùng với đó, diễn biến kinh tế thế giới rất phức tạp. Để ứng phó với tình trạng lạm phát tăng cao, nhiều ngân hàng trung ương, trong đó có các ngân hàng trung ương chủ chốt, tiếp tục tăng lãi suất. Trong nước, áp lực lên mặt bằng lãi suất luôn ở mức lớn trong thời gian qua.

Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai quyết liệt các giải pháp, biện pháp nhằm giảm mặt bằng lãi suất thị trường.

Trước hết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung mọi nguồn lực, tiết giảm chi phí và chia sẻ lợi nhuận với khách hàng để triển khai đồng bộ các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng giảm từ 0,5-1%/năm lãi suất huy động của các khoản tiền gửi mới phát sinh có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, làm nền tảng để giảm mặt bằng lãi suất nói chung.

Về lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu giảm từ 1,5-2% đối với các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Ngân hàng Nhà nước đã đạt được một số kết quả rất tích cực.

Một là về lãi suất niêm yết, các ngân hàng đã đồng loạt giảm 0,5%/năm đối với các khoản tiền gửi mới có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, theo đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, đối với khối ngân hàng thương mại nhà nước và khối ngân hàng nước ngoài, mức giảm bình quân phổ biến là 0,5%/năm. Đối với khối ngân hàng thương mại cổ phần, mức giảm lãi suất huy động niêm yết từ 0,5-0,7%/năm.

Ngân hàng Nhà nước cho rằng việc điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi, huy động tiền gửi rất quan trọng, tạo cơ sở để các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Về lãi suất huy động thực tế, số liệu thống kê cho thấy, đến đầu tháng 10, lãi suất huy động đối với các khoản tiền gửi mới giảm khoảng 0,4% so với thời điểm đầu tháng 10.

Đối với lãi suất cho vay thực tế, lãi suất cho vay phát sinh mới trong giai đoạn cuối tháng 10 vừa qua đã giảm từ 0,2-0,5% so với thời kỳ báo cáo đầu tháng 10.

Bên cạnh đó, trên 20 ngân hàng đã công bố các chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi dành cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, với mức giảm từ 0,5-2%/năm.

Hai là, để tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cũng như nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng, về phía Ngân hàng Nhà nước, bên cạnh việc triển khai các biện pháp như nghiệp vụ thị trường mở hằng ngày, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ sang đồng Việt Nam với các kỳ hạn ngắn, ngày hôm qua, ngày 3/11, Ngân hàng Nhà nước đã thông báo triển khai công cụ hoán đổi ngoại tệ sang đồng Việt Nam với kỳ hạn 6 tháng đối với các tổ chức tín dụng, nhằm hỗ trợ nguồn vốn tương đối dài hơi cho các tổ chức tín dụng trong thời gian tới.

Biện pháp này sẽ giúp hệ thống các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại có thêm nguồn vốn, tăng thanh khoản, góp phần giảm mặt bằng lãi suất và đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế vĩ mô trong cuối năm 2022.

Về điều hành trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tình hình thực tế trong nước và quốc tế để điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành thanh khoản một cách chủ động, cung ứng nguồn vốn thanh khoản cho thị trường để hỗ trợ việc giảm mặt bằng lãi suất trong thời gian tới.

Về tỉ giá, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt, phù hợp với diễn biến thực tế của thị trường, cung cầu trong nước và diễn biến kinh tế vĩ mô, nhằm hỗ trợ tăng trưởng.

Về tín dụng, chúng tôi sẽ theo dõi sát diễn biến tín dụng trong hai tháng cuối năm để bảo đảm dòng vốn tín dụng đi đúng mục tiêu, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào các quy trình, thủ tục cấp tín dụng, nhằm bảo đảm việc tiếp cận vốn vay của người dân và doanh nghiệp được nhanh chóng, thuận lợi hơn.

Đối với lãi suất, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng quyết liệt triển khai các biện pháp giảm mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Đồng thời, sẽ có biện pháp xử lý đối với các tổ chức tín dụng không thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ thanh khoản, hỗ trợ nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng, góp phần giảm mặt bằng lãi suất trong thời gian tới.

PV Mỹ Hà (Tạp chí Kinh tế Việt Nam): Sau Công điện 70 ngày 15/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ, xin Bộ Tài chính cho biết các kịch bản điều hành giá để kiểm soát Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo mục tiêu khoảng 4,5%, đồng thời bảo đảm nguồn cung và ổn định giá các mặt hàng thiết yếu. Việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% sẽ ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước, nhưng lại có tác động lớn đến việc giảm giá các nguyên liệu sản xuất đầu vào, cụ thể là giá xăng và giá điện. Đồng thời, điều này cũng góp phần giảm chi phí sản xuất và sinh hoạt cho doanh nghiệp, người dân. Đề nghị Bộ Tài chính cho biết, việc giảm thuế và giá như vậy sẽ tác động như thế nào đến CPI?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10:  - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi trả lời câu hỏi của báo chí - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi: Liên quan đến kịch bản điều hành giá hướng tới mục tiêu 2026 là 4,5%, tôi xin chia sẻ như sau: Trong 10 tháng, chỉ số CPI bình quân hiện nay là 4,57%, cao hơn mục tiêu 4,5% cả năm. Đây là tình hình hiện tại, đặt ra áp lực rất lớn đối với công tác điều hành giá những tháng cuối năm 2026 để chúng ta vươn tới mục tiêu 4,5%. Trong tháng 10/2026, Ban chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ đã họp, dưới sự chủ trì của đồng chí Phó Thủ tướng, Trưởng ban. Bộ Tài chính cũng đã trình trong cuộc họp này những kịch bản triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp để đảm bảo mục tiêu. Có 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, chủ động theo dõi và dự báo diễn biến giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu. Các bộ, ngành, địa phương cập nhật thường xuyên diễn biến giá trong nước và quốc tế để tham mưu giải pháp phù hợp, kịp thời, không để bị động trước các cú sốc về giá.

Thứ hai, đảm bảo nguồn cung, ổn định giá các mặt hàng thiết yếu. Các bộ, ngành, địa phương chủ động các phương án cân đối cung cầu, dự trữ và lưu thông hàng hóa, nhất là xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc và vật tư y tế. Chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng phục vụ nhu cầu cuối năm và dịp Tết Nguyên đán. Tăng cường kết nối cung cầu giữa các địa phương, hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng và thiếu hụt hàng hóa cục bộ ở các địa bàn.

Thứ ba, phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Tiếp tục thực hiện chính sách thuế, phí phù hợp nhằm giảm chi phí đầu vào và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân.

Thứ tư, điều hành thận trọng giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quyết định. Các bộ, ngành rà soát kỹ thời điểm, mức độ và điều chỉnh giá, đánh giá đầy đủ tác động đến CPI, đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đặc biệt chú trọng điều hành giá các mặt hàng chiến lược, thiết yếu như xăng dầu và điện.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường và triển khai các giải pháp giảm chi phí đầu vào. Kiểm tra việc kê khai, niêm yết giá, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá và lợi dụng để trục lợi dịp cuối năm, các dịp lễ, Tết. Đồng thời yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh giảm giá bán phù hợp khi chi phí đầu vào giảm. Đối với các địa phương có CPI tăng cao thì cần phân tích nguyên nhân theo từng nhóm hàng hóa, dịch vụ để triển khai các giải pháp quản lý giá có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả.

Quan điểm điều hành xuyên suốt là nỗ lực phấn đấu để thực hiện mục tiêu kiểm soát CPI bình quân 2026 ở khoảng 4,5%. Không chủ quan trước các rủi ro phát sinh, điều hành chủ động, linh hoạt theo diễn biến thực tế, gắn kiểm soát lạm phát với đảm bảo nguồn cung, ổn định thị trường và hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Trong cuộc họp của Ban chỉ đạo điều hành giá, đã phân tích rất kỹ và đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo đã kết luận là nếu các bộ, ngành, địa phương, toàn hệ thống chính trị thực hiện tốt 5 giải pháp, nhóm nhiệm vụ trọng tâm như trên thì chúng ta sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát đầu năm đề ra, khoảng 4,5% năm 2026.

Liên quan đến việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu (xăng về 0%) và giảm giá điện 2% sẽ tác động đến ngân sách Nhà nước và CPI như thế nào, tôi xin chia sẻ như sau:

Về tác động đến thu ngân sách nhà nước, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 45 và quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Nghị quyết này quy định thuế suất tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng xăng các loại là 0% và có hiệu lực kể từ ngày 1/11/2026 đến hết ngày 31/3/2027. Việc đưa thuế suất tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về mức 0% trong thời gian từ tháng 11 đến hết tháng 3 dự kiến sẽ làm giảm thu ngân sách khoảng gần 7.000 tỷ đồng. Cùng với đó, từ ngày 1/11/2026, giá bán lẻ điện bình quân cũng sẽ giảm 2%, tạo điều kiện để giảm chi phí sinh hoạt, sản xuất của người dân và doanh nghiệp.

Về đánh giá tác động đến CPI của hai chính sách này, trong cơ cấu CPI, điện sinh hoạt thuộc nhóm 4 (nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) và có trọng số là 4,81%. Xăng dầu thuộc nhóm 7 (giao thông) và có trọng số là 4,53%. Giá điện và xăng dầu có vai trò quan trọng đối với diễn biến CPI do đây là những mặt hàng thiết yếu, có khả năng tác động trực tiếp lên chỉ số giá của nhóm tương ứng, gián tiếp ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, vận chuyển, lưu thông, phân phối của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác. Việc giảm giá điện 2%, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng giảm về 0%, theo số liệu thống kê ước tính, việc điều chỉnh này tác động đến CPI tháng 11/2026 so với tháng 10 giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm. Và tác động đến CPI bình quân năm 2026 giảm khoảng 0,08 điểm phần trăm. Chỉ số tiêu dùng tháng 10/2026 tăng 0,2% so với tháng trước. Bình quân 10 tháng thì như đã báo cáo, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng khoảng 4,24%.

Việc điều chỉnh giảm giá điện 2% và giá xăng dầu (thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%) giúp giảm chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vận tải và dịch vụ của doanh nghiệp, hỗ trợ đời sống người dân, đảm bảo ổn định mặt bằng giá; góp phần kiểm soát lạm phát mục tiêu, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Việc giảm giá xăng dầu có tác động lớn đến chi phí logistics và dịch vụ vận tải. Tỉ trọng chi phí xăng dầu trong giá vận chuyển hành khách đường sông là khoảng 40%, và trong vận tải đường bộ chiếm khoảng 40 - 50%. Việc giảm giá điện giúp giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và giảm chi phí sinh hoạt cho người dân.

Xin Bộ Xây dựng cho biết tiến độ hoàn thành chỉ tiêu nhà ở xã hội năm 2026? Bộ Xây dựng sẽ có giải pháp cụ thể nào để bảo đảm được người thu nhập thấp, công nhân thực sự tiếp cận được nhà ở, mua hoặc là thuê dài hạn với giá hợp lý?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10:  - Ảnh 3.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Hồng Vinh thông tin về xây dựng nhà ở xã hội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Hồng Vinh: Nhu cầu nhà ở xã hội là nhu cầu rất thiết thực và chính đáng của người dân để có nơi an cư lạc nghiệp. Khi an cư lạc nghiệp mới thiết lập được nguồn lực lao động cho xã hội, cho các khu vực thành thị, khu vực phát triển công nghiệp và tạo nguồn lao động cho xã hội.

Về kết quả thực hiện chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội năm 2026, hiện nay cả nước đang triển khai xây dựng 293 dự án với quy mô 363.065 căn. Đã khởi công mới128 dự án với quy mô 183.293 căn; trong đó có 140.492 căn nhà ở xã hội và 42.801 căn nhà ở cho thuê. 170 dự án hoàn thành với quy mô là 46.962/97.271 căn, đạt 48% so với kế hoạch.

Dự kiến đến hết năm 2026, cả nước sẽ hoàn thành 87.601 căn, đạt 90% so với kế hoạch đề ra.

Về kết quả thực hiện chỉ tiêu thực hiện nhà ở cho thuê năm 2026, lũy kế đến nay cả nước có 114 dự án nhà ở xã hội có nhà ở cho thuê đang triển khai với tổng số 63.970 căn để cho thuê.

Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh việc phát triển phân khúc nhà ở cho thuê từ tháng 6/2026 đến nay, cả nước đã có 29 dự án mới được khởi công. Quy mô các dự án này khoảng 85.594 căn, trong đó có 33.886 căn nhà ở cho thuê, chiếm 40%. Đến nay cả nước đã hoàn thành được 8.314 căn, đạt tỉ lệ 48% kế hoạch và khả năng hoàn thành năm 2026 đạt 18.049 căn và đạt tỉ lệ 104% so với kế hoạch thực giao.

Về các giải pháp để người dân tiếp cận nhà ở xã hội, thời gian qua chúng ta đã có nhiều giải pháp giúp người dân tiếp cận với nhà ở xã hội. Tuy nhiên, các giải pháp đang mang tính manh mún, sự vụ, sự việc và đang được tháo gỡ khi có những kiến nghị, đề xuất.

Hiện nay, Bộ Xây dựng được Chính phủ giao chủ trì tham mưu để sửa đổi, hoàn thiện Luật Nhà ở, trình Quốc hội trong kỳ họp này. Theo đó, Luật Nhà ở cụ thể hóa các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo người thu nhập thấp, công nhân và các đối tượng được hưởng chính sách thực sự tiếp cận được nhà ở: Mua, thuê hoặc là thuê lâu dài với giá phù hợp tại các điều luật cụ thể như sau:

Thứ nhất, về đối tượng và điều kiện thụ hưởng, tại các Điều 31, 38, 44, 59, 70, dự thảo Luật Nhà ở đã cụ thể, thể chế hóa rõ nhóm các đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và nhà lưu trú công nhân; đồng thời quy định cụ thể các điều kiện về nhà ở, thu nhập và thứ tự ưu tiên xét duyệt đối với từng loại hình chính sách.

Thứ hai, về nguyên tắc hỗ trợ và phát triển nhà ở, tại các Điều 32, 33, 45, 60, 62, dự thảo Luật Nhà ở cũng quy định rõ các nguyên tắc thực hiện hỗ trợ nhà ở xã hội, đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng; ưu tiên người có công, người khuyết tật, hộ nghèo; hỗ trợ vay vốn ưu đãi; đồng thời đã thể chế hóa cụ thể cơ chế tạo lập nguồn vốn không thông qua Quỹ nhà ở hoạt động không vì lợi nhuận và tài chính công đoàn cùng với các hình thức quy hoạch, bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội và các nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp.

Thứ ba, về chính sách ưu đãi chủ đầu tư để kéo giảm giá thành, tại các Điều 42, 48, 64, dự thảo Luật Nhà ở quy định đồng bộ các chính sách ưu đãi về tài chính mạnh mẽ dành cho chủ đầu tư dự án nhà ở cho thuê, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp và nhà ở xã hội như miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; ưu đãi về thuế, tín dụng; hạch toán chi phí đầu tư hạ tầng và xây dựng vào chi phí hợp lý; cũng như cho phép dành một tỉ lệ diện tích đất hoặc diện tích sàn để kinh doanh dịch vụ, thương mại nhằm bù đắp chi phí, giảm chỉ tiêu giá thành và đảm bảo giá bán, giá cho thuê phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

Thứ tư, về phương pháp xác định giá và quản lý giao dịch, tại các Điều 37, 43, 67, 68, dự thảo Luật Nhà ở quy định chặt chẽ các nguyên tắc xác định giá bán, giá thuê và giá thuê mua, đảm bảo tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ, lợi nhuận định mức và không tính các khoản ưu đãi của Nhà nước.

Qua đó, bảo đảm mức giá phù hợp với khả năng chi trả của người thu nhập thấp; đồng thời quy định cụ thể các điều kiện quản lý giao dịch như: Mỗi đối tượng chỉ được mua, thuê một căn nhà ở xã hội và quy định thời hạn hạn chế chuyển nhượng trong 5 năm đầu để ngăn ngừa đầu cơ, đảm bảo đúng mục đích an sinh xã hội.