Để bảo đảm việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến nguồn gốc đất trước đây là đất trồng lúa đúng quy định pháp luật, ông Đông đề nghị cấp có thẩm quyền hướng dẫn giải quyết một số trường hợp sau:
(1) Năm 2025, bà Nguyễn Thị A nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số B, tờ bản đồ số C, diện tích xin cấp giấy 200 m2.
Nguồn gốc sử dụng đất của thửa đất số B: Bà Nguyễn Thị A khai hoang và sử dụng đất trồng lúa từ năm 1975, đến năm 2008 bà A tự ý chuyển sang đất trồng cây lâu năm và sử dụng từ năm 2008 đến nay.
Theo Bản đồ địa chính năm 2006 thì thửa đất số B là đất trồng lúa khác. Theo Bản đồ quy hoạch chung đã được phê duyệt năm 2025 của phường thì thửa đất B được quy hoạch là đất thương mại - dịch vụ.
Ông Đông hỏi, bà Nguyễn Thị A có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không? Nếu cấp được thì loại đất được cấp Giấy lần đầu là loại đất lúa hay đất trồng cây lâu năm?
Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 4/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà chưa có văn bản xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành thì không xử lý theo quy định tại Nghị định này" thì trường hợp bà A có bị xử phạt và khôi phục lại tình trạng ban đầu không? (từ trước đến năm 2025 bà A chưa bị xử phạt).
Khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai quy định: "Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này và trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:…".
Theo quy định tại tại khoản 32, 33, 34 Điều 3 Luật Đất đai thì giao đất, thuê đất phải có quyết định và công nhận quyền sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, đối với trường hợp được giao đất trái thẩm quyền không có quyết định hoặc khai hoang mà chưa được cấp Giấy chứng nhận lần đầu hoặc thuê đất mà không có quyết định cho thuê đất thì có được áp dụng trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất không?
(2) Năm 2025, ông Võ Văn A nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số B, tờ bản đồ số C, diện tích xin cấp giấy 200 m2.
Nguồn gốc sử dụng đất của thửa đất số B: Ông Võ Văn A khai hoang và sử dụng đất trồng cây lâu năm từ năm 1975, đến ngày 1/6/2014, ông A xây dựng nhà ở trên thửa đất này, đến năm 2025, ông A xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất này.
Theo Bản đồ địa chính năm 2006 thì thửa đất số B là đất trồng cây lâu năm. Theo Bản đồ quy hoạch chung đã được phê duyệt năm 2025 của phường thì thửa đất B được quy hoạch là đất thương mại - dịch vụ.
Ông Đông hỏi, ông Võ Văn A có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đất ở theo Điều 138 Luật Đất đai 2024 không? Hay theo Điều 139 Luật Đất đai 2024?
Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP: "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà chưa có văn bản xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành thì không xử lý theo quy định tại Nghị định này" thì trường hợp ông A có bị xử phạt và khôi phục lại tình trạng ban đầu không? (từ trước đến năm 2025 ông A chưa bị xử phạt).
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Nội dung phản ánh của ông là trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương căn cứ trên hồ sơ quản lý và các quy định pháp luật ban hành ở địa phương. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không có cơ sở để trả lời cụ thể. Bộ xin nêu một số quy định về nguyên tắc như sau:
Tại khoản 4 Điều 139 Luật Đất đai quy định: "4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang, không có tranh chấp thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; nếu vượt hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước".
Trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 139 và Điều 140 thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai.
Việc áp dụng Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 4/10/2024 của Chính phủ như sau:
- Không thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm đã xảy ra trước ngày 15/10/1993;
- Việc xác định hành vi sử dụng đất sai mục đích: chỉ áp dụng đối với trường hợp xác định được mục đích sử dụng đất ban đầu (trước khi chuyển mục đích sử dụng đất) thể hiện trên các giấy tờ đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ hợp pháp theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai;
- Đối với hành vi khai hoang đất đai:
Trường hợp khai hoang thuộc "Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mà có tên người sử dụng đất" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 137 của Luật Đất đai thì không bị xử phạt vi phạm hành chính và xem xét cấp Giấy chứng nhận theo Điều 137 của Luật Đất đai.
Trường hợp tự do khai hoang theo quy định tại khoản 4 Điều 139 Luật Đất đai mà có đủ căn cứ xác định là hành vi lấn chiếm theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai 2024 và Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP thì xem xét xử phạt về hành vi chiếm đất.
Về phân loại đất, đã được quy định tại Điều 10 Luật Đất đai 2024 và thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được quy định tại Điều 5 của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời để ông được biết và thực hiện.
Chinhphu.vn