In bài viết

Khoa học công nghệ phải trở thành "đòn bẩy" để ngành nước chuyển mình

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan, nhu cầu sử dụng nước gia tăng và cạnh tranh nguồn nước giữa các ngành, các vùng ngày càng rõ nét, khoa học công nghệ phải trở thành "đòn bẩy" để ngành nước chuyển mình.

28/02/2026 15:08
Khoa học công nghệ phải trở thành "đòn bẩy" để ngành nước chuyển mình- Ảnh 1.

Quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia và nâng cao hiệu quả điều hòa, phân phối - Ảnh minh họa

Ba trụ cột đổi mới trong lĩnh vực thủy lợi

Theo báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch khoa học (Bộ NN&MT), công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực thủy lợi, đê điều - phòng chống thiên tai và tài nguyên nước giai đoạn 2026–2030 được xây dựng trên cơ sở các chủ trương lớn của Đảng, định hướng phát triển ngành và yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn. Điểm mới nổi bật là chuyển từ cách tiếp cận theo danh mục đề tài sang tiếp cận theo nhu cầu quản lý và phát triển, lấy sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng làm trung tâm.

Trong lĩnh vực thủy lợi, định hướng nghiên cứu giai đoạn tới tập trung vào ba trụ cột lớn.

Thứ nhất, phát triển thủy lợi thông minh. Trên nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu thời gian thực, cảm biến IoT và mô hình dự báo thủy văn – thủy lực, ngành hướng tới xây dựng hệ thống vận hành an toàn, linh hoạt và tối ưu. Trước mắt, ưu tiên áp dụng cho các hồ chứa lớn và hệ thống liên vùng – nơi đóng vai trò điều tiết nguồn nước và cắt, giảm lũ cho hạ du.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý hồ chứa đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, trong đó có các hồ lớn như Hồ Hòa Bình, Hồ Sơn La và Hồ Tuyên Quang, đã từng bước tích hợp dữ liệu mưa, dòng chảy và dự báo khí tượng để hỗ trợ ra quyết định vận hành. Việc kết nối dữ liệu liên hồ, mô phỏng các kịch bản xả lũ theo thời gian thực giúp giảm rủi ro cho vùng hạ du, đồng thời bảo đảm mục tiêu phát điện và cấp nước.

Tại khu vực miền Trung, các hệ thống quan trắc mưa tự động, camera giám sát đập và phần mềm hỗ trợ điều hành đã được lắp đặt ở nhiều hồ chứa vừa và nhỏ. Dữ liệu được truyền về trung tâm điều hành, hỗ trợ Ban chỉ huy phòng chống thiên tai các cấp đưa ra quyết định kịp thời khi xuất hiện mưa lớn, lũ quét.

Thứ hai, đổi mới cơ chế quản lý khai thác công trình thủy lợi theo hướng tự chủ tài chính và tổ chức lại theo vùng. Việc hiện đại hóa không chỉ là lắp đặt thiết bị mà còn bao gồm chuẩn hóa quy trình vận hành, áp dụng hệ thống quản trị số, quản lý tài sản công trình theo vòng đời. Mô hình doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi ứng dụng phần mềm quản lý kênh mương, hợp đồng dịch vụ tưới và thanh toán điện tử đang được thí điểm tại một số địa phương, bước đầu nâng cao tính minh bạch và hiệu quả.

Thứ ba, đầu tư các công trình liên vùng, đa mục tiêu, hình thành mạng liên kết nguồn nước và giải quyết các "điểm nóng" về nước sạch, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Các công trình cống, đập kiểm soát mặn quy mô lớn ở vùng ven biển Tây Nam Bộ thời gian qua cho thấy vai trò quan trọng của giải pháp công trình kết hợp công nghệ điều hành thông minh trong ứng phó xâm nhập mặn.

Điển hình như hệ thống kiểm soát mặn ở Bến Tre, Sóc Trăng được tích hợp giám sát độ mặn tự động, giúp chính quyền địa phương chủ động đóng, mở cống theo diễn biến thủy triều và độ mặn thực tế, giảm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt.

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông

Ở lĩnh vực tài nguyên nước, định hướng xuyên suốt của ngành NN&MT là quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia và nâng cao hiệu quả điều hòa, phân phối.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã đặt nền tảng pháp lý cho việc quản lý theo lưu vực, coi nước là tài nguyên đặc biệt, hữu hạn và phải được hạch toán trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, ngành đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, tích hợp dữ liệu khí tượng, thủy văn, khai thác sử dụng và xả thải.

Một số lưu vực sông lớn như sông Hồng – Thái Bình, sông Cửu Long đã bước đầu triển khai hệ thống thông tin tích hợp, phục vụ đánh giá cân bằng nước và phân bổ nguồn nước theo kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn. Ứng dụng mô hình toán thủy văn – thủy lực giúp mô phỏng các phương án điều tiết, từ đó hỗ trợ cơ quan quản lý ra quyết định khoa học hơn thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm.

Đáng chú ý, ý tưởng xây dựng bộ chỉ số quản trị tài nguyên nước và hạch toán nước trong nền kinh tế đang được đặt ra. Đây sẽ là công cụ quan trọng để lượng hóa đóng góp của nước vào các ngành sản xuất, từ đó có cơ chế phân bổ hợp lý, khuyến khích sử dụng tiết kiệm và hiệu quả.

Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ NN&MT cho rằng cần lựa chọn một số bài toán liên ngành để dồn nguồn lực, thay vì dàn trải. Nghiên cứu phải xuất phát từ yêu cầu quản lý thực tiễn, tập trung vào các vấn đề lớn như phân bổ nguồn nước trong điều kiện khan hiếm, bảo đảm an ninh nước, nâng cao hiệu quả sử dụng và hỗ trợ ra quyết định bằng công cụ số.

Cùng quan điểm, ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai nhấn mạnh các nhiệm vụ khoa học công nghệ phải gắn chặt với nhu cầu giám sát thiên tai, cảnh báo lũ, quản lý hồ chứa và chỉ huy điều hành. Việc đổi mới cách đặt hàng theo hướng "rõ sản phẩm – rõ đơn vị tiếp nhận – rõ trách nhiệm ứng dụng" sẽ tạo động lực để kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn.

Từ góc độ khoa học, GS.TS Trần Đình Hòa, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, cho rằng cơ quan quản lý nhà nước cần giữ vai trò trung tâm trong việc xác định các vấn đề lớn của ngành. Trên cơ sở đó, các tổ chức khoa học công nghệ tham gia nghiên cứu theo đặt hàng, chuyển hóa thành sản phẩm cụ thể có khả năng ứng dụng.

Ông đề xuất xây dựng một chương trình khoa học công nghệ tổng thể cho toàn lĩnh vực nước và phòng chống thiên tai, qua đó tập hợp các bài toán lớn, huy động nguồn lực liên ngành và triển khai đồng bộ. Song song, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, hướng tới hình thành bộ công cụ phục vụ điều hành và ra quyết định.

Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh cơ sở chính trị, pháp lý cho đổi mới sáng tạo trong ngành đã tương đối đầy đủ. Vấn đề hiện nay là nâng cao nhận thức và trách nhiệm của từng đơn vị trong tổ chức thực hiện.

Theo Thứ trưởng, đổi mới phải bắt đầu từ cách xây dựng và đăng ký nhiệm vụ khoa học công nghệ. Các đề tài cần được thiết kế theo hai hướng: nghiên cứu cơ bản phục vụ chiến lược dài hạn và nghiên cứu ứng dụng giải quyết vấn đề cấp bách. Ngành cần tập trung vào các "điểm nghẽn" như phân bổ và chất lượng tài nguyên nước, tiết kiệm và hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo thiên tai.

Chuyển đổi số được xác định không chỉ là lắp đặt thiết bị hay phần mềm, mà là thay đổi phương thức quản trị. Mục tiêu cuối cùng phải là hỗ trợ ra quyết định, nâng cao hiệu quả vận hành công trình và quản lý ngành. Nếu chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng công nghệ mà không thay đổi cách điều hành, thì chưa phải chuyển đổi số đúng nghĩa.

Đỗ Hương