
Một số cải cách thủ tục hành chính liên quan đến vấn đề hộ tịch.
Nghị định số 18/2026/NĐ-CP gồm 06 chương 18 điều, sửa đổi, bổ sung 15 nghị định sau:
1- Nghị định số 63/2011/NĐ-СР quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2018/NĐ-CP, Nghị định số 112/2025/NĐ-СР;
2- Nghị định số 85/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 157/2020/NĐ-CP;
3- Nghị định số 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 137/2018/NĐ-CP, Nghị định số 112/2025/NĐ-CP;
4- Nghị định số 172/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản;
5- Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CР;
6- Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP;
7- Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CР;
8- Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 280/2025/NĐ-CP;
9- Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, Nghị định số 152/2024/NĐ-CP;
10- Nghị định số 08/2020/NĐ-СР về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
11- Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm;
12- Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa;
13- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP;
14- Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 114/2016/NĐ-CP, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP, Nghị định số 06/2025/NĐ-CP;
15- Nghị định số 191/2025/NĐ-СР quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.
Về vấn đề hộ tịch, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác. Cụ thể:
"1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có trách nhiệm xuất trình bản chính của một trong các giấy tờ sau đây: Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân khi làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch; trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu.
Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.".
Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 22 về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng chết và khoản 2 Điều 24 về việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Người yêu cầu chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ; không bắt buộc xuất trình/nộp bản giấy nếu thông tin đã có trong hệ thống cơ sở dữ liệu. Cụ thể:
Khoản 2 Điều 22:
"2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ (cơ quan cấp/đăng ký, số, ngày tháng năm ban hành Bản án/Quyết định ly hôn/Giấy chứng tử/Trích lục khai tử); nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì cung cấp thông tin tương ứng của Trích lục ghi chú ly hôn; cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.".
Khoản 2 Điều 24:
"2. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan.".
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 26 về việc đăng ký lại khai sinh với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang theo hướng bỏ yêu cầu nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu cơ quan chức năng khai thác được thông tin liên quan trên các hệ thống cơ sở dữ liệu. Cụ thể:
"c) Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày tháng năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý. Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch khai thác được những thông tin này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức thì người yêu cầu không phải nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị."
Ngoài ra, Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung về quy trình xác minh hồ sơ đối với đề nghị đăng ký lại khai sinh (khoản 2 Điều 26) và đăng ký lại kết hôn (khoản 2 Điều 27) khi thực hiện tại UBND cấp xã không phải nơi đăng ký trước đây theo hướng cán bộ tư pháp kiểm tra thông tin về việc đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao; dùng kết quả tra cứu này là căn cứ để xác định về điều kiện đăng ký lại. Thay vì phải cần xác nhận văn bản từ Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh/ kết hôn trước đây. Cụ thể như sau:
Khoản 2 Điều 26:
"2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch. Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký khai sinh trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.".
Khoản 2 Điều 27:
"2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.
Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký kết hôn trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.".
Theo Bộ Tư pháp, việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến lĩnh vực hành chính tư pháp về hộ tịch nêu trên nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính để thực hiện việc sử dụng dữ liệu thay thế cho thành phần hồ sơ theo quy định tại Nghị quyết 66.7/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2026.
Tuyết Thư