In bài viết

Một trong những đợt cải cách thể chế mạnh và quyết liệt nhất

(Chinhphu.vn) - Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh sẽ tạo ra ba tác động rất quan trọng: Giảm rào cản gia nhập thị trường; tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế; cải thiện niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường chính sách.

01/06/2026 12:20
Một trong những đợt cải cách thể chế mạnh và quyết liệt nhất- Ảnh 1.

TS. Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam

Chỉ trong vòng 2 tháng trở lại đây, nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp chứng kiến một làn gió mạnh mẽ trong cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, với 11 nghị quyết được Chính phủ ban hành.

Quan điểm chỉ đạo " tăng trưởng hai con số dựa trên cải cách mạnh mẽ thể chế", "khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách", "chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm"… đã đi vào đời sống kinh doanh thông qua những hành động cụ thể và những số liệu "biết nói".

Theo thông tin tại Họp báo Thường kỳ Chính phủ vào đầu tháng 5/2026, đến ngày 26/4/2026, các bộ, ngành đã đề xuất các phương án cơ bản đạt mục tiêu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 29/4/2026, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, theo đó, cắt giảm 1.732 điều kiện kinh doanh không cần thiết; bãi bỏ 680 thủ tục hành chính; đơn giản hóa 521 thủ tục hành chính; cắt giảm thêm 18.097 ngày giải quyết thủ tục hành chính, nâng tổng số thời gian giải quyết được cắt giảm là 51.419 ngày/97.020 ngày, đạt 52,9%, vượt chỉ tiêu đề ra.

Về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, hiện tại có 198 ngành nghề, các bộ ngành đã đề xuất phương án cắt giảm 60 ngành nghề, đạt 30,3%, đáp ứng yêu cầu Nghị quyết 18 của Trung ương giao. Việc cắt giảm chi phí thủ tục hành chính vẫn tiếp tục được đề xuất thực hiện, với mức giảm tính hơn 23.000 tỷ đồng/năm…

Đợt cải cách thể chế mạnh nhất và quyết liệt nhất

Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, TS. Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam đánh giá, đây là một trong những đợt cải cách thể chế mạnh và quyết liệt nhất trong nhiều năm qua. Việc Chính phủ liên tục ban hành các nghị quyết về cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp quản lý và đặc biệt là giảm mạnh ngành nghề kinh doanh có điều kiện cho thấy tư duy điều hành đang chuyển khá rõ từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", từ quản lý bằng cấp phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn và trách nhiệm.

"Điều rất đáng chú ý là cải cách lần này không chỉ dừng ở khẩu hiệu cải thiện môi trường kinh doanh, mà đã đi vào những con số rất cụ thể: bãi bỏ hàng trăm thủ tục, hàng nghìn điều kiện kinh doanh, hàng chục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, giảm thời gian và chi phí tuân thủ. Điều này đặc biệt quan trọng với khu vực tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, start-up và hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp", TS. Huỳnh Thế Du lưu ý.

Theo vị chuyên gia, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh sẽ tạo ra ba tác động rất quan trọng.

Thứ nhất, giảm rào cản gia nhập thị trường. Điều này giúp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và mở rộng khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ hai, tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế. Khi thủ tục đơn giản hơn, nguồn lực xã hội sẽ được chuyển từ "xin - cho" sang sản xuất, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường.

Thứ ba, cải thiện niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường chính sách. Đây là yếu tố rất quan trọng để thu hút đầu tư dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt.

Để không "mọc thủ tục khác"

Một yêu cầu được nhiều lần nhắc lại trong đợt cải cách thể chế mạnh mẽ này là "tránh tình trạng cắt thủ tục này lại mọc thủ tục khác, đã cắt giảm ở cấp trên nhưng lại phát sinh các thủ tục mới ở cấp dưới hoặc trong nội bộ". Tại phiên họp Chính phủ Thường kỳ vào đầu tháng 5/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã giao Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm gác cửa; các bộ phải theo dõi, giám sát các địa phương thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục, điều kiện kinh doanh… sau khi đã phân cấp.

Góp ý thêm, TS. Huỳnh Thế Du đề xuất áp dụng cách thức mà nhiều nước phát triển đi trước đã thực hiện thành công: chuyển sang quản lý bằng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Vị chuyên gia nêu ví dụ, Nhà nước không cần quy định doanh nghiệp phải xin bao nhiêu giấy phép để bán một sản phẩm, mà tập trung vào: (i) tiêu chuẩn an toàn, (ii) tiêu chuẩn môi trường, (iii) tiêu chuẩn chất lượng, và (iv) trách nhiệm pháp lý nếu vi phạm. Cách tiếp cận này giúp Nhà nước vẫn bảo đảm quản lý được rủi ro nhưng giảm can thiệp hành chính trực tiếp.

"Tuy nhiên, chỉ ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật thôi chưa đủ. Điều quan trọng là: (i) tiêu chuẩn phải minh bạch, (ii) ổn định, (iii) dễ dự đoán, (iv) phù hợp thông lệ quốc tế và (v) đặc biệt không biến thành "giấy phép con trá hình". Nếu không kiểm soát tốt, tiêu chuẩn kỹ thuật hoàn toàn có thể trở thành một hình thức điều kiện kinh doanh mới", TS. Huỳnh Thế Du khuyến nghị.

Về việc chuyển đổi phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", theo TS. Du, điều quan trọng nhất là xây dựng được một hệ thống mà doanh nghiệp thấy rằng: (i) làm đúng sẽ thuận lợi, (ii) làm sai sẽ bị phát hiện nhanh, (iii) vi phạm sẽ phải trả giá đủ lớn. Tức là phải chuyển từ mô hình "kiểm soát mọi doanh nghiệp" sang "quản lý theo mức độ rủi ro".

"Muốn vậy, cần ba yêu cầu quan trọng. Thứ nhất là số hóa dữ liệu quản lý nhà nước. Khi dữ liệu thuế, hải quan, lao động, môi trường, bảo hiểm, thị trường… được liên thông, cơ quan quản lý có thể giám sát bằng dữ liệu thay vì thanh tra thủ công quá nhiều.

Thứ hai là áp dụng quản trị rủi ro. Doanh nghiệp tuân thủ tốt thì giảm kiểm tra; doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường mới tăng tần suất giám sát.

Thứ ba là nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cả doanh nghiệp lẫn cơ quan công quyền. Hậu kiểm chỉ hiệu quả khi không tồn tại vùng xám trong thực thi", vị chuyên gia từ Đại học Fulbright Việt Nam phân tích.

Hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng

Nhìn rộng hơn, TS. Huỳnh Thế Du nhận định, các cải cách hiện nay đang tạo nền tảng quan trọng để các mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 và nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững trong thập niên tới trở nên khả thi hơn.

Theo ông Du, trong nhiều năm, khu vực tư nhân của Việt Nam phát triển chưa tương xứng không phải vì thiếu năng lực hay thiếu khát vọng, mà một phần vì chi phí thể chế còn cao. Khi môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, sẽ có nhiều hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, nhiều startup mới hình thành và doanh nghiệp hiện hữu cũng có động lực mở rộng đầu tư.

Với mục tiêu tăng trưởng cao liên tục trong dài hạn, vị chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào: (i) đổi mới sáng tạo, (ii) công nghệ, (iii) năng suất, và (iv) chất lượng thể chế.

"Riêng về khung pháp lý cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, cần thay đổi tư duy rất mạnh. Thông thường, pháp luật truyền thống được thiết kế để kiểm soát rủi ro và giữ ổn định. Nhưng đổi mới sáng tạo lại luôn đi trước pháp luật, luôn chứa yếu tố thử nghiệm và chấp nhận thất bại.

Vì vậy, đầu tiên, chúng ta cần xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát, tức sandbox, cho các lĩnh vực mới như fintech, AI, dữ liệu số, kinh tế nền tảng hay công nghệ xanh.

Thứ hai là chuyển từ quản lý theo mô hình cứng sang quản lý theo nguyên tắc và quản trị rủi ro. Nghĩa là cho phép đổi mới diễn ra trước trong phạm vi nhất định, sau đó điều chỉnh chính sách dần theo thực tiễn.

Thứ ba là bảo vệ quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và tạo sự ổn định chính sách dài hạn. Đây là điều kiện rất quan trọng để doanh nghiệp dám đầu tư cho nghiên cứu và công nghệ", ông Huỳnh Thế Du phân tích.

Trên thực tế, đây cũng chính là những định hướng chính sách rất quan trọng đang được Đảng, Chính phủ triển khai. TS. Huỳnh Thế Du khẳng định, nếu cải cách thể chế hiện nay được thực hiện một cách thực chất và nhất quán, không chỉ mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp khả thi hơn mà điều quan trọng hơn là Việt Nam có cơ hội hình thành một khu vực tư nhân năng động hơn, sáng tạo hơn và có khả năng cạnh tranh quốc tế cao hơn trong giai đoạn tới.

Hoàng Hạnh