In bài viết

Ngành điều: Gỡ vướng nguyên liệu, làm tròn thương hiệu

(Chinhphu.vn) - Năm 2026 đánh dấu những cột mốc mới cho ngành điều Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu liên tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, đằng sau những con số tỷ USD là một thực tế đầy thách thức mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt.

19/08/2026 11:21
Ngành điều: Gỡ vướng nguyên liệu, làm tròn thương hiệu- Ảnh 1.

Giá tri nhập khẩu nguyên liệu điều 7 tháng đầu năm đã tăng cao hơn giá trị xuất khẩu sản phẩm này - Ảnh: minh họa

Nghịch lý "vị thế số 1" và cơn khát nguyên liệu

Dù giữ vị thế trung tâm chế biến điều của thế giới, ngành điều Việt Nam đang đối mặt nghịch lý: xuất khẩu tăng nhưng phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu.

Theo Cục Hải quan Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 412 nghìn tấn điều, trị giá 2,9 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt 3,2 tỷ USD, tăng 10%. Giá trị nguyên liệu nhập khẩu vượt kim ngạch xuất khẩu cho thấy áp lực lớn về vốn và chi phí đầu vào.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, sản lượng điều trong nước chỉ khoảng 300.000-400.000 tấn mỗi năm, trong khi công suất chế biến vượt 6 triệu tấn. Khoảng cách này buộc doanh nghiệp phải nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu, chủ yếu từ Campuchia và các nước châu Phi.

"Nguyên liệu hạt điều được coi là nền tảng của chuỗi giá trị. Nếu không làm tốt khâu nguyên liệu thì sẽ có rất nhiều rào cản khác nhau ở phía sau", ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hà Mỵ, nói. Theo ông, phụ thuộc nguồn cung bên ngoài khiến doanh nghiệp dễ bị tác động bởi biến động địa chính trị và chính sách của các nước xuất khẩu.

Áp lực càng lớn khi các nước Tây Phi đẩy mạnh chế biến trong nước, áp thuế xuất khẩu điều thô để giữ lại giá trị gia tăng. Tại Bờ Biển Ngà, sản lượng chế biến nội địa tăng 67% trong năm 2025, làm thu hẹp nguồn cung cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong khi đó, chi phí nguyên liệu tăng nhanh hơn giá bán. Cục Xuất nhập khẩu ghi nhận chi phí nhập khẩu tăng 48%, trong khi khối lượng chỉ tăng 25%. Nguyên liệu chiếm khoảng 80% giá thành, khiến biên lợi nhuận doanh nghiệp chịu sức ép lớn.

Rào cản kỹ thuật và "thước đo" năng lực doanh nghiệp

Thị trường quốc tế, đặc biệt EU và Hoa Kỳ, ngày càng siết yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và môi trường, buộc doanh nghiệp điều phải nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn.

Theo ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hà Mỵ, rào cản kỹ thuật thực chất là "thước đo năng lực xử lý của doanh nghiệp". Ông chia sẻ: " Có những thị trường mới với quy định nhập khẩu chưa nắm rõ, việc chuẩn bị hồ sơ chứng minh tiêu chuẩn mất rất nhiều thời gian, dẫn đến lỡ mất cơ hội bán hàng tốt nhất trong năm".

Do đó, doanh nghiệp phải đầu tư các hệ thống quản lý như BRC, HACCP, FDA và các chứng nhận bền vững. Số hóa truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn tạo cơ sở xây dựng niềm tin và nâng giá trị sản phẩm.

Tuy nhiên, một nghịch lý khác là dù đứng đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều, Việt Nam vẫn thiếu những thương hiệu có vị trí tương xứng trên thị trường quốc tế. Ông Thành nhận định:

"Chúng ta tham gia vào cả quá trình tạo ra sản phẩm có phẩm chất tốt nhưng phần giá trị gia tăng được nhận lại thì cực kỳ khiêm tốn... Nhiều sản phẩm bán tại nước ngoài ghi rõ 'Nguyên liệu nhập từ Việt Nam' nhưng mang tên thương hiệu khác và bán với giá cao gấp nhiều lần".

Việc phụ thuộc vào xuất khẩu nhân điều và gia công khiến giá trị thương hiệu Việt chưa được phát huy. Đây là điểm nghẽn cần được giải quyết bằng chiến lược xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu ngành bài bản.

Lời giải cho tương lai: Chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn

Để thoát khỏi những khó khăn hiện tại, ngành điều cần chuyển dịch mạnh mẽ sang chế biến sâu. Chênh lệch giá giữa các loại hạt là minh chứng rõ nhất: trong khi nhân điều phổ biến WW320 có giá khoảng 7,2-7,5 USD/kg, thì các dòng hạt nguyên cao cấp như WW180 có thể đạt gần 9,5-9,8 USD/kg.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, đến từ Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, nhận định ngành điều cần một lộ trình tái cấu trúc toàn cầu, tập trung vào minh bạch chuỗi cung ứng và giá trị chế biến sâu. Một hướng đi mới đầy tiềm năng là khai thác phụ phẩm từ vỏ điều để sản xuất dầu vỏ điều (CNSL) phục vụ ngành hóa chất sinh học. Theo tính toán, mỗi đơn vị nguyên liệu chế biến có thể mang lại thêm khoảng 231 USD lợi nhuận từ phụ phẩm, giúp giảm áp lực biến động giá điều thô.

Tại địa phương, các mô hình nông nghiệp sinh thái đang được nhân rộng. Tại Bình Phước, việc trồng xen cacao, cà phê dưới tán điều đã giúp tăng thu nhập cho nông dân từ 40 triệu đồng/ha lên mức 90-120 triệu đồng/ha.

Để hiện thực hóa mục tiêu 10,5 tỷ USD, các doanh nghiệp và chuyên gia kiến nghị Chính phủ cần có những hành động quyết liệt hơn. Ông Phạm Ngọc Thành đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm: Ổn định chất lượng vùng nguyên liệu và đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc số; Tăng cường đầu tư nghiên cứu và phổ biến công nghệ chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm; Hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế; Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hạt điều vùng và thương hiệu quốc gia; Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp về công nghệ, thương mại quốc tế và marketing cho ngành điều.

Với gói tín dụng 100 nghìn tỷ đồng hỗ trợ nông nghiệp và việc hoàn thiện hạ tầng logistics như cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, ngành điều Việt Nam đang có những điểm tựa quan trọng để bứt phá. Tuy nhiên, thành công sẽ chỉ đến nếu chúng ta quyết liệt từ bỏ mô hình phụ thuộc vào khối lượng để chuyển sang một hệ sinh thái dựa trên công nghệ, minh bạch và giá trị gia tăng cao.

Đỗ Hương