In bài viết

Quản lý kiến trúc phải gắn với phát triển không gian đô thị

(Chinhphu.vn) - Chiều 6/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đã đóng góp ý kiến cho Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

06/08/2026 19:04
Quản lý kiến trúc phải gắn với phát triển không gian đô thị- Ảnh 1.

Các đại biểu tham gia góp ý cho Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc - Ảnh: VGP/DA

Thảo luận tại tổ, đại biểu Nguyễn Vũ Trung (đoàn TPHCM) cho rằng việc sửa đổi luật lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh TPHCM đang phát triển thành siêu đô thị. Vì vậy, Luật cần tạo được không gian phát triển dài hạn, tháo gỡ các điểm nghẽn về quản lý kiến trúc, nhất là đối với các đô thị lớn. Theo đại biểu, cần thay đổi tư duy quản lý trong Luật Kiến trúc.

Thay vì quản lý từng công trình riêng lẻ như hiện nay, Luật cần chuyển sang quản lý chất lượng không gian đô thị; chuyển từ bảo tồn bằng mệnh lệnh hành chính sang bảo tồn thông qua lợi ích kinh tế; từ khống chế quyền phát triển sang điều tiết và chuyển quyền phát triển; từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu và hậu kiểm.

"Nếu được sửa đổi toàn diện, Luật có thể phát huy hiệu quả trong 10-20 năm tới, đặc biệt đối với các đô thị lớn", đại biểu Nguyễn Vũ Trung phát biểu.

Góp ý cụ thể, đại biểu Nguyễn Vũ Trung cho rằng, dự án Luật vẫn thiên về quản lý hình thức kiến trúc mà chưa quản trị được giá trị không gian đô thị. Các quy định về bản sắc kiến trúc chủ yếu dựa trên các yếu tố như hình thái, chiều cao, mật độ hay màu sắc mới chỉ phản ánh yếu tố tĩnh. Trong khi đó, đối với những đô thị lớn như TPHCM, điều quan trọng không phải bản thân công trình đẹp hay xấu, mà là giá trị mà công trình đó mang lại cho không gian đô thị.

Đại biểu dẫn ví dụ, một tòa nhà có kiến trúc đẹp nhưng cản trở tầm nhìn, làm hạn chế khả năng kết nối hoặc tạo mật độ quá lớn thì giá trị không thể bằng một công trình biết dành không gian cho quảng trường, kết nối giao thông công cộng hoặc tạo thêm không gian công cộng. Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 4 hoặc Điều 10 nguyên tắc: Quản lý kiến trúc phải gắn với quản lý chất lượng không gian đô thị, cảnh quan, không gian công cộng và lợi ích công cộng; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa quyền phát triển của chủ sở hữu, nhà đầu tư với lợi ích của cộng đồng.

Đại biểu Nguyễn Vũ Trung cũng đề xuất bổ sung vào Điều 13 quy định: "Chủ sở hữu công trình kiến trúc có giá trị bị hạn chế quyền phát triển do yêu cầu bảo tồn, được xem xét bù đắp lợi ích thông qua cơ chế chuyển quyền phát triển, ưu đãi về đất đai, tài chính hoặc các hình thức phù hợp khác theo quy định của pháp luật; giao Chính phủ quy định chi tiết".

Theo đại biểu, nhiều quốc gia đã áp dụng hiệu quả mô hình này. Đối với TPHCM, việc chuyển quyền phát triển từ các biệt thự cổ, công trình có giá trị sang các khu đô thị mới hoặc khu vực phát triển theo mô hình TOD quanh các tuyến metro sẽ vừa bảo tồn được di sản, vừa không cản trở phát triển.

Đại biểu cũng đề nghị thiết kế lại cơ chế bảo tồn công trình kiến trúc có giá trị. Theo ông, dự thảo hiện mới chia thành 2 nhóm gồm di tích thực hiện theo pháp luật về di sản và các công trình kiến trúc có giá trị do địa phương lập danh mục. Cách tiếp cận này chưa đủ linh hoạt. Đại biểu đề xuất phân loại thành nhiều cấp độ bảo tồn. Nhóm bảo tồn nghiêm ngặt phải giữ nguyên hình thức, cấu trúc và các yếu tố kiến trúc cốt lõi; nhóm bảo tồn thích ứng cho phép thay đổi công năng, cải tạo nhưng vẫn giữ các giá trị chính; nhóm bảo tồn cảnh quan có thể phát triển công trình nhưng phải giữ mặt đứng hoặc hình thái kiến trúc. Đại biểu cũng dẫn kinh nghiệm quốc tế về mô hình "tái sử dụng thích ứng", theo đó nhiều nhà máy cũ được chuyển thành trung tâm sáng tạo, biệt thự cổ trở thành bảo tàng, nhà hàng hoặc trung tâm nghệ thuật, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển mới, vừa lưu giữ ký ức đô thị.

Đại biểu Trần Việt Anh (Hà Nội) đánh giá cao sự chuẩn bị dự thảo Luật của cơ quan trình và báo cáo của cơ quan thẩm tra đã tiếp thu rất nhiều nội dung của các hiệp hội nghề nghiệp cũng như cộng đồng kiến trúc sư Việt Nam.

Theo đại biểu, Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã mở ra bước ngoặt mang tính chiến lược.

Lần đầu tiên tư duy phát triển đất nước chuyển từ kinh tế biển đơn thuần sang tư duy phát triển toàn diện không gian biển quốc gia. Sự thay đổi căn bản này tác động trực tiếp, đòi hỏi những điều chỉnh đồng bộ trong công tác quy hoạch kiến trúc, xây dựng, quản lý đô thị, nông thôn ven biển.

Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật Kiến trúc và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và các quy chế quản lý kiến trúc tại địa phương là cần phải được rà soát bổ sung các khung pháp lý chuyên biệt nhằm thể chế hóa quan điểm của Trung ương.

Đại biểu Trần Việt Anh đề xuất dự thảo Luật cần quy định rõ về việc thiết lập hành lang không gian và tầm nhìn ra biển. Cụ thể, cần luật hóa quy định khống chế mật độ, chiều cao, khoảng lùi và khoảng trống tầm nhìn hướng ra biển trong quy chế quản lý kiến trúc; đảm bảo quyền tiếp cận mặt nước của cộng đồng, tôn trọng địa hình tự nhiên, tránh tư duy phô diễn bê tông sát mép nước.

Bên cạnh đó, chuẩn hóa tiêu chuẩn thiết kế thích ứng xanh, bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn kiến trúc chịu bão lốc; cụ thể hóa chính sách bảo tồn cấu trúc các làng chài truyền thống, di sản văn hóa biển, quy định lưỡng dụng về kinh tế, quốc phòng, cứu hộ cho công trình biển đảo...

Góp ý vào dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Hà Nội) cho rằng, đối với quy định liên quan đến công trình kiến trúc có giá trị, cần làm rõ quan hệ giữa danh mục kiểm kê di tích, danh mục công trình kiến trúc có giá trị, danh mục công trình cần tập trung nguồn lực để bảo vệ theo Luật Thủ đô; đảm bảo tính đồng bộ dữ liệu, kế thừa kết quả đánh giá để không phát sinh thủ tục trùng lặp.

Liên quan tới các quy định về quy chế quản lý kiến trúc, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung đề nghị tiếp tục quy định quy chế quản lý kiến trúc phải phù hợp với thiết kế đô thị, chứ không chỉ phù hợp với quy hoạch. Việc tích hợp quy chế quản lý kiến trúc nông thôn vào quy hoạch chung của xã cần làm rõ hình thức văn bản ban hành, giá trị pháp lý của quy chế, trình tự điều chỉnh, trường hợp điều chỉnh quy chế có phải điều chỉnh quy hoạch hay không...

Cùng quan tâm tới nội dung này, đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) cho rằng, đối với doanh nghiệp đầu tư xây dựng, điều quan trọng là phải biết rõ từ đầu công trình được xây dựng với chiều cao, hình khối, màu sắc, khoảng lùi và yêu cầu kiến trúc như thế nào.

Vì vậy, quy chế quản lý kiến trúc cần được ban hành kịp thời, có nội dung cụ thể và dễ tra cứu. Theo đại biểu tỉnh Cà Mau, dự thảo quy định quy chế quản lý kiến trúc phải phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn đã được phê duyệt, tuy nhiên, cần phân định rõ: quy hoạch xác định các chỉ tiêu, định hướng phát triển; quy chế kiến trúc cụ thể hóa hình thái, cảnh quan và bản sắc; không nên để cùng một nội dung vừa được xem xét trong quy hoạch, vừa tiếp tục được thẩm định lại theo quy chế kiến trúc, làm dự án phải qua thêm một vòng xin ý kiến.

Báo cáo thẩm tra đã cảnh báo nguy cơ một công trình chịu "điều chỉnh kép", gây chồng chéo thủ tục và ách tắc trong thẩm định dự án. Đại biểu Nguyễn Duy Thanh đề nghị nghiên cứu số hóa toàn bộ quy chế quản lý kiến trúc thành bản đồ có thể tra cứu theo từng thửa đất, khu vực và tuyến phố; công khai cả nội dung đang có hiệu lực và nội dung đang được đề xuất điều chỉnh. Khi doanh nghiệp đã thực hiện đúng thông tin được công khai thì cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính ổn định, không đặt thêm yêu cầu khác trong quá trình xử lý hồ sơ.

Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi) bày tỏ nhất trí cao với Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Góp ý thêm cho Dự án Luật, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa nhấn mạnh, để phản ánh tính đa dạng của bản sắc văn hóa, cần cụ thể hóa bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc. Do đó cần sự kết nối liên thông giữa Luật Kiến trúc và Luật Di sản văn hóa tại Điều 13 của Dự án Luật.

Theo đại biểu Hoàng Văn Nghĩa, việc sửa đổi khoản 1 Điều 13, quy định công trình kiến trúc có giá trị đã xếp hạng di tích hoặc thuộc danh mục kiểm kê được quản lý theo Luật Di sản văn hóa là hoàn toàn phù hợp, giải quyết chồng chéo thẩm quyền. Đối với các công trình kiến trúc chưa xếp hạng di tích như nhà cổ, nhà sàn, biệt thự cũ, thì trách nhiệm bảo tồn hoàn toàn thuộc về danh mục công trình kiến trúc có giá trị và trong quy chế quản lý kiến trúc địa phương.

Đối với việc phân cấp phân quyền trong quản lý kiến trúc nông thôn và đặc khu tại Điều 14 và Điều 15. Dự thảo cho phép Ủy ban nhân dân là cấp tỉnh phân cấp ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành và điều chỉnh quy chế quản lý kiến trúc nông thôn.

Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa cho rằng, nội dung này rất tích cực để phát huy hiệu quả bảo tồn và trao quyền cho cộng đồng quản lý. Tuy nhiên, có rủi ro là hạn chế về trình độ, hiểu biết về bản sắc văn hóa cũng như chuyên môn sâu về kiến trúc, di sản sẽ dẫn tới việc có thể đưa ra quyết định hành chính mang tính hiện đại hóa làm biến dạng văn hóa bản sắc của cộng đồng và không gian truyền thống.

Đi vào cụ thể, đại biểu đề nghị cần phải xem xét để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 5 để phản ánh tính đa dạng của văn hóa ở trong kiến trúc. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 5. Cụ thể nhấn mạnh là bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc phải bảo đảm tầm nhìn chiến lược dài hạn, tôn trọng và bảo tồn sự đa dạng văn hóa kiến trúc của 54 dân tộc anh em, phản ánh đặc trưng không gian sống, tri thức bản địa, kỹ thuật xây dựng truyền thống của từng vùng, miền, địa phương kết hợp hài hòa với tính hiện đại của sự phát triển.

Hải Liên