Thị trường lao động Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến - nguyên trợ lý Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định, vẫn “chưa đủ mạnh để giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội… nhân lực chất lượng chưa cao”.
Một nguyên nhân cốt lõi là “sự thiếu kết nối, thậm chí là sự đứt gẫy giữa giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động”.
Chính vì thế, Nghị quyết 06/2023 đặt nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý cho giáo dục nghề nghiệp.
Lần sửa Luật GDNN này chính là cơ hội để biến chủ trương đó thành hiện thực, đưa hệ thống đào tạo nghề trở thành động lực then chốt của thị trường lao động hiện đại và hội nhập.
TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến: Luật Giáo dục nghề nghiệp cần chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo”
Liên thông: Cây cầu pháp lý còn dang dở
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của giáo dục nghề nghiệp hiện nay là vấn đề liên thông. Về nguyên tắc, liên thông phải là “cây cầu” để người học có thể di chuyển thuận lợi trong hệ thống giáo dục quốc dân, khi muốn đổi ngành, đổi phương thức đào tạo hoặc học lên bậc cao hơn. Nhưng thực tế, cây cầu ấy ở Việt Nam vẫn còn dang dở.
TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến chỉ rõ: “Vấn đề không phải là ở chỗ thiết kế luật mới như thế nào, mà chính là ở chỗ xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản dưới luật liên quan đến Khung Trình độ quốc gia, hệ thống tích lũy và chuyển đổi tín chỉ”. Nói cách khác, chúng ta chưa thực sự vận hành tốt Khung Trình độ quốc gia, và cũng chưa xây dựng được cơ chế tích lũy – chuyển đổi tín chỉ để người học đi lại thông suốt.
Chính vì vậy, sửa Luật GDNN lần này cần đặt trọng tâm vào việc khắc phục khoảng trống này: vừa xác lập trách nhiệm rõ ràng hơn cho cơ quan quản lý, vừa tạo cơ chế pháp lý đủ linh hoạt để các cơ sở GDNN và GDĐH chủ động công nhận, chuyển đổi tín chỉ, biến liên thông thành một quyền lợi thực sự của người học chứ không chỉ là một khẩu hiệu.
Nhà trường – doanh nghiệp cần hợp tác thực chất để có nguồn nhân lực đạt trình độ cao.
Gắn kết nhà trường – doanh nghiệp: Từ quy định sang cơ chế vận hành
Một thực tế dai dẳng là chương trình đào tạo nghề còn xa rời sản xuất. Người học tốt nghiệp ra trường thiếu kỹ năng thực tiễn – điều mà ILO gọi là “thiếu hụt kỹ năng”. Ông Tiến phân tích, “các cơ sở GDNN chỉ có thể cung cấp cái mà họ có chứ không phải cái mà thị trường lao động cần”.
Dù Luật GDNN 2014 đã dành hẳn một chương quy định quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong đào tạo, nhưng cách tiếp cận vẫn “nặng về quản lý, nhẹ về kiến tạo phát triển”. Do đó, sửa luật lần này cần thay đổi tinh thần: Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ”, tạo khung pháp lý và động lực để nhà trường – doanh nghiệp hợp tác thực chất, từ khâu xây dựng chương trình đến tổ chức đào tạo, đánh giá kỹ năng.
Nếu thiết kế tốt, luật mới sẽ buộc hai bên ngồi lại với nhau từ đầu đến cuối, vừa giải quyết bài toán kỹ năng, vừa tạo sự đồng bộ giữa cung và cầu lao động. Đây chính là điều kiện tiên quyết để thị trường lao động bền vững.
Cơ chế mở để bắt kịp chuyển đổi số
Trong bối cảnh chuyển đổi số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo tạo ra nghề mới với tốc độ chóng mặt, câu hỏi đặt ra là: làm sao để hệ thống dạy nghề chạy kịp, chứ không phải mãi chạy theo? Ông Tiến cho rằng, thách thức này không chỉ với GDNN mà với mọi lĩnh vực. Vấn đề cốt lõi là cách tiếp cận pháp luật: “Nghị quyết 57 và 66 của Bộ Chính trị đã yêu cầu loại bỏ tư duy ‘không quản được thì cấm’, thay vào đó là cho phép thí điểm, khuyến khích sáng tạo”.
Theo hướng đó, Luật GDNN mới cần trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các cơ sở đào tạo, giúp họ có cơ chế quản trị linh hoạt, phản ứng nhanh trước những yêu cầu mới của thị trường lao động. Một hệ thống pháp luật “mở” sẽ tạo không gian để GDNN kịp thích ứng với những nghề mới, kỹ năng mới trong kỷ nguyên số.
Đào tạo nghề phải theo kịp chuyển đổi số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo
Xã hội hóa: Mở cửa nhưng bảo đảm công bằng
Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp là xu hướng tất yếu. Nhưng với đặc thù GDNN có tỷ lệ lớn người học thuộc nhóm yếu thế, nguyên tắc then chốt mà ông Tiến nhấn mạnh là: “XHH phải đi đôi với các chính sách hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, góp phần khắc phục tình trạng bất bình đẳng xã hội trong phát triển giáo dục”.
Thực tế, Nhà nước đã có nhiều chính sách bảo đảm công bằng như miễn học phí cho học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề, hỗ trợ vay vốn khởi nghiệp, chính sách bình đẳng giới, ưu tiên cho người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ… Nhưng để xã hội hóa đi vào thực chất, luật sửa đổi cần làm rõ thêm các vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ: quyền sở hữu, cơ chế quản trị, mô hình hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận trong GDNN tư thục.
Đây là điều kiện để vừa thu hút được đầu tư tư nhân, vừa không bỏ rơi những nhóm dễ bị tổn thương, giữ được nguyên tắc công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Sửa Luật GDNN lần này không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là một bước ngoặt về tư duy: từ quản lý sang kiến tạo, từ áp đặt sang trao quyền, từ khép kín sang mở rộng. Như TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến nhấn mạnh, phải xây dựng hành lang pháp lý để GDNN thật sự gắn kết với thị trường lao động và thích ứng nhanh với biến đổi.
Nếu làm được, GDNN sẽ không còn là “khâu yếu” mà trở thành bệ đỡ cho một thị trường lao động linh hoạt, bền vững và hội nhập quốc tế.
Thu Trang