Bà Thanh hỏi, với thời gian như trên, bà có đủ điều kiện 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm để nghỉ hưu vào tháng 8/2026 không? Hay trong 15 năm đó chỉ được tính 14 năm 3 tháng, trừ 9 tháng nghỉ thai sản?
Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời như sau:
Tại điểm b khoản 1 Điều 12 Thông tư số 12/2025/TT-BNV ngày 30/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021 hoặc làm công việc khai thác than trong hầm lò như sau:
Đối với người lao động đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mà thời gian hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc thì thời gian này được tính là thời gian làm nghề, công việc hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Theo thông tin bà Thanh cung cấp thì bà có thời gian làm nghề, công việc khai thác phi thoại (điện thoại viên cấp 1) từ ngày 1/1/2001 đến ngày 31/12/2015, trong thời gian này có thời gian bà nghỉ hưởng chế độ thai sản (2 lần) là 9 tháng và thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc thì thời gian hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Tại điểm b khoản 1 Điều 64 Luật BHXH năm 2024 quy định người lao động khi nghỉ việc có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc trường hợp sau đây:
"b) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;".
Tại Khoản 2, khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tuổi nghỉ hưu như sau:
"2. Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
3. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
Đối chiếu quy định nêu trên và theo thông tin bà Thanh cung cấp, bà là lao động nữ sinh tháng 7/1974 có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì bà đủ điều kiện hưởng lương hưu từ tháng 8/2026.
Chinhphu.vn