In bài viết

Xuất khẩu chè: Nâng chuẩn chất lượng, kiến tạo giá trị

(Chinhphu.vn) - Tái cấu trúc chuỗi giá trị chè giai đoạn 2026–2030 không chỉ là yêu cầu nội tại mà còn là điều kiện để ngành chè xác lập vị thế mới trên thị trường quốc tế.

28/02/2026 16:55
Xuất khẩu chè: Nâng chuẩn chất lượng, kiến tạo giá trị- Ảnh 1.

Năm 2025, xuất khẩu chè đạt 136.952 tấn - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Nội lực sản xuất: Nền móng của cạnh tranh dài hạn

Hiện Việt Nam duy trì vị trí thứ 5 thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè, với vùng nguyên liệu trải dài từ trung du miền núi phía Bắc đến Tây Nguyên. Các trung tâm sản xuất lớn tập trung tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Lâm Đồng và một số tỉnh miền núi phía Bắc.

Năm 2025, xuất khẩu chè đạt 136.952 tấn, kim ngạch gần 238 triệu USD, giảm 7,07% về lượng và 0,72% về giá trị so với năm 2024. Tuy nhiên, tháng 1/2026 ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực khi xuất khẩu tăng 28% về lượng và 27% về trị giá, kim ngạch gần 21 triệu USD.

Dù duy trì quy mô lớn, giá xuất khẩu bình quân của chè Việt Nam chỉ dao động 1.644–1.737 USD/tấn, tương đương 55–65% mức bình quân thế giới (khoảng 2.600 USD/tấn năm 2023). So với các quốc gia định vị thành công phân khúc cao cấp như Sri Lanka hay Kenya, mức chênh lệch giá còn rất lớn. Điều này cho thấy dư địa nâng giá trị gia tăng vẫn còn rộng mở nếu ngành chè cải thiện cấu trúc sản phẩm và chiến lược thị trường.

Giai đoạn 2005–2024 chứng kiến sự chuyển dịch đáng chú ý trong sản xuất chè. Diện tích đạt đỉnh 133,6 nghìn ha năm 2015, sau đó thu hẹp còn khoảng 121,9 nghìn ha năm 2024 do áp lực lợi nhuận và chuyển đổi cây trồng. Tuy nhiên, sản lượng búp tươi tăng mạnh từ 570 nghìn tấn năm 2005 lên 1,154 triệu tấn năm 2024 nhờ giống mới chiếm khoảng 54% diện tích và cải tiến kỹ thuật canh tác.

Việc tăng năng suất giúp duy trì nguồn cung ổn định cho chế biến và xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra thách thức về kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL) khi thị trường cao cấp siết chặt tiêu chuẩn.

Quy mô nông hộ trung bình chỉ khoảng 0,2 ha/hộ khiến liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, khó triển khai chứng nhận Organic, VietGAP, GlobalGAP hay Rainforest Alliance do chi phí kiểm toán cao. Chỉ khoảng 10% nhà máy có vùng nguyên liệu tự chủ hoặc liên kết chặt chẽ, dẫn tới chất lượng đầu vào chưa ổn định.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, trong bối cảnh các thị trường như EU và Bắc Mỹ yêu cầu minh bạch nguồn gốc và phát thải thấp, việc tái cấu trúc tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã quy mô lớn, hợp đồng bao tiêu dài hạn và nền tảng số truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện tiên quyết.

Ngành chè toàn cầu đang dịch chuyển mạnh sang khâu chế biến sâu, thiết kế bao bì và xây dựng câu chuyện thương hiệu. Trà không chỉ là đồ uống truyền thống mà được tái định nghĩa như sản phẩm hỗ trợ sức khỏe, giàu polyphenol, catechin, L-theanine.

Phân khúc trà thảo mộc, trà phối trộn ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) khoảng 8,1%. Thị trường trà đóng chai sẵn (RTD) được dự báo đạt 70,85 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng 5,9% mỗi năm. Đây là dư địa lớn cho các sản phẩm chiết xuất, bột hòa tan và tinh chất trà.

Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc tới 94% vào chè xanh sao sấy phổ thông, khiến biên lợi nhuận thấp. Định hướng mới cần ưu tiên đầu tư công nghệ chiết xuất, sấy phun, cô đặc chân không, kiểm soát vi khí hậu bằng IoT và chuẩn hóa chuỗi lạnh.

Song song đó, ngành cần phát triển danh mục sản phẩm mới như bạch trà, hồng trà, trà lên men và kombucha nền trà Việt, gắn với câu chuyện văn hóa và đặc sản vùng miền.

Đa dạng hóa thị trường, giảm rủi ro tập trung

Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè Việt Nam từng phụ thuộc lớn vào Pakistan. Khi nước này giảm nhập khẩu năm 2025 do khó khăn ngoại tệ và logistics, tỷ trọng nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh.

Doanh nghiệp đã linh hoạt xoay trục sang Iraq (tăng 51% về lượng năm 2025), Philippines (tăng trên 500% về lượng trong tháng 1/2026), Nga, Ấn Độ, Ba Lan và Thái Lan. Thái Lan hiện chiếm 34,24% thị phần lượng nhập khẩu chè từ Việt Nam nhờ phù hợp với thị hiếu trà xanh pha lạnh.

Các hiệp định thương mại tự do như EVFTA và CPTPP tạo điều kiện tiếp cận thị trường cao cấp, song cũng đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn bền vững và truy xuất nguồn gốc.

Xu hướng tiêu dùng xanh, công bằng và phát thải thấp đang thiết lập "luật chơi" mới. Các chứng nhận Rainforest Alliance, Fairtrade, Organic trở thành điều kiện để vào kệ hàng tại EU và Bắc Mỹ.

Trong bối cảnh đó, sản xuất hữu cơ được xem là tương lai tất yếu của ngành chè Việt Nam. Việc phát triển vùng chè hữu cơ không chỉ nâng giá bán mà còn giúp nâng hình ảnh thương hiệu quốc gia.

Đặc biệt, chè Shan Tuyết cổ thụ tại Hà Giang và Yên Bái có tiềm năng định vị phân khúc đặc sản cao cấp. Sinh trưởng ở độ cao trên 800 m, tích lũy vi chất phong phú, phù hợp tiêu chí Organic tự nhiên, Shan Tuyết có thể thâm nhập phân khúc Fine Tea tại châu Âu và Mỹ nếu được xây dựng chỉ dẫn địa lý và câu chuyện văn hóa bản địa bài bản.

Bộ NN&MT cho biết, chiến lược phát triển chè đến 2030 cần tập trung vào bốn trụ cột: Nâng chuẩn chất lượng và bền vững: mã số vùng trồng, truy xuất số hóa, chứng nhận nhóm; Đầu tư chế biến sâu: tăng tỷ trọng sản phẩm tinh chế, RTD, trà chức năng; Đa dạng hóa thị trường: giảm lệ thuộc vào một vài thị trường trung cấp; Xây dựng thương hiệu quốc gia cho chè Việt Nam.

Mục tiêu không chỉ là duy trì sản lượng 1,2–1,4 triệu tấn búp tươi, mà quan trọng hơn là nâng giá trị trên mỗi tấn chè xuất khẩu. Khi mỗi lô hàng tích hợp truy xuất số, chứng nhận bền vững và câu chuyện di sản, chè Việt Nam có thể chuyển dịch từ cung ứng nguyên liệu giá rẻ sang kiến tạo giá trị cao.

Giai đoạn 2026–2030 vì vậy sẽ là thời điểm bản lề để ngành chè Việt Nam bước ra khỏi "vùng an toàn" của xuất khẩu thô, xác lập vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đỗ Hương