In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026 (2).

09/10/2026 10:20

 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026 (2)- Ảnh 1.

Cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp gồm 20 đơn vị

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 09/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký ban hành Nghị định số 383/2026/NĐ-CP ngày 8/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 09/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.

Nghị định 383/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 1 Nghị định số 09/2026/NĐ-CP về vị trí và chức năng của Bộ Tư pháp theo hướng bổ sung chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, bảo đảm quyền con người.

Cụ thể, Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Xây dựng pháp luật; tổ chức thi hành pháp luật; thi hành án dân sự; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; công tác pháp chế; kiểm soát thủ tục hành chính; bảo vệ, bảo đảm quyền con người; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tư pháp

Nghị định 383/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 2 về nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tư pháp.

Về tổ chức thi hành pháp luật, Nghị định 383/2026/NĐ-CP bổ sung thêm nhiệm vụ của Bộ Tư pháp là giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ về công tác truyền thông chính sách theo quy định của pháp luật (bổ sung điểm k vào sau điểm i khoản 7 Điều 2).

Về kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn, cập nhật, đăng tải, khai thác dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính (sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 12 Điều 2).

Về xây dựng thể chế, pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Bộ Tư pháp là cơ quan trung ương trong tương trợ tư pháp về dân sự thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự; cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Công ước New York năm 1958 về Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài; cơ quan quốc gia trong quan hệ với các thành viên và cơ quan thường trực của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, cơ quan trung ương trong các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và các điều ước quốc tế khác theo sự phân công của cơ quan có thẩm quyền.

Nghị định 383/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 14a vào sau khoản 14 Điều 2 về bảo vệ, bảo đảm quyền con người:

a) Bộ Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về quyền con người theo quy định của pháp luật; làm đầu mối tham mưu tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, bảo đảm quyền con người;

b) Đề xuất việc ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; thẩm định, góp ý, tham gia đàm phán điều ước quốc tế về quyền con người theo quy định pháp luật;

c) Là cơ quan đâu mối quốc gia thực thi Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị (Công ước ICCPR); thực hiện nhiệm vụ liên quan đến các điều ước quốc tế khác về quyền con người theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

d) Hợp tác quốc tế về quyền con người theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp;

đ) Thực hiện các nhiệm vụ khác về quyền con người theo phân công của Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền.

Cơ cấu tổ chức gồm 20 đơn vị

Nghị định 383/2026/NĐ-CP quy định cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp gồm 20 đơn vị:

1. Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2. Vụ Tổ chức cán bộ.

3. Văn phòng bộ.

4. Cục Quản lý Thi hành án dân sự.

5. Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính.

6. Cục Pháp luật dân sự - kinh tế.

7. Cục Pháp luật quốc tế và Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

8. Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật.

9. Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý.

10. Cục Hành chính tư pháp.

11. Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước.

12. Cục Bổ trợ tư pháp.

13. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính.

14. Cục Hợp tác quốc tế (trước là Vụ Hợp tác quốc tế).

15. Cục Kế hoạch - Tài chính.

16. Cục Công nghệ thông tin.

17. Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý.

18. Học viện Tư pháp.

19. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

20. Báo Pháp luật Việt Nam.

Các tổ chức quy định từ khoản 1 đến khoản 16 nêu trên là các tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổ chức quy định từ khoản 17 đến khoản 20 là các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước thuộc bộ.

Cục Quản lý Thi hành án dân sự là Cục loại 1, được sử dụng con dấu hình Quốc huy.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc bộ và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập khác thuộc bộ.

Vụ Hợp tác quốc tế tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật cho đến khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hợp tác quốc tế có hiệu lực thi hành.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2026.

Phê duyệt Đề án "Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035"

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 phê duyệt Đề án "Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035".

Về phạm vi của Đề án, Đề án rà soát, tổ chức hệ thống các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia còn hiệu lực do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương phê duyệt theo thẩm quyền; đồng thời cập nhật các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia được phê duyệt mới trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện Đề án để bảo đảm đầy đủ phạm vi, tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực.

Tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược

Mục tiêu chung của Đề án là tái cấu trúc hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án thành 06 nhóm theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và định hướng kết quả; bảo đảm liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm.

Tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách, quản trị quốc gia, phát triển văn hóa, xã hội và con người Việt Nam.

Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời bảo đảm liên thông với việc tổ chức thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia theo pháp luật về chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, tự chủ công nghệ và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực

Mục tiêu cụ thể của Đề án giai đoạn 2026 - 2030, 100% chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc phạm vi Đề án được theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; liên thông dữ liệu khoa học với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có liên quan.

Hình thành tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 05 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; hỗ trợ tối thiểu 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất; thu hút vốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo đạt tối thiểu bằng 100% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp thực hiện Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.

Hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án được tổ chức thành 6 nhóm

Hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án giai đoạn 2026 - 2035 được tổ chức thành 06 nhóm: (1) Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; (2) Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản; (3) Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia; (4) Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia; (5) Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt; (6) Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Việc tổ chức thành 06 nhóm quy định tại Quyết định này nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng cường liên thông, theo dõi, đánh giá và điều phối ở quy mô quốc gia; không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; không làm thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện chương trình đã được pháp luật quy định. Các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc các nhóm được xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Việc phân định 06 nhóm chương trình được thực hiện theo các định hướng; mục tiêu, nội dung chính và kết quả dự kiến của từng nhóm là định hướng để xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả và xem xét phê duyệt chương trình mới thuộc nhóm:

1- Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia

Mục tiêu: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tổ chức nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật dùng chung nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển quốc gia.

Nội dung chính: Hỗ trợ phát triển nhân lực, nhóm nghiên cứu mạnh, tổ chức nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu xuất sắc và các mô hình xuất sắc gắn với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu; đầu tư, nâng cấp hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Kết quả dự kiến: Nhóm nghiên cứu đạt trình độ khu vực và quốc tế; mạng lưới hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đầu tư đồng bộ, khai thác hiệu quả; hạ tầng dùng chung có hiệu suất cao, hoạt động hiệu quả.

2- Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản

Mục tiêu: Tạo ra tri thức mới, phát triển nền tảng khoa học quốc gia, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách và tạo nền tảng cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Nội dung chính: Thực hiện nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ bản định hướng theo các ưu tiên quốc gia trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn.

Kết quả dự kiến: Công bố khoa học uy tín, phát hiện khoa học mới, sách chuyên khảo, cơ sở dữ liệu khoa học, kiến nghị chính sách, nhân lực khoa học trình độ cao, tài sản trí tuệ phát sinh từ nghiên cứu và kết quả có khả năng chuyển tiếp sang giai đoạn ứng dụng, phát triển công nghệ, phát triển công nghệ chiến lược.

3- Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia

Mục tiêu: Tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, có tác động quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, xã hội, con người và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nội dung chính: Tổ chức các chương trình, cụm nhiệm vụ và nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực nhằm nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ, mô hình, giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý và giải pháp xã hội phục vụ giải quyết các bài toán trọng điểm quốc gia.

Kết quả dự kiến: Quy trình công nghệ; hệ thống giải pháp đồng bộ; sản phẩm trọng điểm; mô hình thí điểm; báo cáo tư vấn chính sách; bộ tiêu chí, bộ chỉ số; cơ sở dữ liệu; tiêu chuẩn, quy chuẩn và công cụ quản lý được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn.

4- Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia

Mục tiêu: Hỗ trợ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua việc ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật; xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.

Nội dung chính: Tổ chức triển khai các chương trình, nhiệm vụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, tài sản trí tuệ, năng suất và chất lượng; hỗ trợ chuỗi hoạt động từ hoàn thiện, kiểm chứng, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ và đổi mới công nghệ đến phát triển sản phẩm, thương mại hóa và mở rộng thị trường; đồng thời phát triển hệ sinh thái, tổ chức trung gian và các điều kiện nền tảng phục vụ đổi mới sáng tạo, ưu tiên các ngành, lĩnh vực, công nghệ chiến lược và các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Kết quả dự kiến: Công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được hoàn thiện, kiểm chứng, chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa; doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng, làm chủ và đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ, tổ chức trung gian và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo được phát triển; tài sản trí tuệ được tạo lập, bảo hộ, quản lý, khai thác và thương mại hóa; tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và các điều kiện nền tảng phục vụ đổi mới sáng tạo được phát triển, góp phần thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

5- Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt

Mục tiêu: Tập trung nguồn lực triển khai chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt và chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Chương trình quốc gia đặc biệt tập trung vào các mục tiêu có quy mô lớn, ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển công nghệ chiến lược, nghiên cứu chiến lược và chính sách có giá trị lớn, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong nước, quốc phòng và an ninh; chương trình phát triển công nghệ chiến lược tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Nội dung chính: Tổ chức các chương trình, nhiệm vụ quy mô lớn theo mục tiêu của chương trình quốc gia đặc biệt; đồng thời triển khai chuỗi nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược; xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các điều kiện kỹ thuật trực tiếp phục vụ làm chủ, ứng dụng, sản xuất và thương mại hóa công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược. Các chương trình thuộc nhóm được áp dụng cơ chế đầu tư, tài chính, quản lý đặc thù và quản trị rủi ro theo quy định của pháp luật.

Kết quả dự kiến: Kết quả nghiên cứu chiến lược, chính sách có giá trị lớn được sử dụng; giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, quốc phòng và an ninh; công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược được làm chủ, ứng dụng, thương mại hóa; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và điều kiện kỹ thuật phục vụ công nghệ, sản phẩm chiến lược được hoàn thiện; hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, sản xuất trong nước và tài sản trí tuệ của Việt Nam.

6- Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia

Mục tiêu: Tổ chức thực hiện các mục tiêu, định hướng của Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, liên thông trên phạm vi quốc gia, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trên môi trường số.

Nội dung chính: Chương trình Chuyển đổi số quốc gia là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ về hoạt động chuyển đổi số, bao gồm nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, do cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng thời kỳ, phù hợp với Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số. Kế hoạch chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện theo pháp luật về chuyển đổi số.

Kết quả dự kiến: Các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia được triển khai đồng bộ; tăng cường liên thông, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; nâng cao hiệu quả hoạt động trên môi trường số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và bảo đảm an toàn, an ninh trong chuyển đổi số.

Phê duyệt Đề án "Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật"

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 8/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật".

Hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh

Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật trở thành hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia nhằm phục vụ tích hợp, chuẩn hóa, liên kết, phân tích và cung cấp dịch vụ dữ liệu pháp luật dùng chung, bảo đảm tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", áp dụng công nghệ hiện đại, làm nền tảng để xây dựng, phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo chính xác, hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh. Thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, góp phần đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Bảo đảm 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật được biểu diễn dưới dạng tiêu chuẩn hỗ trợ máy đọc

Đề án phấn đấu năm 2027 rà soát, tái cấu trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, bảo đảm 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật được biểu diễn dưới dạng tiêu chuẩn hỗ trợ máy đọc.

Số hoá 100% hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các văn bản được ban hành từ ngày 30 tháng 4 năm 2025 (thời điểm Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành).

Hình thành Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia

Năm 2028 - 2030, hoàn thành triển khai Kho dữ liệu pháp luật tập trung, bảo đảm tích hợp 100% các nguồn dữ liệu thành phần về pháp luật từ các bộ, cơ quan, địa phương; hình thành Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia hỗ trợ các nhu cầu tìm kiếm, phân tích, khai thác thông minh và ứng dụng công nghệ số phục vụ công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Đồng thời, phát triển các nền tảng, công cụ phục vụ tra cứu, khai thác, phân tích và sử dụng dữ liệu pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức tiếp cận, sử dụng thông tin pháp luật; góp phần giảm thời gian, chi phí tiếp cận thông tin, nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thi hành và tuân thủ pháp luật.

Phạm vi dữ liệu

Phạm vi dữ liệu của Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật được xác định theo hướng tiếp cận hình thành hệ sinh thái dữ liệu về pháp luật, phục vụ quản lý, theo dõi và khai thác thông tin xuyên suốt "vòng đời" của văn bản quy phạm pháp luật từ khi xây dựng đến tổ chức thi hành. Ưu tiên tích hợp, hoàn thiện nhóm dữ liệu gốc từ các bộ, cơ quan, địa phương liên quan. Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi dữ liệu pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu khai thác, phân tích dữ liệu, phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm Đề án đặt ra là: 1- Xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu pháp luật; 2- Phát triển hạ tầng, nền tảng công nghệ và quản trị, vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật; 3- Số hoá, tạo lập, tích hợp và chuẩn hoá dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật; 4- Phát triển nguồn nhân lực có năng lực, kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số, quản trị và khai thác dữ liệu pháp luật; 5- Khai thác dữ liệu pháp luật thúc đẩy đổi mới, sáng tạo dịch vụ số; 6- Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu; 7- Kiểm soát rủi ro, ngăn chặn nguy cơ bị điều hướng, tác động chính sách; 8- Hợp tác quốc tế.

Xây dựng, phát triển nền tảng công nghệ của Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo định hướng "AI First"

Để phát triển hạ tầng, nền tảng công nghệ và quản trị, vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, Đề án tiến hành xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng nền tảng công nghệ cho Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật; quản trị, vận hành Cơ sở dữ liệu liệu lớn về pháp luật.

Cụ thể, hạ tầng của Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, ứng dụng các công nghệ hiện đại, bảo đảm lưu trữ, xử lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu pháp luật trong phạm vi toàn quốc; ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ pháp lý số.

Xây dựng, phát triển nền tảng công nghệ của Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo định hướng "AI First" (ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo), xây dựng hạ tầng dữ liệu và các nền tảng dùng chung phục vụ thu thập, lưu trữ, chuẩn hóa, tích hợp, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu pháp luật thống nhất; đồng thời tạo nền tảng phục vụ tra cứu, phân tích, dự báo và hỗ trợ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.

Tổ chức duy trì, vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, bảo đảm tính liên tục, liền mạch và an toàn dữ liệu.

Về số hoá, tạo lập, tích hợp và chuẩn hoá dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, Đề án rà soát, đánh giá, số hóa, làm sạch, chuẩn hóa, nâng cấp các cơ sở dữ liệu để tích hợp, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo quy định.

Phục vụ phát triển các ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật

Thực hiện số hóa hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (từ giai đoạn đăng ký xây dựng, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra cho đến khi văn bản được ban hành). Trước mắt số hóa, chuẩn hóa và tích hợp dữ liệu hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các văn bản được ban hành kể từ ngày 30 tháng 4 năm 2025 (thời điểm Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành). Đối với hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các văn bản được han hành trước ngày 30 tháng 4 năm 2025, thực hiện số hóa, chuẩn hóa theo yêu cầu, điều kiện của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Thu thập, tích hợp dữ liệu pháp luật theo phương thức phù hợp với từng nguồn dữ liệu, ưu tiên kết nối, chia sẻ dữ liệu tự động thông qua các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu có liên quan; thu thập thủ công dữ liệu do người dùng chủ động cung cấp.

Xây dựng Đồ thị tri thức pháp luật: Xây dựng, cập nhật, duy trì Đồ thị tri thức pháp luật là nền tảng tri thức phục vụ phân tích dữ liệu pháp luật, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tra cứu ngữ nghĩa và phục vụ phát triển các ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật.

Khai thác dữ liệu pháp luật thúc đẩy đổi mới, sáng tạo dịch vụ số

Để khai thác dữ liệu pháp luật thúc đẩy đổi mới, sáng tạo dịch vụ số, Đề án phát triển Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật thành hạ tầng dữ liệu dùng chung và nguồn dữ liệu lõi phục vụ Cổng Pháp luật quốc gia và các hệ thống thông tin khác; tiến hành mở dữ liệu trong phạm vi phù hợp theo quy định, cung cấp dịch vụ chia sẻ dữ liệu phục vụ yêu cầu tra cứu cơ bản, phổ biến giáo dục, tiếp cận pháp luật của cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp; kho tri thức, dữ liệu pháp luật được chuẩn hóa theo định dạng máy đọc được, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và cung cấp dữ liệu cho các hệ thống thông tin, nền tảng số, đặc biệt các nền tảng AI dùng chung.

Nghiên cứu, rà soát cơ sở pháp lý, đánh giá tác động, đề xuất cơ chế thu phí khai thác Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật đối với tổ chức, doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ thương mại nhằm bảo đảm kinh phí duy trì, vận hành, phát triển.../.