• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026.

08/10/2026 16:49
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 08/10/2026- Ảnh 1.

Lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt

Lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Văn bản số 1251/TTg-CN ngày 7/10/2026 về việc tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt.

Theo đó, Bộ Xây dựng được giao chủ trì tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt theo pháp luật xây dựng, đầu tư công và pháp luật có liên quan (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi phải làm rõ các nội dung sau: sự cần thiết đầu tư, phạm vi, quy mô các dự án thành phần, hình thức đầu tư các dự án thành phần (ưu tiên thu hút các nguồn lực xã hội), chủng loại sản phẩm, khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ, hiệu quả đầu tư và hạch toán kinh tế - xã hội, đề xuất các cơ chế chính sách liên quan;...); nghiên cứu, triển khai thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Thông báo số 489/TB-VPCP ngày 17 tháng 9 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ; có trách nhiệm quản lý, sử dụng, quyết toán nguồn kinh phí ngân sách nhà nước bố trí cho công tác lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Tài chính căn cứ đề xuất của Bộ Xây dựng, chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí vốn để Bộ Xây dựng tổ chức chuẩn bị đầu tư Tổ hợp Công nghiệp đường sắt theo quy định; Bộ Tài chính với vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, chỉ đạo Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam cung cấp hồ sơ và phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong quá trình tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ về Đề án phát triển công nghiệp đường sắt Việt Nam theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại Công văn số 5372/VPCP-CN ngày 09 tháng 6 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quy hoạch, quản lý quỹ đất và các nội dung liên quan khác, đảm bảo quỹ đất phát triển Tổ hợp công nghiệp đường sắt.

Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm cung cấp cho Bộ Xây dựng các thông tin, nội dung nghiên cứu đã thực hiện về Tổ hợp công nghiệp đường sắt; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong quá trình tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt.

Giao các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Tổ hợp Công nghiệp đường sắt.

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Trưởng Ban Chỉ đạo tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 521/TB-VPCP ngày 8/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Trưởng Ban Chỉ đạo tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng (Ban Chỉ đạo 751).

Tại Thông báo trên, Phó Thủ tướng khẳng định việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài là chủ trương lớn của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị. Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 77-KL/TW ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Kết luận số 24-KL/TW ngày 13 tháng 4 năm 2026 đã mang lại nhiều lợi ích như: chống thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội; đưa vào nền kinh tế nguồn lực tài chính, đất đai lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và trên cả nước.

Phó Thủ tướng biểu dương, đánh giá cao Cơ quan thường trực là Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan và các Thành viên Ban Chỉ đạo 751 đã chủ động, tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo để đạt được kết quả nêu trên.

Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo về những kết quả đạt được, một số tồn tại, hạn chế và các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tài chính, cũng như ý kiến của các bộ, cơ quan.

Đến ngày 27/9/2026, cả nước có 4.846 dự án khó khăn, vướng mắc

Cụ thể, về kết quả đạt được: Sau gần hai năm được thành lập và hoạt động, với tinh thần quyết liệt, khẩn trương, Ban Chỉ đạo 751 đã thực hiện được nhiều việc, có kết quả rất đáng ghi nhận, cụ thể: làm việc với 15 địa phương để nắm bắt tình hình thực tế, hướng dẫn tháo gỡ nhiều dự án lớn, quan trọng. Tổng hợp, đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành chủ trương, cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án như: (i) trình Bộ Chính trị ban hành 02 chủ trương về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án; trình Quốc hội ban hành 03 Nghị quyết về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; (ii) Chính phủ ban hành theo thẩm quyền 05 Nghị quyết và 04 Nghị định để kịp thời hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách tháo gỡ vướng mắc cho các dự án; (iii) Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 Công điện chỉ đạo đôn đốc, tháo gỡ các dự án.

Theo số liệu tổng hợp, phân loại trên Hệ thống 751 (đến ngày 27/9/2026) ghi nhận cả nước có 4.846 dự án khó khăn, vướng mắc, tổng diện tích sử dụng đất 208.882 ha và tổng mức đầu tư 3.498.889 tỷ đồng.

Biểu dương các địa phương (thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Thanh Hóa) và các Bộ: Tài chính, Xây dựng, Y tế đã quyết liệt, chủ động thực hiện nhiệm vụ, không đùn đẩy, né tránh và đạt kết quả tích cực trong việc triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Một số tồn tại hạn chế

Về tiến độ, chất lượng rà soát và cập nhật dữ liệu của các địa phương, cơ quan, đơn vị còn chưa đầy đủ, cụ thể: một số địa phương chưa cập nhật nghĩa vụ tài chính vào ngân sách nhà nước của các dự án (Điện Biên, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hóa, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Nội, Huế) và một số địa phương chưa cập nhật đầy đủ thông tin các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài (Nghệ An, Quảng Ninh, Cà Mau, Đắk Lắk, Sơn La, Đồng Nai,...) trên Hệ thống 751 theo đúng thời hạn quy định và yêu cầu; thông tin dự án nhập trên Hệ thống dữ liệu thiếu đồng bộ, thiếu tính chi tiết, chưa làm rõ lý do nguyên nhân hoặc thẩm quyền giải quyết cụ thể.

Công tác phối hợp trong việc lấy ý kiến và xử lý vướng mắc của các Bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực và các địa phương làm chủ đầu tư, chủ quản lý dự án vướng mắc tồn đọng kéo dài chưa chặt chẽ, hiệu quả, kịp thời.

Một số địa phương, cơ quan và đơn vị còn chưa tích cực chủ động, sáng tạo, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, có tâm lý trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên (Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) trong việc xử lý các vướng mắc thuộc thẩm quyền của mình; một số bộ chưa chủ động nghiên cứu, trả lời kịp thời, hướng dẫn đề xuất cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án khi địa phương đề xuất hoặc được Cơ quan thường trực tổng hợp, phân loại yêu cầu.

Các dự án tồn đọng, kéo dài thường liên quan tới hệ thống pháp luật thay đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau và nhiều lĩnh vực: đất đai, đầu tư, quy hoạch, tài chính, PPP..., dẫn đến việc xác định căn cứ pháp lý tháo gỡ gặp rất nhiều vướng mắc, rủi ro pháp lý cao.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Về kiện toàn Ban Chỉ đạo 751 và Quy chế hoạt động, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, kiện toàn Ban Chỉ đạo và Quy chế Ban Chỉ đạo 751 theo quy định; các bộ, cơ quan, đơn vị có thành viên tham gia Ban Chỉ đạo 751 phối hợp chặt chẽ, kịp thời với Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước ngày 10 tháng 10 năm 2026.

Bộ Tài chính nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Công văn số 5315-CV/VPTW ngày 27/9/2026 về việc xây dựng quy trình phối hợp liên ngành giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và địa phương để thực hiện thống nhất nguyên tắc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và ý kiến của báo cáo, kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại Công văn số 3504/TTr-TTCP ngày 28/9/2026; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Về Quy chế hoạt động, Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với các nội dung báo cáo của Bộ Tài chính về quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo theo nguyên tắc phân công trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo. Bộ Tài chính khẩn trương rà soát, tiếp thu ý kiến của các đơn vị tham gia và hoàn thiện Quy chế hoạt động, nâng cao vai trò của Cơ quan Thường trực và Thành viên, Tổ công tác trong hoạt động tham mưu, giúp việc của Ban Chỉ đạo 751 trong tình hình mới để đáp ứng yêu cầu.

Bộ Tài chính rà soát, hoàn thiện nội dung, biểu mẫu, trường thông tin để chuẩn hóa Hệ thống dữ liệu 751 theo hướng bảo đảm khoa học, thống nhất, đầy đủ thông tin; đơn giản hóa, dễ dàng thực hiện khai báo và dễ khai thác sử dụng dữ liệu.

Trước ngày 15/10/2026 phải hoàn thành việc cập nhật bổ sung thông tin các dự án tồn đọng

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các bộ, cơ quan được giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án, nhất là các địa phương chưa cập nhật bổ sung thông tin đối với các dự án thuộc phạm vi quản lý thì khẩn trương, nghiêm túc thực hiện, chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực để cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về dự án như: tình hình triển khai và khó khăn, vướng mắc cụ thể dẫn đến việc chưa thể tiếp tục triển khai Dự án; xác định lĩnh vực và căn cứ pháp lý cụ thể; đề xuất rõ giải pháp, cơ chế, chính sách và cấp thẩm quyền có trách nhiệm xử lý để giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc của dự án; hoàn thành cập nhật thông tin các dự án thuộc thẩm quyền xử lý trên Hệ thống 751 trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Đồng thời, chịu trách nhiệm đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, khả năng và điều kiện khắc phục hậu quả của dự án vướng mắc, tồn đọng, áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù đã được cấp có thẩm quyền ban hành để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho dự án. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc không tổng hợp, cung cấp đầy đủ thông tin dự án ảnh hưởng tới tiến độ xử lý, tháo gỡ chung cho các dự án của Ban Chỉ đạo 751.

Phân loại rõ tình trạng của từng nhóm dự án

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương phân loại rõ tình trạng của từng nhóm dự án và hoàn chỉnh Kế hoạch cụ thể theo các nhóm dự án để theo dõi, đôn đốc, báo cáo Ban Chỉ đạo tại Phiên họp tiếp theo. Cụ thể:

Đối với 3.557 dự án đã được xử lý, không còn vướng mắc, Bộ Tài chính cần phân loại thực trạng tình hình các dự án hiện nay, cụ thể: (i) Dự án đã đưa vào hoạt động, khai thác; (ii) Dự án hoàn thành xử lý các vướng mắc về thủ tục pháp lý; đang thực hiện đầu tư đối với các dự án này cần đánh giá khả năng đáp ứng về năng lực của chủ đầu tư thực hiện hoàn thành dự án đúng kế hoạch. Trên cơ sở đó, kiểm soát chặt chẽ tiến độ, bảo đảm các dự án phải thực sự đi vào hoạt động, đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng,...

Đôn đốc, yêu cầu các địa phương, trên cơ sở kết quả xử lý từng dự án tồn đọng, kéo dài, phải đánh giá, lượng hóa cụ thể hiệu quả và các nguồn lực được giải phóng, đưa vào khai thác, sử dụng sau khi dự án được tháo gỡ, trong đó tập trung làm rõ: (i) số thu, các khoản nghĩa vụ tài chính phát sinh và đóng góp vào ngân sách nhà nước; (ii) số vốn đầu tư đã và sẽ tiếp tục được huy động, triển khai, giải ngân và đưa vào nền kinh tế; (iii) diện tích đất đai được giải phóng khi dự án được tháo gỡ; (iv) các nguồn lực, tài sản và các giá trị kinh tế - xã hội khác (nếu có) được khôi phục hoặc tạo thêm.

Đối với 1.131 dự án đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền thì Bộ Tài chính cần phân loại theo từng bộ, ngành, địa phương, thống nhất về thời hạn hoàn thành xử lý và tổng hợp chung vào Kế hoạch triển khai.

Đối với 158 dự án tiếp tục xử lý: Đôn đốc, yêu cầu các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực khẩn trương có ý kiến cụ thể về giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đã được Bộ Tài chính tổng hợp; trong đó nêu rõ những vướng mắc tại chính sách, quy định pháp luật hiện hành; đề xuất phương án xử lý, cấp thẩm quyền có trách nhiệm xử lý và tiến độ quá trình xử lý dự kiến. Trên cơ sở đó, tổng hợp, báo cáo Phó Thủ tướng Thường trực, Trưởng Ban Chỉ đạo, cụ thể: 34 dự án thuộc thẩm quyền của Quốc hội, báo cáo trước ngày 30 tháng 10 năm 2026; 124 dự án thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, báo cáo trước ngày 20 tháng 10 năm 2026;

Đối với các dự án thống kê, rà soát trùng lặp (166 dự án): Thống nhất với kiến nghị của Bộ Tài chính xóa khỏi Hệ thống 751.

Không để còn dự án khó khăn, vướng mắc mà không được xem xét xử lý, tháo gỡ

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng các bộ và thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo chức năng nhiệm vụ được giao và trân trọng đề nghị các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy chỉ đạo thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Công văn số 5315-CV/VPTW ngày 27 tháng 9 năm 2026, cụ thể như sau:

- Tiếp tục rà soát, tăng cường kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá để sửa đổi, bổ sung, đồng bộ các quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư, đấu thầu, nhà ở, kinh doanh bất động sản, xây dựng, quy hoạch, khoáng sản và quản lý tài sản công,... nhằm xử lý dứt điểm các vướng mắc về quy định pháp luật đối với các dự án tồn đọng, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, không hợp thức hoá sai phạm, đồng thời bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; có cơ chế, chính sách phù hợp với đô thị loại đặc biệt, quy mô lớn, nhiều dự án tồn đọng phức tạp; điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án;

- Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực nghiên cứu xây dựng quy trình phối hợp liên ngành giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và địa phương để thực hiện thống nhất nguyên tắc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đồng thời với quá trình xem xét, xử lý trách nhiệm, khắc phục hậu quả; xây dựng bộ tiêu chí hoặc hướng dẫn chuyên ngành đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, khả năng và điều kiện khắc phục hậu quả của dự án vướng mắc, tồn đọng; hướng dẫn cụ thể về cơ chế xử lý các dự án chuyển tiếp sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; hướng dẫn, xử lý triệt để kiến nghị của các địa phương, đơn vị liên quan thuộc thẩm quyền.

- Khẩn trương rà soát kỹ các dự án, không để xảy ra trường hợp còn dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài nhưng không được tổng hợp, xem xét xử lý, tháo gỡ theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Trong đó, tập trung rà soát toàn diện nội dung vi phạm của các dự án đã được chỉ ra trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, không bỏ sót, bỏ lọt vi phạm, nhất là các dự án sử dụng đất có vi phạm liên quan đến việc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, đấu giá đất, tính giá đất, xác định giá đất để giao đất, cho thuê đất,... bảo đảm không thất thoát, lãng phí; chủ động thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền, rà soát các kết luận thanh tra, bản án để kịp thời xác định vi phạm, khuyết điểm (nếu có); thực hiện tốt đánh giá năng lực triển khai và cam kết thực hiện của chủ đầu tư, bảo đảm dự án sau khi được tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đi vào hoạt động, đạt hiệu quả thực chất, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Các bộ, ngành, địa phương, các thành viên Ban Chỉ đạo tiếp tục xác định thực hiện việc tập trung, khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài là nhiệm vụ quan trọng để giải quyết dứt điểm các vướng mắc, khơi thông nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hướng tới mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong năm 2026 và những năm tiếp theo; chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương có liên quan để tiếp cận đầy đủ thông tin, tình hình thực hiện, phương hướng và giải pháp xử lý; thực hiện rà soát, có ý kiến về sự cần thiết tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ cho các dự án do các địa phương, cơ quan đề xuất để ban hành theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành, không đùn đẩy, né tránh, phù hợp với các nguyên tắc đã được cấp có thẩm quyền quy định đảm bảo sớm đưa vào hoạt động, khai thác, phát huy hiệu quả, khơi thông nguồn lực. Báo cáo kịp thời tình hình, kết quả xử lý đến Bộ Tài chính - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tháo gỡ các điểm nghẽn trong xã hội hóa giáo dục, làm việc, đối thoại với một số doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 519/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tháo gỡ các điểm nghẽn trong xã hội hóa giáo dục, làm việc, đối thoại với một số doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thông báo nêu: Thời gian qua, công tác xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Tuy nhiên, kết quả thu hút nguồn lực xã hội chưa tương xứng với tiềm năng; một số chủ trương của Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị liên quan đến đất đai, thuế, tín dụng chưa được thể chế hóa đầy đủ; việc triển khai thực hiện ở các bộ, cơ quan, địa phương còn hạn chế, bất cập.

Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn nhất quán chủ trương đẩy mạnh, khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục nhằm huy động nguồn lực, kinh nghiệm, trí tuệ, công nghệ và năng lực quản trị của xã hội để cùng Nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương chú trọng rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư phát triển ổn định, lâu dài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; đồng thời đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cơ sở giáo dục phải cam kết chất lượng đào tạo và trách nhiệm xã hội theo quy định.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn, các rào cản và quán triệt thực hiện nghiêm quan điểm tạo đột phá thúc đẩy xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao tổng hợp, rà soát, trả lời bằng văn bản đối với các đề xuất, kiến nghị về khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp, tập đoàn, đơn vị đầu tư trong lĩnh vực giáo dục; tập trung thực hiện các giải pháp phù hợp, hiệu quả, tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước cho phát triển giáo dục và đào tạo.

Rà soát và hoàn thiện đồng bộ khung khổ pháp lý

Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu phải rà soát và hoàn thiện đồng bộ khung khổ pháp lý. Các bộ, cơ quan liên quan rà soát, sửa đổi các quy định về xã hội hóa giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, đầu tư và tín dụng, bảo đảm đồng bộ, khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu, hoàn thiện Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Bộ Xây dựng chủ trì tiếp thu, hoàn thiện Dự án Luật Nhà ở (sửa đổi); trong đó nghiên cứu đầy đủ, tiếp thu hợp lý các ý kiến của các Bộ, cơ quan liên quan, các địa phương, doanh nghiệp đối với các nội dung liên quan nhằm tháo gỡ các nút thắt về xã hội hóa giáo dục như kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợp, đề xuất và ý kiến của các doanh nghiệp tại cuộc họp.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng Nghị định quy định chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; trình Chính phủ trong quý I năm 2027.

Ưu tiên dành quỹ đất sạch, cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng sang đất giáo dục

Về tháo gỡ điểm nghẽn đất đai và tài sản công, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ trình Dự án Luật Đất đai (sửa đổi); tiếp tục rà soát các quy định pháp luật đất đai để thể chế hóa đầy đủ các chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị; yêu cầu cụ thể hóa các chính sách ưu tiên dành quỹ đất sạch, cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng sang đất giáo dục; bảo đảm quy định pháp luật đất đai không làm hạn chế các cơ chế đặc thù, vượt trội đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 248/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội; kịp thời rà soát, hướng dẫn các địa phương thực hiện quy định về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất rút gọn đối với các dự án đầu tư trung hạn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 248/2025/QH15.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung rà soát, bố trí quỹ đất sạch, tích hợp nhu cầu phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục vào quy hoạch sử dụng đất; rà soát nhu cầu trường lớp trên địa bàn, quỹ đất giáo dục, nhà đất công dôi dư và danh mục các dự án cần thu hút đầu tư, công khai thông tin thu hút doanh nghiệp đầu tư; tiếp tục chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo; chủ động tháo gỡ các rào cản liên ngành, giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thủ tục hành chính cho nhà đầu tư.

Rà soát, ban hành chính sách ưu đãi đột phá về thuế; không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất... đối với cơ sở giáo dục trong nước

Về bảo đảm nguồn lực tài chính và định vị chiến lược đầu tư, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo bố trí ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo bảo đảm các tỷ lệ chi theo Nghị quyết số 71-NQ/TW (trong đó, chi đầu tư phát triển tối thiểu 5% và chi cho giáo dục đại học tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước), làm nguồn vốn "mồi" hiệu quả thu hút vốn đối ứng xã hội hóa và FDI; rà soát, ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đột phá về thuế; không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với cơ sở giáo dục trong nước, hoàn thành trong quý II năm 2027.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng phát triển, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng, gói tín dụng ưu đãi, cải tiến quy trình, thủ tục cấp tín dụng, linh hoạt trong việc xác nhận tài sản bảo đảm nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đáp ứng kịp nhu cầu vốn cho các cơ sở giáo dục đào tạo và các dự án phát triển giáo dục đào tạo, phù hợp với quy mô, khả năng của từng tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật.

Ban hành chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài về nước giảng dạy

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu cơ chế đặt hàng dịch vụ giáo dục, hỗ trợ người học và việc tham gia của cơ sở giáo dục ngoài công lập đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, giá dịch vụ và khả năng cân đối ngân sách; rà soát việc thực hiện chính sách hỗ trợ học phí theo Nghị quyết số 217/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, trong đó nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền mức hỗ trợ tối thiểu áp dụng thống nhất toàn quốc phù hợp với quy định hiện hành; rà soát, ban hành các chính sách linh hoạt thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài về nước giảng dạy, nghiên cứu khoa học dài hạn; xây dựng chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực giáo dục; hoàn thành các nhiệm vụ trên trong quý II năm 2027.

Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về cấp visa; cấp giấy phép lao động; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút có chọn lọc các trường đại học thuộc nhóm các trường hàng đầu thế giới, các doanh nghiệp lớn về công nghệ mở phân hiệu, thành lập trung tâm nghiên cứu xuất sắc tại Việt Nam; hoàn thành trong năm 2027.

Tăng cường hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp trong đầu tư giáo dục

Về tăng cường hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp trong đầu tư giáo dục, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan, các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nghiên cứu, trả lời các kiến nghị thuộc thẩm quyền đối với các kiến nghị của các tập đoàn, doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026; gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp, báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 11 năm 2026; đồng thời chủ động có giải pháp rà soát, xử lý dứt điểm vướng mắc của các dự án giáo dục ngoài công lập đang bị ách tắc trên cơ sở danh mục do doanh nghiệp và địa phương cung cấp, hoàn thành trong quý IV năm 2026.

Bộ Giáo dục và Đào tạo là đầu mối tiếp nhận, chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý, theo dõi, tổng hợp các phản ánh, kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền; tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội về xã hội hóa giáo dục, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11 năm 2026. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo định kỳ tổ chức gặp gỡ, đối thoại để tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp, cơ sở giáo dục ngoài công lập.

Các bộ, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đăng ký doanh nghiệp, dân cư chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của địa phương, làm cơ sở thay thế thành phần hồ sơ bản giấy trong các thủ tục hành chính thành lập, cho phép hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập.

Khuyến khích nhân rộng mô hình "Trường trong doanh nghiệp"

Phó Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp, tập đoàn, đơn vị đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo xác định rõ lộ trình và tầm nhìn dài hạn; mạnh dạn chuyển dịch từ các phân khúc dễ sinh lời sang đầu tư vào giáo dục đại học tinh hoa và giáo dục phổ thông theo chuẩn quốc tế; khuyến khích nhân rộng mô hình "Trường trong doanh nghiệp", đào tạo gắn liền với chuỗi cung ứng công nghiệp và công nghệ cao.

Các cơ sở giáo dục tư thục phải thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch mức học phí và các khoản thu, cam kết mạnh mẽ về chất lượng đầu ra, chứng minh năng lực giải trình trước xã hội và phụ huynh.../.