• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026.

07/10/2026 17:34

Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương. 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026- Ảnh 1.

Ngày 3/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026 và trực tuyến với các bộ ngành, địa phương - Ảnh: VGP

Tăng trưởng GDP 9 tháng ước đạt 9,01%

Về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 09 tháng năm 2026, Nghị quyết nêu rõ: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, duy trì đà tăng trưởng cao, các động lực truyền thống được phát huy, nhiều điểm nghẽn được khơi thông, các động lực mới bước đầu được tập trung thúc đẩy gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế (GDP) quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, tính chung 09 tháng tăng 9,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 09 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ. Thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định, bảo đảm thanh khoản hệ thống các tổ chức tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước 09 tháng đạt 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí… khoảng 245,6 nghìn tỷ đồng; đáp ứng nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, chế độ, chính sách theo quy định.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 đạt gần 117,7 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 7,3% so với tháng trước, 09 tháng đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ; tháng 9 đổi chiều xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Giải ngân vốn đầu tư công có nhiều chuyển biến; đến hết tháng 9 ước đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn so với cùng kỳ khoảng 13% về tỷ lệ và 202,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối...

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, kinh tế - xã hội nước ta còn gặp nhiều thách thức, nhất là mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Lạm phát chịu áp lực do tác động của thị trường quốc tế, chính sách vĩ mô của các đối tác, CPI bình quân 09 tháng tiệm cận mục tiêu cả năm; thị trường tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, lãi suất chịu nhiều sức ép, nợ xấu có xu hướng tăng. Các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt như kỳ vọng; thị trường trong nước chưa được thúc đẩy rõ nét...

Phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà bứt phá cho năm 2027

Tháng 10 và những tháng cuối năm 2026, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó lường… Ở trong nước, quý IV là giai đoạn "nước rút", mang tính quyết định để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ năm 2026; có những khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.

Trước tình hình đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và của Chính phủ; tận dụng tối đa thời cơ, các yếu tố thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2026, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà bứt phá cho năm 2027 với tinh thần tăng tốc hành động quyết liệt.

Trong đó, tập trung nguồn lực, chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các báo cáo, đề án trình Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai, tháng 10 năm 2026. Khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Nhân dân đối với các dự án luật quan trọng như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)… Hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các bộ, cơ quan ngang bộ gắn với phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền.

Kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng năm 2026 đạt "2 con số" gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; lấy hiệu quả thực chất của nền kinh tế, năng suất, sức cạnh tranh, sự phát triển của doanh nghiệp và việc làm, thu nhập, chất lượng cuộc sống của Nhân dân làm thước đo cho sự phát triển. Rà soát toàn bộ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026, có giải pháp cụ thể, quyết liệt đối với chỉ tiêu thực hiện thấp, có khả năng không đạt mục tiêu, kịch bản cả năm và các nhiệm vụ chậm tiến độ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất.

Trên cơ sở kịch bản tăng trưởng quý IV của các ngành, lĩnh vực, địa phương (Phụ lục IV kèm theo Nghị quyết này), từng Bộ, cơ quan, địa phương xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan thực hiện; rà soát, xác định các động lực, dư địa tăng trưởng những tháng cuối năm, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền và kịp thời tham mưu, đề xuất những vấn đề vượt thẩm quyền; xác định rõ các dự án có khả năng sớm hoàn thành, đưa vào khai thác và các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh để tập trung tháo gỡ khó khăn, đôn đốc thực hiện.

NHIỆM VỤ CỤ THỂ GIAO CHO CÁC BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG TẠI PHỤ LỤC II.

Kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân tốt có nhu cầu sử dụng vốn

Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, khẩn trương phân bổ chi tiết 19,58 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương còn lại, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch được giao, trong đó tập trung giải ngân tốt cả vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, gắn việc giải ngân với việc hoàn thành khối lượng. Khẩn trương lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành, không để dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm; kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân tốt có nhu cầu sử dụng vốn; kiểm soát chặt chẽ vốn tạm ứng bảo đảm tạm ứng phù hợp với tiến độ dự án, sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đẩy nhanh thu hồi tạm ứng, không để xảy ra tạm ứng quá hạn; cập nhật đầy đủ dữ liệu phục vụ chấm điểm giải ngân. Rà soát, có phương án xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài (nhất là các dự án giao thông, năng lượng, hạ tầng lớn). Đẩy nhanh việc kiểm kê, lập phương án xử lý, khai thác hiệu quả các cơ sở nhà, đất dôi dư sau tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, không để xuống cấp, lãng phí.

Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, ổn định thị trường, bảo đảm cung cầu hàng hóa, năng lượng trong các tháng cuối năm. Tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, khai thác hiệu quả nhu cầu mua sắm, du lịch cuối năm gắn với kiểm soát, bình ổn giá; tận dụng các FTA, xúc tiến thương mại biên giới và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang Nam Mỹ, Trung Đông…, phát triển thương mại cân bằng, bền vững.

Khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, trình ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết đã có hiệu lực, khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản. Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; khắc phục các điểm nghẽn về kết nối, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục liên thông. Triển khai quyết liệt nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; khẩn trương hoàn thiện, đưa các chính sách mới vào cuộc sống, trong đó hướng dẫn chi tiết thực thi các quy định về tài sản số, khung pháp lý cho Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, quy hoạch cụm công nghiệp…

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống của Nhân dân, nhất là người có công, đối tượng chính sách, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia. Quyết tâm hoàn thành giám định ADN đối với 18 nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập. Rà soát tổng thể nhu cầu và xử lý dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa tại các địa phương; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và bếp ăn tập thể; chú trọng chất lượng bữa ăn học đường. Cắt giảm khâu trung gian không cần thiết trong mua sắm, cung ứng thuốc và thiết bị y tế; bảo đảm các cơ sở khám, chữa bệnh công lập không bị thiếu hụt vật tư, bệnh nhân tiếp cận được thuốc chất lượng với giá hợp lý.

Chuẩn bị chu đáo các hoạt động văn hóa, lễ hội vào dịp cuối năm, trong đó tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt Nam và tuần lễ văn hóa - đại đoàn kết dân tộc năm 2026. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa. Theo dõi sát tình hình quan hệ lao động, tiền lương, tiền thưởng tại các khu công nghiệp; tăng cường tổ chức các sàn giao dịch việc làm, hỗ trợ kết nối lao động cho các doanh nghiệp phục vụ cao điểm sản xuất cuối năm.

Đẩy nhanh tiến độ ban hành kết luận thanh tra đối với các cuộc thanh tra đã hoàn thành thanh tra trực tiếp; rà soát, xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; đôn đốc việc thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong việc tiếp công dân định kỳ, đột xuất; gắn tiếp công dân với rà soát, đối thoại, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, không để hình thành điểm nóng. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng; đẩy mạnh thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng 

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 382/2026/NĐ-CP ngày 6/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026- Ảnh 2.

Trong đó, Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung một số khoản Điều 7 Nghị định số 94/2025/NĐ-CP về nguyên tắc lập và gửi hồ sơ đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm, điều chỉnh giải pháp thử nghiệm, dừng thử nghiệm, gia hạn thời gian thử nghiệm và đề nghị cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thử nghiệm.

Mở rộng phương thức gửi hồ sơ đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 7 theo hướng mở rộng phương thức gửi hồ sơ để đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm, điều chỉnh giải pháp thử nghiệm, dừng thử nghiệm, gia hạn thời gian thử nghiệm và đề nghị cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thử nghiệm.

Theo quy định mới, hồ sơ được gửi qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc nộp trực tiếp tới Bộ phận Một cửa Ngân hàng Nhà nước hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Trước, Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định hồ sơ chỉ được gửi qua đường bưu điện (dịch vụ bưu chính) hoặc nộp trực tiếp tới Bộ phận Một cửa Ngân hàng Nhà nước hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công Ngân hàng Nhà nước hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia.

Bổ sung quy định về khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia

Đồng thời, Nghị định số 382/2026/NĐ-CP bổ sung thêm khoản 6 vào sau khoản 5 quy định việc khai thác và sử dụng thông tin hồ sơ đã được tích hợp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành như sau:

"6. Khi các loại giấy tờ thuộc thành phần hồ sơ quy định tại Nghị định này đã được tích hợp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành trên cơ sở trao đổi, cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Khi thông tin lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã được tích hợp trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thì Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác, Ngân hàng Nhà nước có văn bản đề nghị cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp của người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm để giải quyết thủ tục hành chính.".

Tổng Giám đốc của Công ty Fintech không bắt buộc phải có 2 năm kinh nghiệm quản lý

Bên cạnh đó, Nghị định số 382/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 8 quy định về các tiêu chí xem xét cấp Giấy chứng nhận tham gia Cơ chế thử nghiệm đối với Công ty công nghệ tài chính (Công ty Fintech) theo hướng không bắt buộc người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của Công ty Fintech phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm.

Theo quy định cũ, Công ty Fintech được xem xét cấp Giấy chứng nhận tham gia Cơ chế thử nghiệm khi giải pháp Fintech đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 94/2025/NĐ-CP và đáp ứng các điều kiện như sau:

a) Là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật;

b) Người đại diện theo pháp luật, Tổng Giám đốc (Giám đốc) phải có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, công nghệ thông tin và có ít nhất 02 năm kinh nghiệm là người quản lý, người điều hành của tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và không thuộc những đối tượng bị cấm theo quy định của pháp luật.

Nay Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi điểm b ở trên như sau: Người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty phải có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 02 năm kinh nghiệm là người quản lý, người điều hành của tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, trung gian thanh toán, công nghệ thông tin và không thuộc những đối tượng bị cấm theo quy định của pháp luật.

Sửa đổi về hồ sơ đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 9 quy định về Hồ sơ đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm.

Cụ thể, Nghị định số 382/2026/NĐ-CP bãi bỏ khoản 3 Điều 9. Theo đó, Công ty Fintech không phải nộp: Nghị quyết của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông, văn bản của người đại diện có thẩm quyền của chủ sở hữu phù hợp với thẩm quyền quy định tại Điều lệ về việc thông qua Đề án mô tả giải pháp Fintech đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm.

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 của Điều 9 quy định về Đề án mô tả giải pháp Fintech đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm như sau: "Đề án mô tả giải pháp Fintech đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm, trong đó thể hiện mô hình mô phỏng giải pháp hoặc bản trình diễn thử (Demo); nhóm khách hàng tiềm năng; nội dung thuyết minh giải pháp kỹ thuật về hệ thống thông tin sử dụng cho giải pháp Fintech tham gia Cơ chế thử nghiệm thể hiện việc đáp ứng yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 8 được hướng dẫn cụ thể tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này".

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 6 của Điều 9 quy định về hồ sơ nhân sự như sau: "Hồ sơ về nhân sự: Bản khai lý lịch (trước thời điểm nộp hồ sơ không quá 06 tháng), bản sao các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) hoặc văn bản của người đại diện có thẩm quyền của đơn vị nơi người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) đã hoặc đang làm việc xác nhận chức vụ và thời gian đảm nhận chức vụ hoặc bản sao văn bản chứng minh chức vụ và thời gian đảm nhiệm chức vụ tại đơn vị của người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc).

Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm chủ động khai thác, sử dụng thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ để thay thế thành phần hồ sơ văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc). Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì Ngân hàng Nhà nước yêu cầu tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm bổ sung thành phần hồ sơ để giải quyết thủ tục hành chính".

Đồng thời, Nghị định số 382/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 9 quy định về bản sao các tài liệu chứng minh tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm được thành lập và hoạt động hợp pháp như sau: "Bản sao các tài liệu chứng minh tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm được thành lập và hoạt động hợp pháp, gồm: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động; giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có).

Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm chủ động khai thác, sử dụng thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hoặc Cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư để thay thế thành phần hồ sơ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động; giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có) của tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm. Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì Ngân hàng Nhà nước yêu cầu tổ chức đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm bổ sung thành phần hồ sơ để giải quyết thủ tục hành chính".

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 6/10/2026.

Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại buổi kiểm tra hiện trường, đôn đốc tiến độ thực hiện dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các tuyến đường giao thông kết nối trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đồng Nai 

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 516/TB-VPCP ngày 7/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi kiểm tra hiện trường, đôn đốc tiến độ thực hiện dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các tuyến đường giao thông kết nối trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đồng Nai.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026- Ảnh 3.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm việc về tiến độ các dự án thành phần của Cảng hàng không quốc tế Long Thành ngày 4/10

Thông báo kết luận nêu rõ, dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành là dự án trọng điểm quốc gia, hạ tầng giao thông chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần quan trọng khẳng định vị thế, uy tín quốc gia. Dự án được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế quan tâm, kỳ vọng rất lớn; Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ thường xuyên, định kỳ kiểm tra, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện.

Theo chủ trương đầu tư dự án được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 94/2015/QH13, dự án giai đoạn 1 phải hoàn thành, đưa vào khai thác trong năm 2026. Đây là nhiệm vụ bắt buộc phải hoàn thành, rất nặng nề, nhiều thách thức khi khối lượng công việc còn lại lớn, thời gian còn lại không nhiều, dự án đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về nguồn nhân lực, công tác thanh toán, thiếu nguyên, vật liệu và giá cả tăng cao, vẫn còn những nhà thầu, gói thầu có tiến độ thi công rất chậm, gần như không có chuyển biến.

Do vậy, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị liên quan chuyển sang trạng thái nước rút, tăng tốc; tổ chức thi công 24/7 đối với các hạng mục đường găng, khối lượng còn lại lớn; kiểm soát chặt chẽ tiến độ từng ngày, từng công việc, hạng mục, gói thầu; không chủ quan, không lùi tiến độ, không chờ đợi, đùn đẩy trách nhiệm; việc thuộc thẩm quyền phải chủ động quyết định, xử lý ngay; việc vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền, không để ách tắc kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành Dự án.

Bảo đảm hoàn thành, đưa dự án vào khai thác trong năm 2026

Đối với dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1: Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) rà soát ngay toàn bộ khối lượng công việc còn lại của các gói thầu, đặc biệt tại các gói thầu có khối lượng còn lại lớn, là đường găng của dự án; lập tiến độ chi tiết đối với từng hạng mục, làm cơ sở theo dõi, chỉ đạo, bảo đảm hoàn thành, đưa Dự án vào khai thác trong năm 2026. Trong đó, xác định rõ các hạng mục công việc sẽ hoàn thành để phục vụ khai thác thương mại dự án, thời điểm vận hành chạy thử, thời điểm vận hành thương mại, thời gian hoàn thành toàn bộ Dự án giai đoạn 1; hoàn thành báo cáo trước ngày 10 tháng 10 năm 2026, gửi Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý có liên quan để theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo.

Trên cơ sở tiến độ thi công chi tiết, yêu cầu nhà thầu huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị, vật tư và nguồn lực tài chính; tổ chức thi công 3 ca 4 kíp, tăng mũi thi công để đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân, nhất là tại các gói thầu đường găng; kiên quyết xử lý các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về nhân lực, thiết bị, tài chính và tiến độ; trường hợp cần thiết, xử lý vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện phải tuân thủ đúng, đủ quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn, bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật, không vì tiến độ mà bỏ qua chất lượng.

Dự án là Cảng hàng không quốc tế, yếu tố an toàn, tiện ích cho người sử dụng là tiêu chí quan trọng hàng đầu. Do vậy, yêu cầu rà soát kỹ, triển khai đồng bộ các hạng mục về cảnh quan, môi trường, an ninh, an toàn trước khi đưa vào khai thác thương mại, đáp ứng tiêu chí "sáng, xanh, sạch, đẹp" và tuyệt đối an toàn.

Chủ tịch, Tổng giám đốc ACV phải chủ động xử lý ngay các vướng mắc thuộc thẩm quyền, trong đó ACV và các nhà thầu thống nhất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thanh toán; đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ, thủ tục nội nghiệp để nghiệm thu, thanh toán khối lượng đã thực hiện trên công trường, bảo đảm thanh toán đầy đủ, kịp thời khối lượng đã thực hiện, không để xảy ra tình trạng có khối lượng đã thực hiện nhưng chậm được thanh toán; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

ACV phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Xây dựng để kịp thời triển khai các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật chuyên ngành hàng không trước khi đưa dự án vào vận hành khai thác; thông báo sớm kế hoạch, thời gian dự kiến đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác thương mại và kế hoạch hoàn thành các tuyến đường giao thông kết nối đến các hãng hàng không trong nước và quốc tế để các hãng chủ động chuẩn bị, đăng ký đường bay và xây dựng phương án khai thác phù hợp.

Bộ Xây dựng tiếp tục là cơ quan đầu mối theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ dự án; căn cứ kế hoạch chi tiết do ACV cập nhật, hằng tuần rà soát tiến độ thực hiện; xác định các hạng mục, gói thầu có nguy cơ chậm tiến độ để kịp thời đôn đốc, hướng dẫn, báo cáo cấp có thẩm quyền.

Ưu tiên nguồn vật liệu phục vụ thi công dự án sân bay Long Thành

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tập trung chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư dự án để tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền về giải phóng mặt bằng, vật liệu, cấp điện, cấp nước, hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề phát sinh trên địa bàn, bảo đảm hoàn thành toàn bộ trong tháng 10 năm 2026; không để vướng mắc thuộc thẩm quyền địa phương ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, đưa dự án vào khai thác.

Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai chỉ đạo các đơn vị sản xuất đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn có ngay các giải pháp nâng cao công suất khai thác theo quy định như tăng ca, tăng kíp, tăng thời gian khai thác, bổ sung máy móc, thiết bị; ưu tiên nguồn vật liệu phục vụ thi công dự án sân bay Long Thành và các tuyến đường kết nối, bảo đảm cung cấp đủ, kịp thời vật liệu xây dựng phục vụ thi công các dự án.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Công an xây dựng phương án tổ chức giao thông khi đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác; bảo đảm kết nối thuận lợi giữa sân bay với Thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các tỉnh, thành phố trong vùng.

Khẩn trương hoàn thành các tuyến giao thông kết nối

Đối với hệ thống giao thông kết nối: Về đường bộ, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai, VEC chỉ đạo nhà thầu tập trung nguồn lực, tăng ca, tăng kíp, đẩy nhanh tiến độ thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng như đã cam kết. Quá trình thực hiện phải tuân thủ đúng, đủ quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn, bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật, không vì tiến độ mà bỏ qua chất lượng, đặc biệt đối với các hạng mục phải xử lý nền đất yếu.

Bộ Xây dựng phối hợp, hỗ trợ Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rà soát phương án thiết kế, thi công mở rộng giai đoạn 2 dự án Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm kinh tế - kỹ thuật, tận dụng tối đa các hạng mục công trình đã thực hiện trong giai đoạn 1, tránh lãng phí trong quá trình thực hiện; tổng hợp và gửi Bộ Công Thương về các khó khăn, vướng mắc đối với nguồn cung cấp Nhựa đường, các đề xuất, kiến nghị.

Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Công an (C08) rà soát, thống nhất ngay phương án tổ chức giao thông các tuyến đường cao tốc mới hoàn thành, đưa vào khai thác trên địa bàn, bảo đảm đồng bộ, kết nối liên thông, giảm ùn tắc, tai nạn giao thông, phát huy hiệu quả đầu tư các dự án; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Về đường sắt, kết nối giao thông bằng đường sắt là giải pháp quan trọng để tăng cường kết nối, rút ngắn thời gian di chuyển từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai tới sân bay Long Thành, cần sớm nghiên cứu, triển khai thực hiện.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tuyến đường sắt đô thị kết nối Cảng hàng không quốc Long Thành với Cảng hàng không Tân Sơn Nhất, trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đồng Nai như: tuyến Thủ Thiêm - Long Thành, Bến Thành - Thủ Thiêm, Tham Lương - Bến Thành, Bến Thành - Suối Tiên kéo dài,…

Trong quá trình nghiên cứu, triển khai các dự án, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai cần phối hợp, thống nhất giải pháp, công nghệ, bảo đảm đồng bộ, kết nối, liên thông giữa các dự án.

Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại Hội nghị Ban chỉ đạo công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng (lần thứ nhất)

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 517/TB-VPCP ngày 7/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại Hội nghị Ban chỉ đạo công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng (lần thứ nhất).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 07/10/2026- Ảnh 4.

Tháo gỡ điểm nghẽn các công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng.

Thông báo nêu: Các dự án trọng điểm trong lĩnh vực Công Thương và Xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển sản xuất, tăng cường năng lực hạ tầng, bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và tạo động lực phát triển trong giai đoạn tới; đây là 02 lĩnh vực có tính chất quyết định, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo, dành nguồn lực lớn để triển khai, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án; các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đã có nhiều nỗ lực trong triển khai các công trình, dự án trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng. Một số dự án đã có chuyển biến tích cực, từng bước tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ, góp phần tăng cường năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, qua báo cáo của các bộ, cơ quan cho thấy vẫn còn một số tồn tại cần tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ: (i) một số khó khăn, vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm, nhất là về thủ tục đầu tư, quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng (GPMB), vật liệu xây dựng, năng lực thực hiện và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan; (ii) tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu tư công năm 2026 của các dự án trọng điểm ngành xây dựng, giao thông chậm so với mức trung bình của cả nước; (iii) tiến độ triển khai một số dự án vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra; (iv) thủ tục giao đất, cho thuê đất ở địa phương còn vướng mắc, kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông… Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu, cần nỗ lực, quyết tâm cao hơn nữa, phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, tập trung tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân, bảo đảm các dự án triển khai đúng tiến độ, chất lượng.

5 yêu cầu để khắc phục những tồn tại

Để khắc phục những tồn tại trên, Phó Thủ tướng giao Ban chỉ đạo công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng (Ban Chỉ đạo) thực hiện 5 yêu cầu sau:

Thứ nhất, Ban Chỉ đạo không làm thay chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư; không thay thế trách nhiệm của người đứng đầu. Các vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương nào thì bộ, ngành, địa phương đó phải chủ động giải quyết và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

Thứ hai, phương thức làm việc thực chất, hiệu quả; tập trung vào những vấn đề thực sự cần thiết, liên ngành, liên địa phương, những nội dung còn có ý kiến khác nhau, những điểm nghẽn cần tháo gỡ vượt thẩm quyền các bộ, ngành, địa phương.

Thứ ba, tăng cường phối hợp liên ngành; chỉ đạo, phân công nhiệm vụ phải rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả, bảo đảm các công trình, dự án được triển khai đúng tiến độ, chất lượng, an toàn, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Mục tiêu cuối cùng là công việc phải chuyển biến, dự án phải có tiến độ, điểm nghẽn phải được tháo gỡ, nguồn lực phải được khơi thông và hiệu quả đầu tư các dự án được tăng cường; lưu ý tuyệt đối không vì tiến độ mà ảnh hưởng tới chất lượng công trình.

Thứ tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, cập nhật tiến độ; từng bước hình thành hệ thống theo dõi, giám sát tiến độ các dự án trọng điểm, bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cảnh báo những dự án có nguy cơ chậm tiến độ thực hiện, giải ngân; đồng thời tham mưu xử lý ngay những vấn đề phát sinh, không chờ đến kỳ họp mới báo cáo.

Thứ năm, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp chậm trễ, thiếu trách nhiệm, đồng thời biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Phó Thủ tướng yêu cầu trong thời gian tới, về kiện toàn Ban Chỉ đạo, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan khẩn trương trình cấp có thẩm quyền kiện toàn Ban chỉ đạo các công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hoàn thành trước ngày 10 tháng 10 năm 2026.

Hoàn thiện thủ tục đầu tư một số tuyến đường cao tốc

Về các công trình, dự án lĩnh vực xây dựng, giao thông, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương hoàn thiện thủ tục đầu tư. Cụ thể, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, chấp thuận chủ trương đầu tư tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI.

Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ khẩn trương hoàn thiện các thủ tục để phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình, Hòa Bình - Mộc Châu đáp ứng tiến độ theo kế hoạch.

Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư (dự án thành phần) DATP1 cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành, bảo đảm đủ điều kiện tiếp tục triển khai dự án theo tiến độ yêu cầu.

Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phối hợp nhà đầu tư, các cơ quan liên quan hoàn thiện thủ tục phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư các dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Đồng Nai, Tây Ninh khẩn trương hoàn thiện thủ tục liên quan để triển khai thi công DATP 2.2, 2.4, 2.5 thuộc dự án Đường vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh bảo đảm đồng bộ, đáp ứng tiến độ yêu cầu.

Xử lý dứt điểm vướng mắc về giải phóng mặt bằng

Về công tác giải phóng mặt bằng, Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai tập trung xử lý dứt điểm vướng mắc để bàn giao toàn bộ mặt bằng còn lại của DATP2 cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Tháp xây dựng kế hoạch cụ thể, trong đó xác định phạm vi GPMB, thời gian bàn giao mặt bằng của dự án Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận làm cơ sở theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, tuyệt đối không để chậm ảnh hưởng tới tiến độ thi công dự án.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Cần Thơ, An Giang khẩn trương hoàn thành thủ tục giao đất, cho thuê đất đối với các trạm dừng nghỉ Km45+000 trên đoạn Cần Thơ - Hậu Giang và Km100+200 trên đoạn Hậu Giang - Cà Mau để các nhà đầu tư triển khai theo kế hoạch, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Các địa phương có dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đi qua khẩn trương triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đẩy nhanh xây dựng các khu tái định cư, ưu tiên hoàn thành các phạm vi đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất trụ sở cơ quan nhà nước, công trình công cộng và các khu vực đủ điều kiện để sớm bàn giao mặt bằng phục vụ thi công.

Bảo đảm nguồn cung vật liệu cho các dự án

Về bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương chủ động rà soát nhu cầu vật liệu của từng dự án, phối hợp chặt chẽ với các địa phương có mỏ để đẩy nhanh thủ tục cấp phép, nâng công suất khai thác các mỏ đang hoạt động theo đúng quy định; điều phối bảo đảm nguồn cung vật liệu cho các dự án.

Các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tập trung tháo gỡ khó khăn về nguồn cát đắp, khẩn trương đưa các mỏ đã được cấp phép vào khai thác, nâng công suất các mỏ đang hoạt động, đồng thời nghiên cứu, bổ sung các nguồn cung phù hợp, ưu tiên cho các dự án Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận và các dự án đang thiếu nguồn vật liệu cát.

Các địa phương có nguồn đá xây dựng chủ động nâng công suất khai thác, tăng khả năng cung ứng cho các dự án trọng điểm không để xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn vật liệu; phối hợp với các địa phương thiếu nguồn để hình thành chuỗi cung ứng ổn định, nhất là đối với các dự án Cao Lãnh - An Hữu và các dự án khu vực phía Nam.

Các địa phương tăng cường quản lý, theo dõi diễn biến giá vật liệu xây dựng; kịp thời công bố giá vật liệu, chỉ số giá xây dựng theo quy định, bảo đảm phản ánh phù hợp diễn biến thực tế của thị trường, hạn chế ảnh hưởng đến chi phí và tiến độ thực hiện dự án.

Phải đảm bảo tiến độ, chất lượng đối với các dự án có kế hoạch hoàn thành trong năm 2026

Về tổ chức thi công, đối với các dự án có kế hoạch hoàn thành trong năm 2026, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương là cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu rà soát khối lượng còn lại, lập tiến độ thi công theo tuần/tháng, huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị, vật liệu; bổ sung mũi thi công, tăng ca, tăng kíp, phấn đấu hoàn thành các dự án đúng tiến độ, chất lượng.

Quá trình thực hiện phải tuân thủ đúng, đủ quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật; không vì tiến độ mà bỏ qua chất lượng. Dự án đưa vào khai thác phải đồng bộ, bao gồm cả các hạng mục phụ trợ, phục vụ vận hành, khai thác như hệ thống an toàn giao thông, trạm dừng nghỉ, trạm thu phí và hệ thống giao thông thông minh (ITS) để đáp ứng yêu cầu khai thác an toàn, thông suốt và hiệu quả; tránh tình trạng tuyến đường đưa vào khai thác khi các hệ thống an toàn, phụ trợ chưa được đầu tư đồng bộ như thời gian vừa qua.

Đối với các dự án yêu cầu kỹ thuật cao (có công trình hầm, cầu cấp đặc biệt, nền đường phải xử lý đất yếu thời gian dài) hoặc phát sinh các yếu tố khách quan cần kéo dài thời gian thực hiện để đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, Chủ đầu tư lập lại tiến độ điều chỉnh báo cáo cơ quan chủ quản xem xét, quyết định làm cơ sở triển khai thực hiện.

Đối với các dự án khởi công năm 2025 nhưng tiến độ còn chậm, các địa phương khẩn trương chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu khắc phục các tồn tại, tăng cường nguồn lực, đẩy nhanh thi công, bảo đảm tiến độ theo kế hoạch.

Đối với các dự án/DATP triển khai đáp ứng kế hoạch, các cơ quan chủ quản chỉ đạo chủ đầu tư, nhà đầu tư không được chủ quan, tiếp tục duy trì tiến độ, bảo đảm hoàn thành theo kế hoạch; lưu ý quá trình tổ chức thực hiện phải bảo đảm tuân thủ đúng, đủ quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.

Đảm bảo các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027

Đối với các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027, Phó Thủ tướng yêu cầu Dự án đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, khối lượng công việc rất lớn trong khi thời gian đến khi diễn ra Hội nghị cấp cao APEC 2027 không còn nhiều, Ủy ban nhân dân các thành phố Hà Nội, Bắc Ninh tập trung đẩy nhanh tiến độ GPMB, tháo gỡ vướng mắc về nguồn cung vật liệu cho dự án; chỉ đạo Nhà đầu tư tập trung huy động tối đa nhân lực, thiết bị, tài chính, tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, bảo đảm đáp ứng tiến độ, chất lượng theo yêu cầu.

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tập trung chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc và các công trình hạ tầng, bảo đảm yêu cầu phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027.

Về công tác giải ngân, Phó Thủ tướng lưu ý tỷ lệ giải ngân các dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ giải ngân thấp hơn so với mức bình quân chung của cả nước. Đề nghị các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ thực hiện ngoài công trường; rà soát, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ, thủ tục nội nghiệp để nghiệm thu, thanh toán khối lượng đã thực hiện trên công trường, bảo đảm thanh toán tối đa khối lượng đã thực hiện, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng có khối lượng thực hiện nhưng không được thanh toán.

Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc các công trình, dự án lĩnh vực Công Thương

Đối với các công trình, dự án lĩnh vực Công Thương, Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các chủ đầu tư các công trình, dự án trọng điểm trong lĩnh vực Công Thương lập kế hoạch triển khai chi tiết, bảo đảm hoàn thành theo tiến độ được phê duyệt, trong đó xác định rõ mốc tiến độ, thời gian hoàn thành, xác định "ma trận" trách nhiệm của bộ, cơ quan, các chủ thể tham gia bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và cam kết bằng văn bản, gửi Bộ Công Thương để tổng hợp, theo dõi, giám sát. Thực hiện chế độ báo cáo Bộ Công Thương định kỳ hàng quý về tiến độ thực hiện theo cam kết, trong đó nêu rõ các khó khăn, vướng mắc (nếu có) và đề xuất phương án giải quyết.

Bộ Tài chính với vai trò Đại diện chủ sở hữu chỉ đạo người đại diện vốn tại PVN, EVN tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ các dự án có vai trò quyết định đối với cân đối cung cầu điện và an ninh năng lượng quốc gia giai đoạn 2028-2030.

Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối, tiếp tục theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm trong lĩnh vực Công Thương; phối hợp với các cơ quan liên quan tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án, báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề vượt thẩm quyền.

Trong Quý IV năm 2026, hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư dự án nguồn điện trong Quy hoạch điện VIII

Phó Thủ tướng yêu cầu đối với các dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư: Đề nghị các địa phương triển khai ngay lựa chọn nhà đầu tư dự án nguồn điện trong Quy hoạch, Kế hoạch điện VIII chưa có nhà đầu tư như các Nhà máy điện khí LNG Nghi Sơn, Long Sơn…; hoàn thành trong Quý IV năm 2026.

Đối với các dự án đã lựa chọn được nhà đầu tư như: các Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, Thái Bình, Công Thanh, Quảng Trạch II, Hải Lăng giai đoạn 1, BOT Sơn Mỹ I, BOT Sơn Mỹ II, Bạc Liêu, Long An I, Ô Môn II, III, IV, Bộ Công Thương phối hợp với các địa phương chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục để khởi công, đẩy nhanh tiến độ các dự án. Xử lý nghiêm theo quy định đối với chủ đầu tư các dự án chậm trễ, không triển khai theo chủ trương đầu tư được duyệt, trường hợp nhà đầu tư không đủ năng lực để triển khai dự án đáp ứng yêu cầu tiến độ theo Quy hoạch được duyệt, chủ động có phương án thay thế nhà đầu tư khác thực hiện dự án theo thẩm quyền.

Đối với dự án đang triển khai, các địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư dự án lập kế hoạch triển khai chi tiết, bảo đảm hoàn thành theo tiến độ được phê duyệt, huy động tối đa nguồn lực đẩy nhanh tiến độ triển khai, bảo đảm tiến độ, chất lượng, mục tiêu đầu tư như đã cam kết./.