
Thủ tướng Chính phủ phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 23/4/2026 về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và Kế hoạch 5 năm (2026-2030) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thực hiện Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 26/12/2024 của Bộ Chính trị về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới", Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 16/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về "Phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 và Kế hoạch 5 năm (2021 - 2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng", trong những năm qua, phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã được tổ chức thực hiện có hiệu quả, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ, động viên các cấp, các ngành, các tầng lớp Nhân dân vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021 - 2025.
Đặc biệt, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao. Những thành tựu đạt được tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo
Phát huy những kết quả đã đạt được, để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và Kế hoạch 5 năm (2026 - 2030) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 26/12/2024 của Bộ Chính trị về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới", tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, tư tưởng và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, làm cho thi đua thực sự trở thành ý thức tự giác, trách nhiệm và thường xuyên của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị, cá nhân, tạo thành cao trào hành động cách mạng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự hào dân tộc, tạo động lực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chủ đề "Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc bứt phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, văn minh, thịnh vượng" được phát động tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI.
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tập trung cụ thể hóa và thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030, 12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số", góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát đã đề ra: Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; đến năm 2030 trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các phong trào thi đua, với hình thức phong phú, đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, tập trung thi đua thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm của Đảng, Nhà nước, của từng bộ, ngành, địa phương, gắn với mục tiêu cụ thể, lấy kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo.
Thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia
Thi đua vận hành hiệu quả hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thi đua đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thi đua xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn; thi đua xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại; thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia; thi đua phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; thi đua củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thi đua đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước...
Phong trào thi đua phải phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các vùng miền, địa phương, hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; coi trọng người lao động trực tiếp và lực lượng tuyến đầu. Thi đua phải phát triển mạnh mẽ trong Nhân dân, đến từng cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương và cả nước.
Thường xuyên quan tâm phát hiện, bồi dưỡng các nhân tố, điển hình mới, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến; khuyến khích, tạo điều kiện để các điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy, lan tỏa, nêu gương người tốt, việc tốt, tạo động lực thúc đẩy, cổ vũ các phong trào thi đua.
Các bộ, ngành, địa phương có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng, xây dựng các mô hình mới, nhân tố mới trong từng năm, cả giai đoạn, được thực hiện từ cơ sở và đồng bộ tất cả bốn khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân điển hình tiên tiến. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân, hộ gia đình đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc, có tác động tích cực, lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, bảo đảm khen thưởng kịp thời, đúng người, đúng việc, đúng thành tích, có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Tăng cường khen thưởng thông qua việc chủ động phát hiện các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Quan tâm khen thưởng cơ sở, tập thể nhỏ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tập thể, cá nhân trực tiếp công tác, lao động, chiến đấu, thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt, bí mật; cá nhân có nhiều đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dũng cảm cứu người, cứu tài sản. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong công tác khen thưởng.
Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cụm, khối thi đua. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào công tác thi đua, khen thưởng, bảo đảm công khai, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính.
Bố trí, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức, kinh nghiệm, gắn bó với quần chúng và phong trào thi đua.
Củng cố tổ chức, bộ máy ổn định, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Đồng thời, tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy ổn định, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng công tác tham mưu và hiệu quả tổ chức triển khai các phong trào thi đua, công tác khen thưởng trong phạm vi cả nước.
Bộ Nội vụ tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Tập trung tham mưu hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng, đặc biệt là các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2026.
Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương phát động và triển khai các phong trào thi đua giai đoạn 2026 - 2030, đặc biệt là phong trào phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu tăng trưởng bền vững 2 con số giai đoạn 2026-2030, quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; thực hiện sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua theo kế hoạch.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Chỉ thị này; theo dõi, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
Tăng cường các hoạt động thông tin, tuyên truyền sâu rộng nội dung của Chỉ thị
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông tăng cường các hoạt động thông tin, tuyên truyền sâu rộng nội dung của Chỉ thị, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong tổ chức triển khai thực hiện.
Tích cực đổi mới, đa dạng hóa phương thức để đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; dành nhiều thời gian, thời lượng, mở các chuyên trang, chuyên mục để tuyên truyền về thành quả của các phong trào thi đua, gắn với phát hiện, biểu dương, tôn vinh, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban và cơ quan của Đảng ở trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội căn cứ chức năng, nhiệm vụ thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và tổ chức phát động, triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước.
Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động các tầng lớp Nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia các cuộc vận động lớn của Đảng, các phong trào thi đua do các cấp, các ngành phát động, đồng thời tăng cường công tác phản biện xã hội và tham gia giám sát việc thực hiện các phong trào thi đua, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị này.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Công điện số 33/CĐ-TTg ngày 23/4/2026 về việc thúc đẩy thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến liên thông, đồng bộ, hiệu quả, không bị gián đoạn; trong đó, giao Bộ Công an khẩn trương hoàn thành Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính, đưa vào triển khai chính thức và vận hành ổn định, thông suốt trong tháng 4/2026.
Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo Trung ương) và của Chính phủ về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp xã theo mô hình tập trung, tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đến ngày 22/4/2026, 13/17 Bộ, cơ quan ngang Bộ đã hoàn thành xây dựng, tổ chức tập huấn và đưa vào triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ theo mô hình tập trung.
Tuy nhiên, việc triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ vẫn còn một số hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến của cấp tỉnh, cấp xã cho người dân, doanh nghiệp.
Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung
Để bảo đảm việc thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến được liên thông, đồng bộ hiệu quả, không bị gián đoạn; đáp ứng yêu cầu của Lãnh đạo Ban Chỉ đạo Trung ương, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung triển khai ngay một số nhiệm vụ sau:
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, thống nhất với Bộ Công an rà soát, đánh giá lộ trình, mốc thời gian, các giải pháp khả thi triển khai kiến trúc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh trong việc thực hiện thủ tục hành chính để điều chỉnh các nội dung của Công văn số 5721/BKHCN-CĐSQG ngày 17/10/2025, Công văn số 7753/BKHCN-CĐSQG ngày 17/12/2025, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/5/2026; tiếp tục tổng hợp tình hình thực hiện và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung để kịp thời hỗ trợ hoặc báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo thẩm quyền.
Đồng thời, khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số và các văn bản quy định, hướng dẫn theo thẩm quyền; nhất là các quy định liên quan đến cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chức năng, tính năng kỹ thuật của Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính. Hoàn thành trong tháng 6/2026.
Bộ Công an khẩn trương hoàn thành Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính, đưa vào triển khai chính thức và vận hành ổn định, thông suốt trong tháng 4/2026. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia, hoàn thành trước ngày 15/5/2026.
Bên cạnh đó, chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp nghiên cứu, hướng dẫn các địa phương triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh cho đến thời điểm các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ vận hành ổn định, thông suốt, hoàn thành trong tháng 4/2026.
Hoàn thành việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ giải quyết, đơn giản hóa thủ tục hành chính
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an rà soát, tổng hợp, đánh giá các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thủ tục hành chính tại các địa phương theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, đặc biệt qua sử dụng mô hình hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/5/2026.
Các bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ lộ trình Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, khẩn trương rà soát, khắc phục các bất cập của Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của bộ, cơ quan; công khai 100% các thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến triển khai tập trung trên Hệ thống để thực hiện toàn quốc, bảo đảm việc thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công của người dân, doanh nghiệp liên thông, đồng bộ, hiệu quả, không bị gián đoạn; hoàn thành việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định tại Nghị định số 278/2025/NĐ-CP để phục vụ giải quyết, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ dựa trên dữ liệu.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với địa phương trong việc xây dựng, cấu hình quy trình giải quyết, phân quyền tài khoản cán bộ đầu mối của địa phương; bảo đảm phù hợp quy định của pháp luật chuyên ngành và thẩm quyền của chính quyền địa phương tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo nguyên tắc: việc thực hiện tập trung không làm ảnh hưởng đến thẩm quyền của địa phương trong việc ban hành các quy định, chính sách đã được trung ương phân cấp, phân định thẩm quyền hoặc quy định, chính sách đặc thù để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung theo lộ trình, bảo đảm việc giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị phải được liên thông, đồng bộ, không bị gián đoạn, nhất là thủ tục hành chính liên thông, liên quan, hoặc có sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan trong giải quyết thủ tục hành chính.
Ngoài ra, chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, hoàn thiện các chức năng, tính năng kỹ thuật của Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung, nhất là chức năng số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, Kho dữ liệu điện tử của cá nhân, tổ chức, bảo đảm việc cung cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử theo quy định.
Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, việc tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện cấu hình quy trình giải quyết, phân quyền tài khoản cán bộ thực hiện giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị tại địa phương trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ, ngành; bảo đảm phù hợp với quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính tại địa phương và các quy định của trung ương về phân cấp, phân quyền. Hoàn thành theo lộ trình triển khai các thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến tập trung của Bộ, ngành.
Đối với các thủ tục hành chính đặc thù hoặc chưa được cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo mô hình tập trung, tiếp tục duy trì, vận hành, nâng cấp (nếu cần) Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh để tiếp nhận, xử lý hồ sơ của tổ chức, cá nhân và tích hợp cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, bảo đảm việc thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến của người dân, doanh nghiệp liên tục, đồng bộ, hiệu quả.
Tổ chức thực hiện hiệu quả các thủ tục hành chính đã được phân cấp, phân quyền; thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, bảo đảm việc tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dành thời gian quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc hoàn thành các nhiệm vụ nêu trên, bảo đảm việc thực hiện, giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp được liên thông, đồng bộ, hiệu quả, không bị gián đoạn.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 710/QĐ-TTg ngày 23/4/2026 thành lập Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia.
Quyết định nêu rõ, thành lập Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia (Mạng lưới) trên cơ sở kết nối, liên kết các cơ quan, đơn vị hiện có thuộc các bộ, ngành và địa phương có chức năng, nhiệm vụ liên quan.
Việc thiết lập và vận hành hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường nhằm theo dõi thường xuyên, phát hiện kịp thời các diễn biến bất thường về phóng xạ trong môi trường trên diện rộng thuộc lãnh thổ Việt Nam và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong tình hình mới; cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ cảnh báo sớm và ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân, phòng thủ dân sự và bảo đảm an ninh hạt nhân; quản lý và chia sẻ cơ sở dữ liệu quan trắc phóng xạ môi trường trên nền tảng số quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, giám sát ảnh hưởng của các cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân trong và ngoài lãnh thổ có thể tác động đến Việt Nam, tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường.
Mạng lưới được tổ chức thống nhất trong phạm vi cả nước
Theo Quyết định, mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia được tổ chức thống nhất trong phạm vi cả nước, bao gồm: Trung tâm điều hành quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường (Trung tâm điều hành); Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp vùng (Trạm vùng); Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp tỉnh (Trạm địa phương); Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp cơ sở (Trạm cơ sở); Hệ thống trinh sát, giám sát, quan trắc, cảnh báo phóng xạ môi trường trong Quân đội (Hệ thống quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường trong Quân đội).
Mạng lưới hoạt động theo nguyên tắc liên thông và chia sẻ
Mạng lưới hoạt động theo nguyên tắc phối hợp, liên thông và chia sẻ thông tin, dữ liệu; bảo đảm thống nhất, đồng bộ và hiệu quả; tuân thủ quy định của pháp luật về quan trắc môi trường, an toàn bức xạ và hạt nhân, đầu tư, đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan.
Các hệ thống, trạm quan trắc thuộc các bộ, ngành, địa phương tham gia Mạng lưới theo chức năng, nhiệm vụ được giao; được kiện toàn trên cơ sở các đơn vị hiện có, thông qua việc bổ sung chức năng, nhiệm vụ phù hợp, không làm phát sinh tổ chức mới.
Việc xác định vị trí lắp đặt các trạm tại các tỉnh biên giới phải bảo đảm khả năng quan trắc, phát hiện và cảnh báo sớm các sự cố phóng xạ môi trường xuyên biên giới.
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối của Mạng lưới
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối của Mạng lưới, có trách nhiệm chủ trì điều phối hoạt động chung; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Mạng lưới; tổng hợp, báo cáo tình hình triển khai theo quy định; định kỳ, đột xuất trao đổi thông tin, số liệu quan trắc cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phục vụ công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường.
Chủ trì, đề xuất phương án dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Bộ, cơ quan trung ương và địa phương (bao gồm kinh phí cho mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia), gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố giai đoạn 2026-2030.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 22/4/2026 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026-2030, chuẩn bị cho đánh giá đa phương lần 3 của Nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) đối với Việt Nam (Kế hoạch).
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam đối với các tổ chức quốc tế về việc xây dựng cơ chế phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt có hiệu quả ở Việt Nam và thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam trong Nhóm châu Á Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG).
Bảo vệ tốt nhất lợi ích của quốc gia, tổ chức và cá nhân cũng như góp phần phòng chống tội phạm tham nhũng, rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; tăng cường sự ổn định của các tổ chức tài chính, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Chuẩn bị sẵn sàng cho vòng đánh giá đa phương của APG đối với Việt Nam về phòng, chống rửa tiền
Khẳng định lập trường và cam kết phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt nhằm phấn đấu vì nền hòa bình, ổn định, phát triển và hội nhập; nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và đảm bảo việc triển khai công tác phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bao gồm 40 Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF).
Đáp ứng được các yêu cầu của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia, công nhận.
Chuẩn bị sẵn sàng cho vòng đánh giá đa phương về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt lần thứ ba của APG đối với Việt Nam diễn ra vào năm 2028.
Giải quyết các thiếu hụt liên quan đến khuôn khổ pháp lý về phòng, chống rửa tiền, chống khủng bố, tài trợ khủng bố
Nội dung của Kế hoạch gồm 2 phần chính là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các hành động nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Về nội dung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, Kế hoạch yêu cầu:
Thực hiện các hành động để giải quyết các thiếu hụt liên quan đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về: hình sự hóa hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; cơ chế tịch thu tài sản và các biện pháp phòng ngừa; tương trợ tư pháp về hình sự.
Thực hiện các hành động để giải quyết các thiếu hụt liên quan đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, chống khủng bố, tài trợ khủng bố, bao gồm: giải quyết các thiếu hụt liên quan đến các khuyến nghị của FATF đã được chỉ ra sau đánh giá đa phương của APG và khi Việt Nam nằm trong Danh sách Xám của FATF; các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu theo yêu cầu tại các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; các biện pháp phòng ngừa áp dụng đối với các tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan.
Thực hiện các hành động liên quan đến khuôn khổ pháp lý để giải quyết các khuyến nghị thuộc bộ chuẩn mực của FATF về quy định cấp phép; giám sát và các chế tài xử phạt đối với các tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan và các tổ chức phi lợi nhuận.
Thực hiện hành động liên quan đến khuôn khổ pháp lý để giải quyết thiếu hụt tại khuyến nghị về minh bạch pháp nhân và thỏa thuận pháp lý thuộc bộ chuẩn mực của FATF.
Thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố
Về các hành động nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Kế hoạch yêu cầu:
Đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro.
Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố thông qua việc cung cấp các thông tin và hỗ trợ kịp thời, phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả phòng chống tội phạm và xử lý tài sản có nguồn gốc phạm tội.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tài chính, tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản ảo trong việc tuân thủ quy định pháp luật về phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan trong việc tuân thủ quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố.
Đảm bảo pháp nhân và thỏa thuận pháp lý không bị lợi dụng vào hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố, thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của các pháp nhân và thỏa thuận pháp lý luôn sẵn sàng phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Thực hiện các hành động để đảm bảo thông tin tình báo tài chính và các thông tin khác được các cơ quan có thẩm quyền tiếp cận, trao đổi, sử dụng an toàn, hiệu quả nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tài trợ khủng bố và các tội phạm nguồn.
Đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tài trợ khủng bố
Đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tài trợ khủng bố (đặc biệt đối với tội phạm nguồn có rủi ro cao) và áp dụng các hình phạt nghiêm khắc, mang tính răn đe.
Thực hiện các hành động để tăng cường hiệu quả công tác thu hồi tiền, tài sản do phạm tội mà có, tập trung vào các loại tội phạm nguồn và lĩnh vực có rủi ro rửa tiền cao.
Thực hiện các hành động nhằm bảo đảm các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố được điều tra, truy tố và xét xử hiệu quả; các tổ chức, cá nhân khủng bố, tài trợ khủng bố bị áp dụng các chế tài xử phạt tương xứng, có tính răn đe.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào các tổ chức có rủi ro tài trợ khủng bố cao; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo để nâng cao nhận thức và năng lực áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro cho khu vực này.
Thực hiện không chậm trễ các hành động để ngăn chặn việc huy động, dịch chuyển và sử dụng tiền, tài sản nhằm tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, đảm bảo các biện pháp xử lý được triển khai phù hợp, có tính răn đe, tăng cường cơ chế phối hợp.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm Trưởng Ban Chỉ đạo.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 730/QĐ-TTg ngày 24/4/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 (Ban Chỉ đạo).
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm Trưởng Ban Chỉ đạo.
Các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc (Phó Trưởng Ban Thường trực); Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phan Văn Giang; Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng; Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng; Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu; Bộ trưởng Bộ Công an Đại tướng Lương Tam Quang; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình.
Các Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn; Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn; Thứ trưởng Bộ Công an Thượng tướng Nguyễn Văn Long; Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hồi; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú.
Chức năng và nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều phối xử lý những công việc quan trọng, liên ngành trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chiến lược, cơ chế chính sách, các nhiệm vụ, giải pháp quy mô quốc gia về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển Đề án 06 và cải cách hành chính.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ nghiên cứu, tư vấn, khuyến nghị, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành trong thực hiện các chủ trương, chiến lược, cơ chế, chính sách thuộc chức năng của Ban Chỉ đạo. Cho ý kiến về các chiến lược, chương trình, cơ chế, chính sách, đề án, dự án liên quan đến chức năng của Ban Chỉ đạo thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thuộc chức năng của Ban Chỉ đạo; điều phối việc thực hiện các chiến lược, chương trình, cơ chế, chính sách, đề án, dự án, giải pháp có tính chất liên ngành thuộc chức năng của Ban Chỉ đạo; điều phối chung việc triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo và đề xuất điều chỉnh, bổ sung khi cần thiết trong triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển Đề án 06 và cải cách hành chính và thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo.
Kiện toàn 03 Tổ Công tác
Thủ tướng kiện toàn 03 Tổ Công tác gồm:
- Kiện toàn Tổ Công tác triển khai Đề án 06; cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với Đề án 06 (đôn đốc các nhiệm vụ liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với Đề án 06), do Bộ trưởng Bộ Công an Đại tướng Lương Tam Quang làm Tổ trưởng.
- Kiện toàn Tổ Công tác về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (trừ đôn đốc các nhiệm vụ liên quan đến chuyển đổi số gắn với Đề án 06), do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân làm Tổ trưởng.
- Kiện toàn Tổ Công tác cải cách hành chính (trừ đôn đốc các nhiệm vụ liên quan đến cải cách thủ tục hành chính gắn với Đề án 06), do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình làm Tổ trưởng.
Bộ Công an làm nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo
Bộ Công an làm nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo; sử dụng bộ máy hiện có để thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm không tăng biên chế; có trách nhiệm điều phối, đôn đốc, tiếp nhận báo cáo, phối hợp với các Tổ Công tác, Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo tham mưu phục vụ hoạt động và các phiên họp của Ban Chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; trình Trưởng Ban Chỉ đạo phê duyệt Kế hoạch hoạt động hằng năm, cập nhật, sửa đổi, bổ sung Quy chế tổ chức và hoạt động; kiện toàn thành viên của Ban Chỉ đạo.
Thành lập Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo
Tại Quyết định số 733/QĐ-TTg ngày 24/4/2026, Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổ Giúp việc của Ban Chỉ đạo.
Theo Quyết định trên, Thứ trưởng Bộ Công an Thượng tướng Nguyễn Văn Long làm Tổ trưởng.
Tổ Giúp việc có chức năng tham mưu, giúp việc trực tiếp cho Trưởng Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo trong công tác kiểm tra, đánh giá, theo dõi, giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ; phát hiện khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn, nhiệm vụ chậm tiến độ hoặc phối hợp chưa hiệu quả để tham mưu, kiến nghị giải pháp tháo gỡ.
Tổ Giúp việc không làm thay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành, địa phương; tập trung vào công tác tổng hợp, theo dõi, kiểm tra, giám sát, tham mưu điều phối và đề xuất giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn liên ngành, liên lĩnh vực.

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 209/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Thông báo, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 đã được Quốc hội khóa XV phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025, đây là Chương trình có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo và một số Bộ, cơ quan liên quan đã tích cực, kịp thời trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện Chương trình. Các địa phương đã ban hành các văn bản cụ thể hóa quy định, hướng dẫn của trung ương; rà soát, đánh giá hiện trạng trên địa bàn để xác định mục tiêu, nhiệm vụ và khả năng cân đối, bố trí, huy động các nguồn lực; xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chương trình vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Tiến độ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia vẫn còn chậm, một số văn bản quy định, hướng dẫn thuộc trách nhiệm của các bộ, cơ quan còn chưa hoàn thành; tiến độ giải ngân nguồn vốn năm 2025 kéo dài sang năm 2026 còn rất chậm, trong khi khối lượng công việc chuyển tiếp lớn; sự phối hợp giữa các Bộ, ngành chưa thực sự quyết liệt và đồng bộ, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và kế hoạch tổ chức thực hiện ở địa phương.
Bảo đảm Chương trình mục tiêu quốc gia thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả rõ rệt
Phó Thủ tướng khẳng định: Việc triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, miền núi, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ được giao, bảo đảm Chương trình mục tiêu quốc gia thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả rõ rệt.
Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các Bộ, ngành, địa phương phải chủ động chỉ đạo, kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm được phân công, kịp thời đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền chỉ đạo xử lý đối với các vấn đề vượt thẩm quyền; tiếp tục rà soát, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; cắt giảm, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính trong triển khai thực hiện Chương trình đi đôi với tăng cường giám sát, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong thời gian tới, đề nghị các bộ, cơ quan, nâng cao trách nhiệm, thường xuyên theo dõi, bám sát tình hình để nâng cao hiệu quả Chương trình theo các cơ chế, chính sách đã ban hành, đảm bảo tiến độ và kết quả thực hiện.
Xây dựng Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại
Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ: Dân tộc và Tôn giáo, Nội vụ và cơ quan liên quan khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương trong tháng 4 năm 2026, đồng thời hướng dẫn các địa phương thành lập Ban Chỉ đạo các cấp theo quy định.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề phát sinh; hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình; chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý các vấn đề phát sinh.
Chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan xây dựng Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 trong quý II năm 2026; ưu tiên giành nguồn lực tối đa cho địa phương, bảo đảm cân đối đủ nguồn vốn chi thường xuyên cho các Bộ ngành, trong đó xác định rõ các nhiệm vụ, danh mục ưu tiên, tập trung giải quyết dứt điểm các nhu cầu thiết yếu của người dân (đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục), đặc biệt là nước sinh hoạt và điện ngay trong năm 2026 và năm 2027, ưu tiên tối đa cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tránh đầu tư dàn trải, không lựa chọn các hạng mục dễ làm nhưng không đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân.
Các Bộ, cơ quan: Xây dựng; Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Tư pháp, Quốc phòng; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và cơ quan liên quan khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện tiêu chí thuộc ngành mình trong tháng 4 năm 2026 và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Chương trình trong tháng 5 năm 2026.
Kịp thời tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, không để xảy ra tình trạng vốn tồn đọng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giao, Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao tiếp tục hướng dẫn (nếu cần thiết) và đôn đốc các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương tập trung giải ngân dứt điểm nguồn vốn giai đoạn 2021-2025 chuyển sang năm 2026 (nhất là đối với trường hợp không còn nhiệm vụ chi); kịp thời tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, không để xảy ra tình trạng vốn tồn đọng hoặc bị thu hồi, ảnh hưởng đến các địa phương khó khăn.
Các Bộ, cơ quan có liên quan, địa phương sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước được quyết định điều chỉnh kinh phí, vốn từ các nội dung, hoạt động khác bảo đảm không vượt quá tổng mức, không làm thay đổi cơ cấu chi đầu tư, chi thường xuyên đã được cấp có thẩm quyền được giao, trường hợp không còn nhiệm vụ chi hoặc còn nhiệm vụ chi nhưng không thực hiện được, được sử dụng kinh phí, vốn còn lại để thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, dự án đầu tư thuộc Chương trình.
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan khẩn trương xử lý việc phân bổ nguồn vốn ngân sách trung ương năm 2026 để thực hiện Chương trình; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư quy định quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp nguồn ngân sách nhà nước của Chương trình trong tháng 5 năm 2026.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì triển khai nhiệm vụ xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện Chương trình theo nhiệm vụ đã được giao tại Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2025 và Nghị định số 358/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ.
Ưu tiên nguồn lực cho các vùng đặc thù
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động triển khai thực hiện theo cơ chế chính sách đã được ban hành, nếu có khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Thực hiện, phân bổ giải ngân vốn ngân sách trung ương và vốn đối ứng địa phương cho từng dự án, tiểu dự án thành phần, đảm bảo đúng đối tượng và định mức theo Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15 tháng 4 năm 2026; Ưu tiên nguồn lực cho các vùng đặc thù, tập trung chỉ đạo phân bổ vốn mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, đảm bảo đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải để phát huy hiệu quả. Hoàn thiện kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch năm 2026 của địa phương; tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân 100% nguồn vốn ngân sách trung ương năm 2025 được kéo dài sang năm 2026 và tăng cường huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách; xác định rõ mục tiêu, tạo đột phá trong phát triển nông thôn, miền núi, nhất là thúc đẩy chuyển đổi số, gắn với phát triển du lịch, qua đó nâng cao đời sống người dân. Khẩn trương rà soát, xử lý các nội dung, nhiệm vụ, dự án còn dở dang và rà soát các nhiệm vụ không còn đối tượng, không còn nhu cầu sử dụng ngân sách của 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026 để điều chỉnh sang thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, dự án của Chương trình theo đúng thẩm quyền, đúng quy định.
Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá rà soát định kỳ, rà soát kỹ quy trình thực hiện, đảm bảo việc sử dụng vốn công khai và đúng mục tiêu; lấy kết quả đầu ra, tiến độ thực hiện, tỷ lệ giải ngân, hiệu quả sử dụng vốn và mức độ cải thiện đời sống người dân làm căn cứ đánh giá chủ yếu trong năm 2026, làm cơ sở cho việc chỉ đạo, điều hành trong các năm tiếp theo.

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 207/TB-VPCP ngày 23/4/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về triển khai hoạt động của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Tại cuộc họp về triển khai hoạt động của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), sau khi nghe ý kiến của các bộ, cơ quan liên quan, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu kết luận như sau:
Tổng rà soát hệ thống VBQPPL là nhiệm vụ rất quan trọng, mang tính chiến lược nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, khắc phục triệt để các điểm nghẽn, các quy định không rõ ràng làm phát sinh chi phí xã hội, tạo cơ sở thực hiện tái cấu trúc hệ thống pháp luật, khơi thông nguồn lực, phấn đấu tăng trưởng "hai con số", nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp tại cuộc họp.
Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện nhiệm vụ và rà soát VBQPPL
Để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của nhiệm vụ tổng rà soát VBQPPL theo Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống VBQPPL ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL và Công điện số 32/CĐ-TTg ngày 19/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Nghiêm túc quán triệt chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội - Trưởng Ban Chỉ đạo và Thủ tướng Chính phủ về tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trong đó đặc biệt lưu ý gắn trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và kết quả rà soát VBQPPL của các Bộ, ngành và địa phương.
Báo cáo kết quả rà soát VBQPPL gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp phải làm rõ kết quả thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với lĩnh vực mà Bộ, ngành được giao phụ trách và đề ra các đề xuất, kiến nghị cụ thể; trong đó thể hiện các yêu cầu của báo cáo chuyên đề theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Trường hợp sau rà soát, nếu còn phát hiện vướng mắc, chồng chéo trong quy định của pháp luật hay các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết, người đứng đầu các Bộ, ngành và địa phương chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Huy động cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, các chuyên gia tham gia vào quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; chủ động tổ chức khảo sát, lấy ý kiến đánh giá, phản biện về kết quả rà soát VBQPPL với các đối tượng chịu sự tác động, các cơ quan tổ chức thi hành pháp luật; khảo sát, làm việc tại một số địa phương, doanh nghiệp để có cơ sở đánh giá kết quả rà soát phù hợp với thực tiễn khách quan; đa dạng hóa phương thức lấy ý kiến, trong đó chú trọng việc lấy ý kiến qua Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Tiếp tục phát huy các phương thức rà soát VBQPPL, đánh giá, phát hiện khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong quy định pháp luật đang được thực hiện có hiệu quả; thực hiện quản lý thông tin, tài liệu, kết quả rà soát cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo đúng quy định, bảo đảm không phát sinh vấn đề nhạy cảm, phức tạp.
Thẩm định, đánh giá độc lập đối với báo cáo kết quả rà soát của các Bộ, ngành, địa phương
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp tiếp tục phát huy có hiệu quả vai trò của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, trong đó lưu ý một số nội dung sau:
Thường xuyên theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện tổng rà soát, đặc biệt đối với các trường hợp chậm, muộn thực hiện nhiệm vụ, không bám sát tiến độ theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo và Công điện của Thủ tướng Chính phủ; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.
Thực hiện thẩm định, đánh giá độc lập đối với báo cáo kết quả rà soát của các Bộ, ngành và địa phương; nghiên cứu thành lập các nhóm chuyên môn trong từng lĩnh vực với sự tham gia của các Bộ, ngành có liên quan (Bộ Công an, Bộ Nội vụ,…) và các chuyên gia về pháp lý, kiểm soát thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh,… khi thực hiện thẩm định, đánh giá.
Tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế phù hợp với yêu cầu công việc, chỉ tổ chức đoàn khảo sát ở nước ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết. Trường hợp tổ chức đoàn khảo sát, lựa chọn các nước có hệ thống pháp luật tương đồng với Việt Nam, ưu tiên sự tham gia của cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, có báo cáo kết quả, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật thực chất, hữu ích cho công tác rà soát hệ thống pháp luật, bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ.
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng kế hoạch truyền thông về tổng rà soát hệ thống VBQPPL để nâng cao hiểu biết về ý nghĩa, tầm quan trọng, huy động nguồn lực từ xã hội cho nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
Triển khai ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) thực hiện rà soát VBQPPL
Bộ Tài chính khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan bổ sung dự toán ngân sách cho công tác tổng rà soát hệ thống VBQPPL, bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ; hướng dẫn cụ thể để các Bộ, ngành, địa phương dễ hiểu, dễ áp dụng, xây dựng định mức rõ ràng đối với từng nhiệm vụ cụ thể.
Các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao khẩn trương thực hiện nhiệm vụ đã được giao trong Kế hoạch của Ban Chỉ đạo và Công điện của Thủ tướng Chính phủ về tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung triển khai ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) thực hiện rà soát VBQPPL, bảo đảm hỗ trợ hiệu quả cho cán bộ, công chức thực hiện rà soát VBQPPL ngay từ bước đầu.
Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ tổng hợp các kiến nghị về chính sách, vướng mắc trong hệ thống pháp luật qua thực tiễn công tác thanh tra, kiểm toán, gửi các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để nghiên cứu rà soát, tổng hợp.
Phó Thủ tướng đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội có ý kiến góp ý đối với kết quả rà soát của các bộ, ngành, địa phương để hoàn thiện Báo cáo kết quả rà soát VBQPPL, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định./.