In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2026.

25/07/2026 22:00
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2026- Ảnh 1.

Trụ sở Bộ Dân tộc và Tôn giáo

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 297/2026/NĐ-CP ngày 24/7/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Công tác dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.

Nhiệm vụ và quyền hạn

Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.

Trong đó, trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định, nghị quyết của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Trình Chính phủ để trình Quốc hội ban hành các chính sách dân tộc; chính sách tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ.

Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, chương trình mục tiêu quốc gia và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ hoặc theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Về công tác dân tộc, trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, xã an toàn khu; các chính sách đầu tư, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; các chính sách, dự án hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; các chính sách, dự án bảo tồn và phát triển đối với các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người, các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù.

Trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; ban hành chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút, tăng cường cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc; chính sách để đồng bào dân tộc thực hiện quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa của dân tộc mình; chính sách đầu tư, phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo đáp ứng công tác giáo dục, đào tạo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, danh mục phân định các tỉnh, xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển; tiêu chí xác định các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù.

Phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan trong việc lập kế hoạch phân bổ nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và các nguồn lực khác cho các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đề xuất và tham gia thẩm định các chương trình, dự án, đề án, chính sách liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của pháp luật.

Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp tỉnh, cấp xã; tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa đại biểu dân tộc thiểu số, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và các sự kiện khác liên quan đến công tác dân tộc nhằm tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

Thực hiện nhiệm vụ quản lý đối với các trường chuyên biệt và cơ sở giáo dục khác khi được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.

Điều tra, khảo sát, nghiên cứu, tổng hợp về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc, thành phần dân tộc, tên gọi, phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và những vấn đề khác về dân tộc.

Về tín ngưỡng, tôn giáo, tổ chức triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.

Làm đầu mối liên hệ với các tổ chức tôn giáo trong nước và quốc tế, đối ngoại tôn giáo và đấu tranh nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo; thúc đẩy tăng cường khối đại đoàn kết trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam.

Hướng dẫn các cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức, cá nhân tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức có liên quan thông tin, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Quản lý về xuất bản các ấn phẩm, sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hoá phẩm thuần tuý tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động;...

Cơ cấu tổ chức

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Dân tộc và Tôn giáo có các đơn vị: 1. Vụ Kế hoạch - Tài chính; 2. Vụ Tổ chức cán bộ; 3. Vụ Pháp chế; 4. Vụ Hợp tác quốc tế; 5. Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo; 6. Văn phòng; 7. Ban Tôn giáo Chính phủ; 8. Cục Chiến lược và Chính sách dân tộc; 9. Trung tâm Chuyển đổi số; 10. Học viện Dân tộc và Tôn giáo; 11. Báo VietNamnet; 12. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo.

Các đơn vị quy định 1 đến 8 nêu trên là tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện chức năng quản lý nhà nước và công tác quản trị nội bộ; các đơn vị quy định từ 9 đến 12 nêu trên là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ (trong đó quy định Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo có 02 bộ phận đóng trụ sở tại tỉnh Đắk Lắk và thành phố Cần Thơ); trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các đơn vị sự nghiệp công lập khác trực thuộc bộ theo quy định.

Về điều khoản chuyển tiếp, Nghị định nêu rõ, Vụ Chính sách, Học viện Dân tộc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật cho đến khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Chiến lược và Chính sách dân tộc, Học viện Dân tộc và Tôn giáo có hiệu lực thi hành.

Các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế

Chính phủ vừa có Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP ngày 24/7/2026 ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế.

Nghị quyết này sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi, thông tin nhận biết khách hàng, xác minh thông tin nhận biết khách hàng, minh bạch thông tin của thỏa thuận pháp lý, tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro, tần suất cập nhật thông tin nhận biết khách hàng.

Bổ sung đối tượng báo cáo thu thập các thông tin khác trong một số trường hợp cụ thể

Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 10 Luật Phòng, chống rửa tiền như sau:

4. Ngoài các thông tin nhận biết khách hàng quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, đối tượng báo cáo thu thập các thông tin khác trong một số trường hợp cụ thể sau:

a) Khi khách hàng tham gia thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác, đối tượng báo cáo thu thập các thông tin gồm: tên giao dịch đầy đủ và viết tắt (đối với tổ chức nhận ủy thác) hoặc tên người nhận ủy thác (đối với cá nhân nhận ủy thác); địa chỉ trụ sở chính đối với tổ chức nhận ủy thác, địa chỉ quốc tịch đối với cá nhân nhận ủy thác; thông tin đăng ký/cấp phép do cơ quan thẩm quyền nước ngoài cấp đối với bên nhận ủy thác (nếu có); cơ cấu của ủy thác; thông tin về tên, số định danh của bên ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có), bất kỳ cá nhân nào có quyền kiểm soát cuối cùng đối với ủy thác, và người có liên quan khác (nếu có).

Khi khách hàng tham gia thỏa thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy thác, đối tượng báo cáo thu thập thông tin đối với tất cả các bên giữ vai trò tương đương với hình thức ủy thác nêu trên;

b) Đối tượng báo cáo xác định và thu thập thông tin về người thụ hưởng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ngay khi người thụ hưởng được chỉ định bởi bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm.

Trong trường hợp người thụ hưởng là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý, thông tin thu thập bao gồm họ và tên hoặc tên giao dịch đầy đủ của người thụ hưởng.

Trong trường hợp bảo hiểm nhóm, thông tin thu thập gồm giấy tờ tùy thân, tài liệu chứng minh quan hệ với người được bảo hiểm của người thụ hưởng và các tài liệu cần thiết khác cho phép đối tượng báo cáo có thể xác định được người thụ hưởng ở thời điểm chi trả.

Việc xác minh thông tin về người thụ hưởng phải được thực hiện tại thời điểm chi trả.

Sửa quy định minh bạch thông tin của thỏa thuận pháp lý

Nghị quyết cũng sửa đổi, bổ sung Điều 22 Luật Phòng, chống rửa tiền như sau:

Điều 22. Minh bạch thông tin của thỏa thuận pháp lý

1. Bên nhận ủy thác trong thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác có trách nhiệm thu thập, cập nhật các thông tin nhận dạng về bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có), bất kỳ cá nhân nào có quyền kiểm soát cuối cùng đối với ủy thác (nếu có).

Trường hợp các bên có liên quan trong thoả thuận pháp lý nêu trên là pháp nhân hoặc thoả thuận pháp lý, thông tin thu thập, cập nhật bao gồm các thông tin cơ bản và thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thoả thuận pháp lý đó.

2. Bên giữ vai trò tương đương với vai trò bên nhận ủy thác trong thoả thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy thác có trách nhiệm thu thập, cập nhật các thông tin nhận dạng đối với các bên giữ vai trò tương đương như đối với hình thức uỷ thác nêu tại khoản 1 Điều này.

Trường hợp các bên có liên quan trong thoả thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy thác là pháp nhân hoặc thoả thuận pháp lý, thông tin thu thập, cập nhật bao gồm các thông tin cơ bản và thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thoả thuận pháp lý đó.

3. Ngoài các thông tin thu thập tại khoản 1 và 2 Điều này, bên nhận ủy thác hoặc bên giữ vai trò tương đương với vai trò bên nhận ủy thác có trách nhiệm thu thập thông tin cơ bản về các đại lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ được quản lý khác của thỏa thuận pháp lý (nếu có).

4. Các thông tin quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này phải được lưu trữ ít nhất 05 năm kể từ thời điểm bên nhận ủy thác hoặc bên giữ vai trò tương đương với vai trò bên nhận ủy thác ngừng tham gia vào hoạt động thoả thuận pháp lý.

5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cơ quan nhà nước có thầm quyền trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền, thực hiện điều tra, truy tố, xét xử có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Sửa quy định tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi

Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 19/2023/NĐ-CP ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền như sau:

Điều 7. Tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi

1. Chủ sở hữu hưởng lợi đối với khách hàng là cá nhân được xác định như sau:

a) Trường hợp khách hàng mở tài khoản, đối tượng báo cáo xác định một hoặc nhiều cá nhân sở hữu cuối cùng trên thực tế tài khoản hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế hoạt động của tài khoản đó;

b) Trường hợp khách hàng thiết lập mối quan hệ hoặc thực hiện giao dịch với đối tượng báo cáo, đối tượng báo cáo xác định một hoặc nhiều cá nhân cuối cùng trên thực tế kiểm soát mối quan hệ, giao dịch đó.

2. Chủ sở hữu hưởng lợi đối với khách hàng là tổ chức được xác định như sau:

a) Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng.

Cá nhân sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng thông qua tổ chức hoặc thỏa thuận pháp lý khác. Đối tượng báo cáo phải rà soát từng tầng trong cấu trúc sở hữu của khách hàng để xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Trường hợp nhóm cá nhân có liên quan đến nhau thông qua mối quan hệ nhân thân hoặc hợp đồng có tổng sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng, đối tượng báo cáo xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của khách hàng.

b) Khi không có cá nhân hoặc nhóm cá nhân nào được xác định theo tiêu chí tại điểm a khoản 2 Điều này hoặc khi có nghi ngờ các cá nhân đã được xác định theo tiêu chí tại điểm a khoản 2 Điều này không phải là Chủ sở hữu hưởng lợi của khách hàng, đối tượng báo cáo xác định cá nhân kiểm soát khách hàng thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thực hiện thông qua một hoặc nhiều quyền như: Bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc,Tổng giám đốc, các cơ quan quản trị, điều hành khác của tổ chức; sửa đổi, bổ sung điều lệ của tổ chức; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của tổ chức; tổ chức lại, giải thể tổ chức.

c) Trong trường hợp không có cá nhân, nhóm cá nhân nào được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này, đối tượng báo cáo xác định cá nhân giữ vị trí quản lý cấp cao có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho tổ chức, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong tổ chức.

d) Trường hợp tổ chức là doanh nghiệp đã niêm yết trên các thị trường chứng khoán trong nước và nước ngoài mà đối tượng báo cáo có thể khai thác được thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, đồng thời thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của tổ chức đã được công bố, đối tượng báo cáo xác định chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân được công bố đó.

3. Chủ sở hữu hưởng lợi của khách hàng là quỹ (được thành lập theo pháp luật nước ngoài) bao gồm các cá nhân giữ vai trò: sáng lập viên, thành viên Hội đồng quản lý quỹ, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng và bất kỳ cá nhân nào trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quyền kiểm soát cuối cùng theo pháp luật hoặc trên thực tế đối với quỹ.

Trường hợp một trong các vai trò quy định nêu trên do một tổ chức hoặc thỏa thuận pháp lý nắm giữ thì chủ sở hữu hưởng lợi của tổ chức hoặc thỏa thuận pháp lý đó được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi của quỹ.

Trường hợp người thụ hưởng của quỹ được chỉ định theo tiêu chí hoặc theo nhóm, đối tượng báo cáo xác định các tiêu chí về người hoặc nhóm người thụ hưởng của quỹ để có thể xác định được danh tính của người thụ hưởng tại thời điểm chi trả.

4. Chủ sở hữu hưởng lợi đối với thỏa thuận pháp lý được xác định như sau:

a) Đối với thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác, chủ sở hữu hưởng lợi bao gồm: người ủy thác, người nhận ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có) và bất kỳ cá nhân nào trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền kiểm soát cuối cùng theo pháp luật hoặc trên thực tế đối với ủy thác.

Trường hợp người thụ hưởng của thỏa thuận pháp lý được chỉ định theo tiêu chí hoặc theo nhóm, đối tượng báo cáo xác định các tiêu chí về người hoặc nhóm người thụ hưởng của thỏa thuận pháp lý để có thể xác định được danh tính của người thụ hưởng tại thời điểm chi trả, thời điểm người thụ hưởng có ý định thực hiện các quyền đã được xác lập, thời điểm kết thúc giai đoạn tích lũy hoặc thời điểm bên nhận ủy thác thực hiện quyền tự quyết theo thỏa thuận.

b) Đối với thỏa thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy thác, chủ sở hữu hưởng lợi bao gồm những người giữ vai trò tương đương như đối với hình thức ủy thác nêu tại điểm a khoản 4 Điều này.

c) Trường hợp các bên có liên quan trong thỏa thuận pháp lý là pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý, đối tượng báo cáo phải xác định chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý đó.

5. Chủ sở hữu hưởng lợi đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là cá nhân thực tế thụ hưởng quyền lợi của người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 7 năm 2026 đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2027.

Trường hợp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15; Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2023/NĐ-CP ngày 28 tháng 4 năm 2023 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền và Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2025/TT-NHNN ngày 15 tháng 9 năm 2025 hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền có hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 thì các Điều, khoản của Nghị quyết này có nội dung được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bởi các văn bản nêu trên chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản đó có hiệu lực thi hành.

Trong thời gian các quy định của Nghị quyết này có hiệu lực, nếu quy định trong Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này.

Thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến chủ sở hữu hưởng lợi đã được thu thập, cập nhật, xác minh, lưu trữ hoặc cung cấp theo quy định của pháp luật trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thì tiếp tục có giá trị pháp lý và được sử dụng theo quy định của pháp luật. Việc Nghị quyết này hết hiệu lực không làm phát sinh nghĩa vụ thực hiện lại các công việc đã được thực hiện hợp pháp theo quy định của Nghị quyết này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại cuộc họp về việc điều chỉnh quy hoạch khoáng sản đá vôi, đá sét tại thành phố Hải Phòng

Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 399/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại cuộc họp về việc điều chỉnh quy hoạch khoáng sản đá vôi, đá sét tại thành phố Hải Phòng.

Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình (Dự án) là Dự án quan trọng quốc gia, được Quốc hội quyết nghị về chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 và được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng theo Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ; đồng thời Dự án là một trong các công trình hạ tầng được lựa chọn đưa vào khai thác, vận hành phục vụ Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2027.

Để bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cung cấp cho Dự án triển khai đúng tiến độ, trên cơ sở ý kiến thống nhất của các bộ, cơ quan tại cuộc họp, Phó Thủ tướng yêu cầu: Trên cơ sơ ý kiến đã phát biểu tại cuộc họp, Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, Công ty cổ phần Hạ tầng hàng không Masterise có ý kiến chính thức bằng văn bản về việc điều chỉnh quy hoạch khoáng sản đá vôi, đá sét tại thành phố Hải Phòng; gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 26 tháng 7 năm 2026.

Căn cứ ý kiến bằng văn bản của các cơ quan và căn cứ kết quả điều tra, đánh giá, xác định chất lượng, trữ lượng khoáng sản đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp liên quan thống nhất phương án cụ thể về điều chỉnh quy hoạch khoáng sản đá vôi, đá sét tại thành phố Hải Phòng (hoàn thành trong tháng 7 năm 2026), bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng cho Dự án và không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của Công ty TNHH một thành viên Xi măng Vicem Hoàng Thạch.

Sau khi phương án điều chỉnh quy hoạch đã được thống nhất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương hoàn thiện hồ sơ theo quy định, báo cáo Đảng ủy Chính phủ xem xét về chủ trương Điều chỉnh quy hoạch khoáng sản tại khu vực trên theo trình tự, thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 54 Luật Quy hoạch, để kịp tiến độ cung cấp vật liệu xây dựng cho Dự án; hoàn thành trước ngày 03 tháng 8 năm 2026.

Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng căn cứ quy định của Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được điều chỉnh và nhận được hồ sơ theo quy định giải quyết cấp phép khai thác mỏ trong vòng 7 ngày làm việc./.