Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/7/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/7/2026.

Thủ tướng cùng các Phó Thủ tướng chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng".
Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng"
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 394/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng".
Doanh nghiệp, doanh nhân đóng góp 60% GDP
Thông báo nêu: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp; Bộ Chính trị đã ban hành đồng bộ các Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là những định hướng chiến lược quan trọng, tạo động lực thúc đẩy cả ba khu vực doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân và FDI) phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực, đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Lũy kế đến hết tháng 6 năm 2026, cả nước có trên 01 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng quy mô vốn đăng ký đạt trên 30 triệu tỷ đồng, đóng góp hơn 60% GDP, thu hút trên 17,6 triệu lao động, đóng góp 55% tổng thu ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Những kết quả này là nền tảng quan trọng, tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, cần có những giải pháp đột phá mạnh mẽ hơn, nhất là phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt của các doanh nghiệp, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: (1) Đối với doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng, tiến độ đầu tư còn chậm, liên kết với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế; (2) Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu nhỏ và vừa, năng lực vốn, quản trị, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu còn hạn chế; (3) Đối với doanh nghiệp FDI, liên kết nội địa lỏng lẻo, chuyển giao công nghệ và nội địa hóa chưa cao; (4) Môi trường đầu tư, kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản; một số quy định pháp luật còn chồng chéo, bất cập, trong khi khâu tổ chức thực hiện ở một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự hiệu quả; thị trường vốn, lao động, khoa học, công nghệ phát triển chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp; (5) Một bộ phận doanh nghiệp chưa chủ động tham gia góp ý, phản biện để hoàn thiện thể chế, chính sách; ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm xã hội và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp còn hạn chế.
Mọi chính sách phải hướng tới tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, ổn định
Quan điểm của Thủ tướng Chính phủ là xác định phát triển doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược quốc gia. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, ổn định, minh bạch; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tinh thần cốt lõi của Hội nghị là chuyển mạnh từ nhận diện, tháo gỡ khó khăn sang hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển; từ đối thoại sang hành động quyết liệt; từ cam kết sang kết quả thực chất, cụ thể, có địa chỉ, có thời hạn - tất cả hướng tới hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương hành động với tinh thần "khẩn trương - quyết liệt - hiệu quả - không né tránh - không đùn đẩy". Kết quả cuối cùng phải được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cụ thể thông qua giảm thời gian, chi phí tuân thủ và trên hết là tăng cường lòng tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, thể chế kiến tạo và đóng góp trực tiếp, thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Để hiện thực, cụ thể hóa quan điểm nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và Lãnh đạo doanh nghiệp tập trung thực hiện quyết liệt các nhóm nhiệm vụ sau:
Đối với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương:
(1) Tiếp tục tập trung xây dựng hoàn thiện thể chế làm nền tảng cho kiến tạo phát triển, cải cách thực chất, mạnh mẽ hơn nữa thủ tục hành chính
Tiếp tục chú trọng, coi hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nền tảng cho kiến tạo phát triển thời gian tới. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm chính trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát công tác xây dựng pháp luật. Các Bộ, cơ quan liên quan cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Khẩn trương hoàn thiện các dự án luật, trình Quốc hội tại các kỳ họp trong năm 2026, đặc biệt là Bộ luật Hình sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng chống rửa tiền và Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Phát triển đô thị; các luật về thuế (sửa đổi), Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đấu thầu, Luật Đấu giá…
Chú trọng tính đồng bộ, khả thi và ổn định của hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế và lưu ý một số nội dung sau:
- Trong quá trình xây dựng các dự án luật, cần đồng thời thực hiện nghiêm túc việc xây dựng các dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành, lấy ý kiến rộng rãi, bảo đảm khi luật có hiệu lực thì các văn bản hướng dẫn cũng được ban hành kịp thời, thống nhất, đồng bộ.
- Rà soát, quy định đầy đủ, chặt chẽ các điều khoản chuyển tiếp; trường hợp văn bản hướng dẫn chưa được ban hành kịp thời thì phải thực hiện các thủ tục theo quy định để tiếp tục áp dụng các quy định hiện hành cho đến khi có văn bản thay thế, bảo đảm tính liên tục của chính sách, không tạo khoảng trống pháp lý, không làm phát sinh vướng mắc, gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trong quá trình xử lý các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, các Bộ, ngành không chỉ trả lời riêng cho doanh nghiệp kiến nghị mà cần chủ động cung cấp thông tin về kết quả xử lý đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương để thống nhất cách hiểu và cách thực hiện trên phạm vi cả nước. Đối với những vấn đề có tính chất tương tự, cần kịp thời hướng dẫn, áp dụng thống nhất, tránh phát sinh thủ tục, chi phí.
Khẩn trương rà soát toàn diện các quy định về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, đấu thầu, thuế, hải quan và kiểm tra chuyên ngành để chủ động xử lý ngay các vướng mắc thuộc thẩm quyền; dứt khoát hủy bỏ các quy định chồng chéo, các thủ tục hành chính bất hợp lý, các cách hiểu khác nhau và thái độ né tránh trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành, địa phương và VCCI phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo để rà soát, xử lý.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thực chất, hiệu quả theo các Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các lĩnh vực đủ điều kiện; đẩy nhanh số hóa, liên thông, đồng bộ số liệu, dữ liệu. Người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm cá nhân nếu để hồ sơ quá hạn hoặc phát sinh thủ tục ngoài quy định.
Người đứng đầu các Bộ, ngành liên quan và Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm không chuyển các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính đã cắt giảm vào các tiêu chuẩn, quy chuẩn hoặc quy định khác. VCCI cần chủ động nắm bắt, tổng hợp và phản ánh kịp thời kiến nghị của doanh nghiệp.
(2) Khơi thông các nguồn lực về vốn, đất đai và đầu tư; bảo đảm dòng tiền cho sản xuất kinh doanh.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương liên quan tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7 năm 2026. Thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, tạo điều kiện để huy động vốn thông qua các sản phẩm, công cụ tài chính trên thị trường. Chủ động tuyên truyền, thông tin đến cộng đồng doanh nghiệp nội dung mới của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP để thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Đồng thời, xử lý dứt điểm các dự án chậm triển khai, kéo dài theo đúng quy định của pháp luật, không để đất đai, tài sản và nguồn lực tiếp tục bị lãng phí, với yêu cầu là phải triển khai trên thực tế, xử lý dứt điểm và có kết quả cuối cùng. Đồng thời, kịp thời xử lý việc hoàn thuế, thanh quyết toán vốn đầu tư công và các nghĩa vụ thanh toán của Nhà nước theo quy định, không để doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng với doanh nghiệp và điều hành linh hoạt hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các tổ chức tín dụng. Hoàn thiện Đề án tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7 năm 2026.
(3) Giảm chi phí cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, cắt giảm chi phí logistics, kiểm tra chuyên ngành và các chi phí tuân thủ không cần thiết; thực hiện quản lý rủi ro, không kiểm tra chồng chéo, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu. Việc ban hành chính sách mới phải được đánh giá đầy đủ tác động đến chi phí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; hạn chế tối đa việc phát sinh thêm gánh nặng tuân thủ; Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và VCCI phối hợp thường xuyên đánh giá thực chất việc cắt giảm chi phí tuân thủ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại theo hướng hiệu quả xúc tiến phải được đánh giá bằng số lượng hợp đồng, đơn hàng và thị phần thực tế của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp với Bộ Ngoại giao tăng cường chỉ đạo các Đại sứ, các thương vụ nâng cao hiệu quả công tác này, phải "bám sát" từng thị trường, từng mặt hàng, đánh giá hiệu quả theo kết quả cụ thể.
Tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Thực hiện có hiệu quả Chương trình Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030 đã được phê duyệt; khẩn trương đề xuất Chương trình "Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam", trình cấp có thẩm quyền trong tháng 7 năm 2026.
(4) Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng lực lượng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới. Đặc biệt, xác định và phát huy vai trò của các doanh nghiệp dẫn dắt trong từng ngành, lĩnh vực then chốt trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chuỗi giá trị số và trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, khu vực. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa viện, trường, doanh nghiệp và các bộ ngành, địa phương trong việc giải các bài toán lớn, phát triển công nghệ chiến lược; hoàn thiện Khung kiến trúc tổng thể Quốc gia số đồng bộ, kết nối, liên thông và đẩy mạnh hoàn thiện cơ sở hạ tầng dữ liệu.
Bộ Công an đảm bảo Cổng Dịch vụ công quốc gia và thủ tục hành chính một cửa vận hành thông suốt.
Các Bộ, ngành, địa phương tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình phát triển doanh nghiệp tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp một người; tạo điều kiện để hình thành nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Tập trung hoàn thành đúng tiến độ, hiệu quả Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
(5) Phát huy vai trò của từng khu vực doanh nghiệp, tăng cường liên kết thực chất.
Doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược; đi đầu trong đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng và tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải trở thành doanh nghiệp dẫn dắt thực thụ về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện Phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và đẩy mạnh cổ phần hóa, báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 8 năm 2026 và hoàn thiện, trình phê duyệt Đề án tái cơ cấu SCIC trong tháng 7 năm 2026; Bộ Công Thương xây dựng Đề án tái cấu trúc Tập đoàn Điện lực Việt Nam phù hợp với thị trường điện cạnh tranh, báo cáo cấp có thẩm quyền trong quý III năm 2026.
Doanh nghiệp tư nhân phải trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; được tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội đầu tư, đấu thầu và mua sắm công, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp công nghệ cao cần phát huy vai trò dẫn dắt, đi đầu trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện Dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) (nghiên cứu đổi tên thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) trình Chính phủ trong tháng 7 năm 2026. Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) trong tháng 7 năm 2026.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục nâng cao chất lượng, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, nâng tỷ lệ nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng. Bộ Tài chính khẩn trương trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong tháng 7 năm 2026.
Các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thúc đẩy liên kết thực chất giữa ba khu vực doanh nghiệp; lấy kết quả liên kết và giá trị gia tăng trong nước làm thước đo hiệu quả, làm tiêu chí để có các chính sách khuyến khích và ưu đãi.
(6) Nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện và kỷ luật hành chính
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần tập trung ưu tiên cao nhất cho công tác tổ chức thực thi và nâng cao kỷ luật hành chính. Trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, trước Chính phủ về kết quả và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc chờ hướng dẫn đối với những vấn đề pháp luật đã quy định rõ.
Các Bộ, cơ quan, địa phương phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; phân cấp, phân quyền nhưng phải gắn với đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, đảm bảo việc thực thi thống nhất, đồng bộ, tránh đẩy khó khăn cho doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cần đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng sản phẩm
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp và VCCI:
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, đổi mới sáng tạo; chủ động nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh; tuân thủ nghiêm pháp luật, nâng cao trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng văn hóa kinh doanh; chủ động tham gia các chuỗi liên kết sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế; ưu tiên sử dụng nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ và công nghệ trong nước.
Các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty lớn đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, phát huy vai trò dẫn dắt; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án, chuỗi cung ứng. Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu cơ chế giao trách nhiệm cho các doanh nghiệp nhà nước gắn kết với các doanh nghiệp trong nước, hoàn thành trong quý III năm 2026.
Các doanh nghiệp tư nhân chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao quản trị, chất lượng sản phẩm, năng lực tài chính và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Các tập đoàn tư nhân lớn phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, lan tỏa công nghệ và hệ sinh thái số; chủ động tích cực tham gia giải các bài toán lớn của các Bộ, ngành, địa phương.
Các doanh nghiệp FDI thực hiện tốt các cam kết về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng Việt Nam; chủ động đầu tư hình thành, mở rộng các trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm thiết kế, đổi mới sáng tạo, đào tạo kỹ thuật và quản trị tại Việt Nam...
Quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý
Chính phủ ban hành Nghị định số 289/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 về quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.
Nghị định này quy định thủ tục kiểm soát; kiểm tra, giám sát; cấp Giấy phép đi bờ của thuyền viên, Giấy phép xuống tàu; quản lý, kiểm soát hoạt động liên quan đến an ninh, trật tự của người Việt Nam, người nước ngoài, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền mang cờ quốc tịch nước ngoài và các loại phương tiện khác của Việt Nam, nước ngoài tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý bao gồm cảng Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang (sau đây viết gọn là cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý)…
Trách nhiệm của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng trong công tác quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.
Hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng và xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Đối tượng áp dụng gồm: Cơ quan, tổ chức, cá nhân, tàu thuyền và các loại phương tiện khác của Việt Nam và nước ngoài ra, vào, hoạt động tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.
Nghị định này không áp dụng đối với người sử dụng và được chuyên chở bằng tàu thuyền và các loại phương tiện khác ra, vào, hoạt động tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Thủ tục kiểm soát đối với tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng
Về thủ tục kiểm soát đối với tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng, Nghị định quy định:
Tàu thuyền nhập cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền nhập cảnh khi vào khu vực biên giới biển Việt Nam phải làm thủ tục nhập cảnh tại cửa khẩu cảng đầu tiên nơi tàu thuyền đến.
Tàu thuyền nước ngoài xuất cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền nước ngoài xuất cảnh, trước khi rời khỏi biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam, phải làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu cảng cuối cùng nơi tàu thuyền đi.
Tàu thuyền Việt Nam xuất cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền Việt Nam xuất cảnh, trước khi rời khỏi vùng biển Việt Nam, phải làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu cảng cuối cùng nơi tàu thuyền đi.
Tàu thuyền quá cảnh phải làm thủ tục quá cảnh khi vào khu vực biên giới biển Việt Nam.
Trong thời gian quá cảnh, trên đường hành trình quá cảnh, thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm quản lý thuyền viên, hành khách, hàng hóa trên tàu thuyền, giữ nguyên trạng thái niêm phong và hồ sơ xuất nhập cảnh; không được để người xuống tàu thuyền, rời tàu thuyền, phương tiện cập mạn tàu thuyền và thực hiện các hoạt động khác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép, trừ cán bộ, nhân viên, phương tiện của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, hoa tiêu, người làm thủ tục thực hiện nhiệm vụ và nhân viên y tế xuống tàu cấp cứu cho thuyền viên, hành khách.
Tàu thuyền chuyển cảng phải làm thủ tục chuyển cảng đi trước khi rời một cửa khẩu cảng để di chuyển đến một cửa khẩu cảng khác của Việt Nam; thủ tục chuyển cảng đến khi đến một cửa khẩu cảng từ một cửa khẩu cảng khác của Việt Nam.
Thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử
Theo Nghị định, đối tượng áp dụng thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử gồm:
a) Tàu thuyền Việt Nam nhập cảnh, xuất cảnh; tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa;
b) Tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng;
c) Tàu thuyền được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoặc có văn bản cho phép đến cảng, bao gồm: Tàu thuyền nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc tàu thuyền vận chuyển chất phóng xạ; tàu thuyền nước ngoài đến cảng thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể thao, nghề cá, cứu hộ cứu nạn, trục vớt tài sản chìm đắm, lai dắt hỗ trợ, xây dựng, khảo sát và sửa chữa công trình biển; tàu thuyền nước ngoài đến vùng biển Việt Nam thực hiện các hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên và hoạt động về môi trường;
d) Thuyền viên nước ngoài đi trên tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng;
đ) Tàu cá Việt Nam và thuyền viên Việt Nam áp dụng thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công được thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử khi Công an cửa khẩu cảng và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đáp ứng được cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và yêu cầu quản lý nghiệp vụ chuyên ngành.
Thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử được thực hiện thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia theo quy định của pháp luật về cơ chế một cửa quốc gia.
Trường hợp Cổng thông tin một cửa quốc gia có sự cố, người làm thủ tục được thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công quy định tại Điều 6 Nghị định này.
Thực hiện thủ tục kiểm soát thủ công với tàu thuyền xuất nhập cảnh, quá cảnh
Điều 6 Nghị định này quy định thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với: tàu thuyền nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh; tàu thuyền chuyển cảng; tàu thuyền, thuyền viên, hành khách đi trên tàu chở khách du lịch quốc tế; tàu thuyền buồm, tàu thuyền thể thao, du thuyền và người đi trên tàu thuyền buồm, tàu thuyền thể thao, du thuyền; tàu cá Việt Nam, thuyền viên, hành khách đi trên tàu cá Việt Nam đi khai thác thủy sản ở vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam.
Về thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh (*), Nghị định quy định như sau:
a) Địa điểm thực hiện:
Tại trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa hoặc tại tàu theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải;
Ngoài các trường hợp thực hiện thủ tục tại tàu theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải, Công an cửa khẩu cảng thông báo, thống nhất với Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa thực hiện thủ tục kiểm soát tại tàu trong các trường hợp sau: Có người trốn trên tàu; tàu thuyền có dấu hiệu rõ ràng vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; có căn cứ xác định việc khai báo không đầy đủ, không chính xác về thuyền viên, hành khách; có căn cứ xác định thuyền viên, hành khách sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế giả mạo để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh.
b) Thời hạn thực hiện và thành phần hồ sơ: Thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải;
c) Thuyền viên nước ngoài được sử dụng sổ thuyền viên để xuất trình khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh trong trường hợp không có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy tờ trên hết giá trị sử dụng;
d) Khi làm thủ tục xuất cảnh cho tàu thuyền, người làm thủ tục phải nộp lại cho Công an cửa khẩu cảng Giấy phép đi bờ của thuyền viên (nếu có), trừ thuyền viên đi trên tàu thuyền quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
Thủ tục kiểm soát thủ công đối với tàu thuyền, hành khách đi trên tàu chở khách quốc tế
Đối với thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền, thuyền viên, hành khách đi trên tàu chở khách du lịch quốc tế, Nghị định quy định:
a) Thực hiện theo quy định tại (*);
b) Chậm nhất 12 giờ, trước khi tàu đến cảng, doanh nghiệp lữ hành quốc tế đón khách phải nộp cho Công an cửa khẩu cảng các loại giấy tờ sau:
01 bản chính Chương trình du lịch của hành khách;
01 bản sao Giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế (lần đầu tiên đón khách tại cảng);
01 bản chính công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, trừ những hành khách mang hộ chiếu đã có thị thực Việt Nam và những hành khách mang hộ chiếu thuộc diện miễn thị thực nhập cảnh Việt Nam (nếu có hành khách đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu cảng);
Trường hợp vì lý do khách quan không đủ thời gian để nộp bản chính, theo văn bản đề nghị của doanh nghiệp lữ hành quốc tế, Công an cửa khẩu cảng cho phép doanh nghiệp lữ hành quốc tế nộp bản fax hoặc bản sao để làm thủ tục cho hành khách; trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nộp bản fax hoặc bản sao, doanh nghiệp lữ hành phải nộp bản chính công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an cho Công an cửa khẩu cảng;
Trường hợp hành khách được doanh nghiệp lữ hành quốc tế làm thủ tục đề nghị cấp thị thực tại một cửa khẩu cảng, nhưng do hành trình của tàu đến cửa khẩu cảng khác, Công an cửa khẩu cảng nơi tàu đến tiếp nhận công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an và thực hiện cấp thị thực cho khách theo quy định, không yêu cầu phải làm thủ tục xin duyệt lại nhân sự.
c) Công an cửa khẩu cảng thực hiện cấp thị thực cho hành khách tại tàu theo quy định của pháp luật về nhập xuất cảnh;
d) Đối với tàu khách quốc tế được cấp giấy phép chở khách du lịch nội địa giữa các cửa khẩu cảng của Việt Nam:
Trước khi tàu đón khách, người làm thủ tục nộp cho Công an cửa khẩu cảng 01 bản sao giấy phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép tàu đón khách du lịch nội địa giữa các cảng của Việt Nam; doanh nghiệp lữ hành nộp cho Công an cửa khẩu cảng 01 bản chính chương trình du lịch của khách du lịch nội địa và 01 bản chính danh sách hành khách;
Hành khách là người nước ngoài du lịch nội địa xuống tàu phải xuất trình cho Công an cửa khẩu cảng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; hành khách là người Việt Nam du lịch nội địa xuống tàu phải xuất trình cho Công an cửa khẩu cảng Giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc thẻ Căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.
Sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
Chính phủ ban hành Nghị định số 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 của Chính phủ và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ.
Trong đó, Nghị định số 291/2026/NĐ-CP bổ sung Mục 3 và Điều 19a vào sau Mục 2 Chương II quy định xử phạt hành vi vi phạm hành chính về cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Cụ thể, Nghị định quy định phạt từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết quá thời hạn từ 05 ngày trở lên.
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp không chính xác, không đầy đủ thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết.
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Không cung cấp thông tin sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn cung cấp thông tin hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết.
- Thông đồng, bao che người nộp thuế nhằm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết.
Song song với các chế tài xử phạt trên, Nghị định còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả, buộc tổ chức, cá nhân vi phạm phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế.
Việc bổ sung chế tài trên nhằm thể chế hóa các khuyến nghị của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin vì mục đích thuế (GF), đảm bảo tính răn đe và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Nghị định số 291/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 21/7/2026./.