Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/6/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/6/2026.

Việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải có sự chứng kiến trực tiếp hoặc trực tuyến của khách hàng.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 239/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 128/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024 của Chính phủ. Sửa đổi, bổ sung quy định về hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại
Cụ thể, Nghị định số 239/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 5 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại. Theo đó, hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại thực hiện theo quy định của Luật Thương mại và các quy định sau:
Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và dùng để khuyến mại không bao gồm rượu, xổ số, thuốc lá, sữa thay thế sữa mẹ, thuốc kê đơn (trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc), dịch vụ khám, chữa bệnh của cơ sở y tế công lập, dịch vụ giáo dục của cơ sở công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hàng hóa, dịch vụ bị cấm lưu hành tại Việt Nam và hàng hóa, dịch vụ bị cấm khuyến mại theo quy định tại Điều 100 Luật Thương mại.
Tiền có thể được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trừ các trường hợp khuyến mại theo quy định tại các Điều 8, Điều 10, Điều 11 Nghị định này.
Việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải có sự chứng kiến trực tiếp hoặc trực tuyến của khách hàng
Đồng thời, Nghị định số 239/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 5 Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi.
Cụ thể, tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, Nghị định số 239/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải có sự chứng kiến trực tiếp hoặc trực tuyến của khách hàng.
Theo Bộ Công Thương, việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP đã không nêu rõ sự chứng kiến của khách hàng là trực tiếp hay gián tiếp nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện.
Thực tế, trong thời điểm dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện việc xác định trúng thưởng với sự chứng kiến gián tiếp (qua các nền tảng trực tuyến), điều này cũng phù hợp với giai đoạn hiện nay khi các doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Bên cạnh đó, Nghị định số 239/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP về cách xác định giải thưởng không có người trúng thưởng. Theo đó, giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi là giải thưởng còn lại tại thời điểm kết thúc thời hạn trao thưởng trừ trường hợp giải thưởng trao quá thời điểm kết thúc thời hạn trao thưởng do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật.
Theo lý giải của Bộ Công Thương, trong thời gian Dịch bệnh COVID-19 bùng phát, nhiều doanh nghiệp trao giải thưởng cho khách hàng trúng thưởng quá thời hạn quy định. Khi áp dụng khoản 5 Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, những giải thưởng trao cho khách hàng trúng thưởng quá thời hạn sẽ là giải thưởng không có người trúng thưởng và doanh nghiệp sẽ phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước cho dù đã trao được giải thưởng cho khách hàng. Đây là một trong những bất cập, khó khăn của doanh nghiệp mặc dù các doanh nghiệp đã cố gắng trao giải thưởng và đảm bảo quyền lợi của khách hàng.
Tổ chức hiệp thương để lựa chọn thương nhân đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại
Ngoài ra, Nghị định số 239/2026/NĐ-CP sửa đổi bổ sung khoản 8, khoản 9 Điều 29 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP về việc tổ chức hiệp thương để lựa chọn thương nhân. Theo đó, trường hợp có từ hai thương nhân, tổ chức hoạt động có liên quan đến thương mại trở lên đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam trùng tên, chủ đề, thời gian, địa bàn, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức hiệp thương để lựa chọn thương nhân, tổ chức hoạt động có liên quan đến thương mại được tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đó.
Trường hợp việc hiệp thương không đạt kết quả, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định xác nhận đăng ký cho một thương nhân hoặc tổ chức hoạt động có liên quan đến thương mại được tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam căn cứ vào các cơ sở sau đây:
a) Kết quả tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tương tự đã thực hiện;
b) Năng lực tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại;
c) Kinh nghiệm tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại cùng tên, cùng chủ đề hoặc các hội chợ, triển lãm thương mại tương tự;
d) Đánh giá của các hiệp hội ngành hàng liên quan.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (26/6/2026).

Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí
Chính phủ ban hành Nghị định số 237/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí.
Trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
Cụ thể, Nghị định quy định cơ quan báo chí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin và các hoạt động báo chí khác phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về trí tuệ nhân tạo và các quy định có liên quan.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm kiểm chứng, rà soát và chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra.
Cơ quan báo chí phải thực hiện thông báo và gắn nhãn rõ ràng, tại vị trí dễ nhận biết đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật; việc thông báo và gắn nhãn được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Cơ quan báo chí không được sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra hoặc lan truyền nội dung giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, hoặc nội dung có khả năng gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Cơ quan báo chí phải thiết lập và duy trì quy trình thẩm định, biên tập, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm cá nhân đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; lưu giữ nhật ký hoạt động và hồ sơ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin sử dụng trí tuệ nhân tạo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, phân tích và phân phối nội dung thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, trên cơ sở bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và trách nhiệm biên tập của cơ quan báo chí.
Điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
Theo đó, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp muốn được cấp phép hoạt động báo chí phải đảm bảo các điều kiện sau:
1. Có đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật số 126/2025/QH15.
2. Thời gian hoạt động và số lượng hội viên: Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thời gian hoạt động ít nhất 03 năm. Số lượng hội viên chính thức tối thiểu là 150.
3. Nhân sự cơ quan báo chí: Có tối thiểu 07 nhân sự, trong đó có ít nhất 03 người được cấp thẻ nhà báo.
4. Điều kiện về cơ sở vật chất: Có trụ sở ổn định từ 02 năm trở lên do cơ quan chủ quản báo chí bố trí hoặc cơ quan chủ quản báo chí thuê đảm bảo điều kiện làm việc cho số lượng nhân sự theo đề án xin phép hoạt động.
Điều kiện thực hiện thêm loại hình báo chí
Đồng thời, Nghị định cũng quy định rõ điều kiện để cơ quan báo chí thực hiện thêm loại hình báo chí.
Theo quy định, cơ quan báo chí có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật số 126/2025/QH15 được xem xét cấp giấy phép thực hiện thêm loại hình báo chí khác.
Điều kiện xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương (trừ phụ trương quảng cáo); mở chuyên trang của báo chí điện tử gồm:
- Có tôn chỉ, mục đích phù hợp với tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; đối tượng phục vụ; nơi đặt máy chủ và đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối (đối với chuyên trang của báo chí điện tử) phù hợp với nội dung giấy phép hoạt động của cơ quan báo chí;
- Có phương án về tổ chức và nhân sự bảo đảm hoạt động của ấn phẩm báo chí, phụ trương, chuyên trang của báo chí điện tử;
- Có tên và hình thức trình bày tên ấn phẩm báo chí, phụ trương; tên và giao diện trang chủ chuyên trang của báo chí điện tử;
- Có giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; đối với chuyên trang của báo chí điện tử phải có tên miền cấp dưới phù hợp với tên miền đã đăng ký.
Nghị định 237/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chính phủ quy định về quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
Quy định về quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 231/2026/NĐ-CP ngày 25/6/2026 quy định về quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
Nghị định này quy định nội dung, biện pháp, kinh phí thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; quản lý, kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế; quản lý, theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (sau đây gọi chung là quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng); trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
Trong đó, thời điểm bắt đầu thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng như sau:
Đối với người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ: Tính từ ngày Công an cấp xã, đơn vị quân đội nhận được quyết định thi hành án của Toà án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Đối với người chấp hành án phạt cấm cư trú, quản chế: Tính từ ngày Công an cấp xã nhận được chứng nhận chấp hành xong án phạt tù của cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc hồ sơ thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
Đối với người chấp hành án phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định: Tính từ ngày Công an cấp xã, đơn vị quân đội nhận được quyết định thi hành án của Toà án (trường hợp hình phạt chính là phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ), chứng nhận chấp hành xong án phạt tù của cơ sở giam giữ phạm nhân (trường hợp hình phạt chính là phạt tù) hoặc hồ sơ thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Đối với người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện: Tính từ ngày Công an cấp xã, đơn vị quân đội nhận được quyết định của Toà án hoặc hồ sơ thi hành quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Thời điểm kết thúc quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng như sau:
Trường hợp người chấp hành án chấp hành xong án phạt: Tính đến ngày chấp hành xong án phạt ghi trong chứng nhận chấp hành xong án phạt do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp.
Người chấp hành án chết: Tính đến ngày người chấp hành án chết ghi trên giấy chứng tử hoặc biên bản, tài liệu khác làm căn cứ xác định người chấp hành án chết.
Trường hợp người chấp hành án phải đi chấp hành án phạt tù theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền: Tính đến ngày đi chấp hành án.
Nội dung, biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng
Nội dung công tác quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng, gồm:
+ Tiếp nhận, quản lý, cập nhập, bổ sung thông tin, tài liệu hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Tiếp nhận người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Lập kế hoạch quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Thực hiện nhận xét, báo cáo việc chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Kiểm điểm người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật.
+ Điểm danh, kiểm diện người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng trong một số trường hợp đặc biệt.
+ Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
Các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng, gồm:
+ Nghiên cứu, khai thác hồ sơ, tài liệu của người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Tổ chức truyền thông, tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật cho người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Gặp, làm việc trực tiếp người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
+ Áp dụng phương tiện kỹ thuật thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.

Bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đo đạc và bản đồ của Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 18/2020/NĐ-СР xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ
Chính phủ ban hành Nghị định 228/2026/NĐ-CP ngày 25/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 18/2020/NĐ-СР ngày 11/02/2020 của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ.
Trong đó, Nghị định bổ sung Điều 14а thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ của bộ, cơ quan ngang bộ; Giám đốc sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của các sở; Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ thành lập thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ:
1. Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ quy định tại Chương II Nghị định này, cụ thể như sau:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 tháng đến 09 tháng;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định này.
2. Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập được giao nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường và Giám đốc các sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của các sở có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ quy định tại Chương II Nghị định này, cụ thể như sau:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 tháng đến 09 tháng;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định này.
4. Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ thành lập thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Nghị định 228/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/8/2026.

Quảng bá hàng Việt tại Hội chợ thực phẩm quốc tế Hong Kong Food Expo 2025
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương
Chính phủ ban hành Nghị định số 230/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2018/NĐ-CP ngày 1/3/2018 quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 14/2024/NĐ-CP ngày 7/2/2024.
Thay đổi quy trình xây dựng đề án thực hiện Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại
Nghị định số 230/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 10 Nghị định số 28/2018/NĐ-CP về quy trình xây dựng đề án thực hiện Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại.
Theo đó, trước ngày 30 tháng 5 của năm trước năm kế hoạch, đơn vị chủ trì thực hiện gửi 01 hồ sơ đề xuất đề án thực hiện Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại đến Bộ Công Thương.
Hồ sơ đề xuất đề án thực hiện Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại của đơn vị chủ trì bao gồm: Văn bản đề xuất đề án thực hiện Chương trình theo Mẫu số 10 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; Đề án chi tiết thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại theo Mẫu số 11 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; Báo cáo tình hình hoạt động xúc tiến thương mại của đơn vị chủ trì trong năm gần nhất.
Đơn vị chủ trì được lựa chọn một trong các cách thức gửi hồ sơ sau: 1- Thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật; 2- Trực tuyến tại cổng dịch vụ công quốc gia.
Nghị định quy định trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Tài chính thông báo dự toán chi ngân sách cho Chương trình, Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định phê duyệt đề án và kinh phí được hỗ trợ theo nguyên tắc tổng kinh phí hỗ trợ để thực hiện các đề án không vượt quá tổng dự toán được giao.
Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định phê duyệt đề án, Bộ Công Thương công bố đến các đơn vị chủ trì, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, đồng thời thông báo về các đề án không được phê duyệt.
Sửa đổi Chương trình xây dựng, phát triển thương hiệu ngành hàng Việt Nam
Nghị định số 230/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 19 Nghị định số 28/2018/NĐ-CP về Chương trình xây dựng, phát triển thương hiệu ngành hàng Việt Nam.
Theo quy định mới, Chương trình xây dựng, phát triển thương hiệu ngành hàng Việt Nam là Chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn của Chính phủ nhằm xây dựng và quảng bá thương hiệu ở cấp quốc gia cho các ngành hàng.
Nội dung Chương trình xây dựng, phát triển thương hiệu ngành hàng Việt Nam bao gồm:
a) Xây dựng mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển thương hiệu ngành hàng theo từng thời kỳ; xây dựng hệ thống tiêu chí, biểu trưng thương hiệu ngành hàng:
a1) Nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển thương hiệu ngành hàng theo từng thời kỳ;
a2) Xây dựng và công bố hệ thống tiêu chí đánh giá, bộ nhận diện và biểu trưng thương hiệu ngành hàng.
b) Hỗ trợ, nâng cao năng lực xây dựng, quản trị và bảo vệ thương hiệu ngành hàng:
b1) Tư vấn, hỗ trợ đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với ngành hàng ở trong nước và nước ngoài;
b2) Đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với ngành hàng ở trong nước và nước ngoài;
b3) Tổ chức đào tạo, tập huấn, phổ biến kiến thức nâng cao năng lực về xây dựng, quản trị và bảo vệ thương hiệu ngành hàng.
c) Hỗ trợ phát triển sản phẩm đáp ứng hệ thống tiêu chí của Chương trình:
c1) Nghiên cứu, đánh giá nhu cầu và khả năng áp dụng các tiêu chí thương hiệu ngành hàng Việt Nam;
c2) Tổ chức đào tạo, tập huấn, tư vấn, phổ biến kiến thức nâng cao năng lực phát triển sản phẩm;
c3) Tổ chức hoạt động kết nối giao thương, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển sản phẩm;
c4) Các hoạt động khác liên quan tới phát triển sản phẩm.
d) Truyền thông, quảng bá thương hiệu ngành hàng ở trong nước và nước ngoài:
d1) Điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường để định hướng cho các hoạt động thông tin, truyền thông;
d2) Thuê các tổ chức, chuyên gia tư vấn ở trong nước và nước ngoài xây dựng, quảng bá thương hiệu ngành hàng Việt Nam;
d3) Xây dựng và phát hành các sản phẩm thông tin; xây dựng và duy trì trang thông tin điện tử đa ngôn ngữ và các phần mềm ứng dụng cho Chương trình thương hiệu ngành hàng Việt Nam;
d4) Truyền thông, quảng bá về thương hiệu ngành hàng Việt Nam tại các sự kiện ngoại giao, kinh tế, thương mại, xúc tiến thương mại - đầu tư - du lịch và trên các phương tiện truyền thông;
d5) Tổ chức hội thảo, hội nghị, diễn đàn, tuần lễ, để truyền thông, quảng bá thương hiệu ngành hàng Việt Nam ở trong nước và nước ngoài;
d6) Hỗ trợ xây dựng khu vực trưng bày, giới thiệu ngành hàng trên môi trường điện tử.
đ) Các hoạt động xúc tiến thương mại quy định tại Điều 3 Nghị định số 28/2018/NĐ-CP.
Đối tượng tham gia và hưởng lợi từ Chương trình là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật hiện hành; ưu tiên hỗ trợ địa phương, tổ chức, hiệp hội ngành hàng có nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước và nước ngoài.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 25/6/2026.

Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn
Chính phủ ban hành Nghị định số 219/2026/NĐ-CP ngày 21/06/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn.
12 hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn
Nghị định này gồm 4 chương, 30 điều quy định các hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực khí tượng thủy văn.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn gồm:
a) Vi phạm quy định về giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn;
b) Vi phạm quy định về hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn;
c) Vi phạm quy định về truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn;
d) Vi phạm quy định về quan trắc khí tượng thủy văn;
đ) Vi phạm quy định về thành lập, di chuyển, giải thể trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng của tổ chức, cá nhân;
e) Vi phạm quy định về cung cấp thông tin, dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn;
g) Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thủy văn;
h) Vi phạm quy định về khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn;
i) Vi phạm quy định về trao đổi thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn, giám sát biến đổi khí hậu với tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài không thuộc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
k) Vi phạm quy định về tác động vào thời tiết;
l) Vi phạm quy định về sử dụng, kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo khí tượng thủy văn;
m) Các hành vi vi phạm khác về khí tượng thủy văn quy định tại Nghị định này.
Hành vi vi phạm hành chính có liên quan đến lĩnh vực khí tượng thủy văn mà không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác có liên quan để xử phạt.
Đối tượng áp dụng bao gồm:
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn gồm:
a) Tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện), hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
b) Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;
c) Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao;
d) Tổ chức nước ngoài tham gia hoạt động khí tượng thủy văn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Các tổ chức khác hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hộ kinh doanh, hộ gia đình thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị xử phạt vi phạm như đối với cá nhân.
Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực khí tượng thủy văn khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan. Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực khí tượng thủy văn thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khí tượng thủy văn mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.
Mức xử phạt vi phạm quy định về truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Về vi phạm quy định về truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn mà không nêu rõ nguồn gốc bản tin.
2. Phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với hành vi truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn không có nguồn gốc.
3. Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi truyền, phát không đầy đủ nội dung bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn.
4. Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn chậm so với thời gian quy định.
5. Phạt tiền từ 30-40 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Không truyền, phát bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn;
b) Gian lận về nguồn gốc bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn khi truyền, phát;
c) Truyền, phát sai lệch bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn;
d) Đưa tin sai lệch về hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và các điểm b, c và d khoản 5 nêu trên.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/8/2026.

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ
Chính phủ ban hành Nghị định số 225/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nghị định quy định rõ, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghiệp công nghệ số; ứng dụng công nghệ thông tin; trí tuệ nhân tạo; giao dịch điện tử; chuyển đổi số quốc gia; quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của bộ theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ, quyền hạn
Theo Nghị định, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
Trình Chính phủ dự án, dự thảo: luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn; công trình, chương trình, dự án, đề án quan trọng quốc gia thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý; các quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
Xây dựng, ban hành kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm; kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm của Bộ Khoa học và Công nghệ; hướng dẫn xây dựng, tổng hợp, kiểm tra kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm của bộ, ngành, địa phương; phê duyệt các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ và theo phân cấp, ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án đã được phê duyệt.
Cấp, cấp lại, công nhận, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, giấy công nhận, giấy đăng ký trong phạm vi quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực của bộ theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ, quyền hạn về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ số và trí tuệ nhân tạo; chuyển đổi số quốc gia; giao dịch điện tử; hợp tác và hội nhập quốc tế.
Xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác mạng bưu chính, viễn thông dùng riêng, mạng Truyền số liệu chuyên dùng phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước.
Quyết định các biện pháp huy động các mạng và dịch vụ, các phương tiện, thiết bị truyền dẫn thông tin phục vụ các trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia, thiên tai, địch họa theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Quản lý, hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các giải thưởng khác trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ theo quy định của pháp luật; tổ chức các giải thưởng và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động thông tin vi phạm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.
Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức tiếp công dân, thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ theo quy định của pháp luật.
Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn phát triển nguồn nhân lực thuộc phạm vi quản lý của bộ; thực hiện dự báo nhu cầu và định hướng phát triển nhân lực thuộc phạm vi quản lý của bộ.
Xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông về cơ chế, chính sách, chương trình, đề án, kế hoạch và các hoạt động về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc phạm vi quản lý của bộ; triển khai các nhiệm vụ nhằm phổ biến tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phạm vi cả nước.
Quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ; giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực quản lý; thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về giá dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật.
Quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hướng dẫn, tổng hợp và đề xuất dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên) của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương theo quy định.
Xây dựng, quản lý, vận hành các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung, hệ thống kiểm tra, giám sát, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ theo quy định của pháp luật.
Quản lý tài chính, tài sản và tổ chức thực hiện ngân sách được giao theo quy định của pháp luật.
Quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách thuộc bộ quản lý theo quy định của pháp luật; quản lý và tổ chức việc thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của bộ theo quy định của pháp luật.
Thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật.
Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và số lượng người lao động theo chế độ hợp đồng lao động của bộ; thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo quy định và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.
Tổ chức thực hiện công tác quản lý về hội, quỹ, tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.
Tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của bộ theo chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức bao gồm 25 đơn vị
Cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ gồm:
1. Vụ Bưu chính.
2. Vụ Đánh giá và Thẩm định công nghệ.
3. Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ.
4. Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên.
5. Vụ Kinh tế số và Xã hội số.
6. Vụ Hợp tác quốc tế.
7. Vụ Kế hoạch - Tài chính.
8. Vụ Pháp chế.
9. Vụ Tổ chức cán bộ.
10. Văn phòng Bộ.
11. Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia.
12. Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.
13. Cục Bưu điện Trung ương.
14. Cục Chuyển đổi số quốc gia.
15. Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo.
16. Cục Đổi mới sáng tạo.
17. Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ.
18. Cục Sở hữu trí tuệ.
19. Cục Tần số vô tuyến điện.
20. Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học.
21. Cục Viễn thông.
22. Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ.
23. Báo VnExpress.
24. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
25. Trung tâm Chuyển đổi số.
Các đơn vị quy định từ khoản 1 đến khoản 21 Điều này là các tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các đơn vị quy định từ khoản 22 đến khoản 25 Điều này là các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của bộ.
Cục An toàn bức xạ và hạt nhân là Cục loại 1. Cục An toàn bức xạ và hạt nhân và Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia được sử dụng con dấu hình Quốc huy.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập khác trực thuộc bộ.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc bộ theo thẩm quyền.
Điều khoản chuyển tiếp
Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (quy định tại Quyết định số 17/2025/QĐ-TTg ngày 16/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ); Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên, Vụ Kinh tế và Xã hội số, Cục Thông tin, Thống kê, Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Trung tâm Công nghệ thông tin (quy định tại Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02/3/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ) tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật cho đến khi Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Trung tâm Chuyển đổi số.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02/3/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
Chính phủ ban hành Nghị định số 229/2026/NĐ-CP ngày 25/6/2026 quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia. Mục tiêu hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Quỹ) hoạt động vì mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, giải quyết hiệu quả bài toán phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô quốc gia, có tính liên ngành, liên vùng thông qua tài trợ, đặt hàng các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia; hình thành trí thức nền; góp phần làm chủ được một số công nghệ lõi, công nghệ cao, công nghệ chiến lược; phát triển đội ngũ nhà khoa học tài năng, nhà khoa học trẻ, nhóm nghiên cứu mạnh; hình thành được một số trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có uy tín trong khu vực và quốc tế.
Định hình mô hình quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ bảo đảm tính độc lập, minh bạch, cạnh tranh theo chuẩn mực quốc tế.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Quỹ
Tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo đảm tuân thủ pháp luật, phù hợp với chiến lược, quy hoạch và định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia; bảo đảm tổ chức tinh gọn, chuyên nghiệp, gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình của tập thể và cá nhân.
Hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ của Quỹ được thực hiện thông qua đánh giá chuyên môn độc lập, bảo đảm tự chủ học thuật, khách quan, công khai, minh bạch và cạnh tranh; tuân thủ liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; bảo đảm không trùng lặp với các nguồn ngân sách khác; phòng ngừa và kiểm soát xung đột lợi ích; áp dụng chuẩn mực quốc tế; gắn với nhu cầu của thị trường, xác định doanh nghiệp là trung tâm.
Kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ được bố trí hằng năm trong dự toán chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên cơ sở chủ trương, kế hoạch của cấp có thẩm quyền dự kiến phát sinh cần bố trí nguồn lực để thực hiện. Việc giao dự toán và cấp kinh phí cho Quỹ được thực hiện theo tổng mức và không gắn với danh mục nhiệm vụ cụ thể tại thời điểm giao dự toán và cấp kinh phí. Ngân sách nhà nước sử dụng cho tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ được bố trí theo nguyên tắc giảm dần tương ứng với mức độ hoàn thiện của kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách.
Quỹ thực hiện quản lý hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, hiệu quả và tác động; bảo đảm hài hòa giữa nghiên cứu có tính kế thừa, rủi ro thấp với nghiên cứu có tính tiên phong, đột phá, rủi ro cao; chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi có kiểm soát; bảo đảm khuyến khích sáng tạo và đổi mới, tôn trọng quy luật khách quan và đặc thù của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; có cơ chế khuyến khích đối với nhà khoa học nữ theo quy định.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các công cụ hỗ trợ trong xây dựng kế hoạch, quản lý, giám sát, đánh giá và công khai việc sử dụng nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Chức năng của Quỹ
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia có chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ và quyền hạn
Nhiệm vụ của Quỹ là tiếp nhận và quản lý các nguồn lực tài chính: Tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước theo thỏa thuận với bên đóng góp (nếu có), quy định về tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ và theo quy chế chi tiêu nội bộ của Quỹ.
Quỹ thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu hoạt động, chức năng của Quỹ, hỗ trợ quản lý nhà nước trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thực hiện chế độ báo cáo, chế độ kế toán theo quy định của pháp luật...
Nghị định quy định quyền hạn của Quỹ là cơ quan quản lý nhiệm vụ để tổ chức triển khai các hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ phù hợp với mục tiêu hoạt động, chức năng của Quỹ, kế hoạch ngân sách được phê duyệt theo quy định pháp luật về việc quản lý các chương trình, nhiệm vụ, hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.
Kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả, tác động việc thực hiện và sử dụng kinh phí của nhiệm vụ khoa học và công nghệ và hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia; đình chỉ hoặc trình cơ quan có thẩm quyền đình chỉ việc tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ, cấp kinh phí hoặc thu hồi kinh phí đã tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ, cấp phát khi phát hiện tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Quỹ và các quy định pháp luật có liên quan.
Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Quỹ tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ; tham gia, thực hiện cơ chế liên kết đồng tài trợ với các quỹ, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác trong việc triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật; cùng với các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác hình thành hệ sinh thái tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông suốt từ trung ương đến địa phương; hợp tác với tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, tổ chức quốc tế liên quan đến các hoạt động của Quỹ.
Nguồn tài chính, nội dung chi của quỹ
Nguồn tài chính của quỹ từ Ngân sách nhà nước và các nguồn ngoài ngân sách nhà nước (gồm: Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp bằng tiền, hiện vật, tài sản hoặc hình thức hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Các khoản thu từ hoạt động hợp tác, liên kết, đồng tài trợ theo thỏa thuận phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quỹ; Lãi tiền gửi, các khoản thu hợp pháp khác theo quy định; Các nguồn ngoài ngân sách nhà nước tiếp nhận bằng tiền được chuyển vào tài khoản của Quỹ tại các ngân hàng thương mại. Quỹ có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, hạch toán, sử dụng đúng mục đích, đối tượng, hiệu quả, đảm bảo công khai, minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật.).
Nội dung chi của Quỹ gồm: Chi tài trợ, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia theo quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 6 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP; Chi hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này; Chi hoạt động quản lý điều hành và hoạt động khác của Quỹ.

Ban hành Kế hoạch triển khai hoạt động hưởng ứng "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" và "Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7" năm 2026
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1154/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai hoạt động hưởng ứng "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" và "Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7" năm 2026 (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của các bộ, ngành, cơ quan, địa phương và toàn dân tham gia phòng, chống mua bán người; cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 của Thủ tướng Chính phủ và thi hành hiệu quả Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), gắn với chủ đề "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" năm 2026 của Liên hợp quốc: "Mắc kẹt sau bẫy lừa đảo".
Đồng thời, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nguy cơ, phương thức hoạt động của tội phạm mua bán người. Chủ động phát hiện, ngăn chặn triệt để các thủ đoạn lừa đảo qua lời mời tuyển dụng giả mạo trên không gian mạng; đấu tranh, xử lý nghiêm các đường dây tội phạm lợi dụng công nghệ cao để lừa đảo, mua bán người trong nội địa và qua biên giới. Kịp thời giải cứu, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân bị mua bán, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan báo chí, truyền thông bám sát nhiệm vụ, giải pháp trong Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung triển khai thực hiện một số nội dung hoạt động chủ yếu sau:
Tổ chức chiến dịch truyền thông hưởng ứng "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" và "Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7"
Theo Kế hoạch, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, các cơ quan báo chí, truyền thông, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền phòng, chống mua bán người, kết hợp tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng, trên các kênh truyền thông chính thức và các nền tảng mạng xã hội, gắn với đặc thù địa phương và từng nhóm đối tượng; tăng cường tiếp xúc, vận động, tranh thủ người có uy tín trong xã hội, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs, KOCs) tham gia tuyên truyền, định hướng dư luận nhằm nâng cao nhận thức, vận động cộng đồng cùng hành động phòng, chống mua bán người.
Xây dựng, nhân rộng các mô hình phòng, chống mua bán người hiệu quả tại địa bàn cơ sở. Cảnh báo các thủ đoạn lừa đảo qua lời mời tuyển dụng giả mạo trên không gian mạng, lồng ghép phổ biến kiến thức pháp luật, kỹ năng di cư an toàn và hợp pháp, kỹ năng an toàn trên không gian mạng.
Tuyên truyền và thông tin liên hệ khi có dấu hiệu nghi ngờ hoặc cần trợ giúp: Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người (số 111), tổng đài 113 tiếp nhận thông tin khẩn cấp, tính năng tố giác tội phạm trên ứng dụng VNelD, fanpage của Bộ Công an, Công an các đơn vị, địa phương về nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người. Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tội phạm mua bán người tại Việt Nam.
Thời gian thực hiện: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 đến ngày 30 tháng 9 năm 2026.
Trước ngày 01 tháng 8 năm 2026, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, đề nghị Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Lễ phát động chung tay phòng, chống mua bán người và các hoạt động hưởng ứng "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" và "Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7" năm 2026 tại tỉnh Khánh Hòa.
Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện triển khai tin nhắn trên các mạng viễn thông, với nội dung như sau: "Toàn dân tham gia phòng, chống mua bán người. Hãy báo tin khẩn cấp cho cơ quan Công an nơi gần nhất hoặc Tổng đài quốc gia 111 nếu phát hiện dấu hiệu mua bán người, lừa đảo qua lời mời tuyển dụng giả mạo trên không gian mạng". Tiêu đề tin nhắn: "CHINH PHU". Thời gian thực hiện: Ngày 30 tháng 7 năm 2026.
Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố kịp thời giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân. Triển khai các biện pháp bảo hộ công dân cần thiết, nhất là đối với các trường hợp bị giam giữ, cưỡng bức làm việc tại các sòng bài trực tuyến, trung tâm lừa đảo trực tuyến tại nước ngoài.
Thực hiện hiệu quả các biện pháp bảo vệ, chế độ hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng, quan tâm hỗ trợ sinh kế cho nạn nhân trên nguyên tắc lấy nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân làm trung tâm.
Đảm bảo 100% nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng được hỗ trợ đầy đủ theo nhu cầu và đúng quy định của pháp luật, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng kịp thời, an toàn. Tuyệt đối giữ bí mật thông tin cá nhân của nạn nhân, không xúc phạm, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
Tập trung giải quyết những nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh, phát triển tội phạm mua bán người, chú trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ, giải quyết những khó khăn về đời sống của Nhân dân, nhất là đối với nhóm có nguy cơ phạm tội cao, nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người.
Thời gian thực hiện: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 đến ngày 30 tháng 9 năm 2026.
Đề nghị Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chỉ đạo các cấp Hội phát huy vai trò tham gia hỗ trợ tâm lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, kết nối các nguồn lực và dịch vụ hỗ trợ phù hợp cho phụ nữ, trẻ em gái là nạn nhân bị mua bán trở về, góp phần hỗ trợ nạn nhân phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Tổ chức các chương trình hỗ trợ vay vốn, đào tạo nghề, chuyển đổi sinh kế an toàn giúp nạn nhân vượt qua mặc cảm, ổn định cuộc sống, không bị tái rơi vào bẫy lừa đảo của tội phạm mua bán người.
Thời gian thực hiện: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 đến ngày 30 tháng 9 năm 2026.

Kế hoạch hành động thực hiện cam kết về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26/6/2026 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm triển khai thực hiện và hoàn thành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền (RT), tài trợ khủng bố (TTKB), tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (TTPBVKHDHL) với Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) để đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách rà soát tăng cường trên cơ sở đảm bảo tối đa lợi ích quốc gia.
Hoàn thành đánh giá rủi ro ngành về rửa tiền trong lĩnh vực casino, kinh doanh trò chơi có thưởng
Theo Kế hoạch, tháng 9/2026, các Bộ chủ trì xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách/kế hoạch hành động cấp bộ, ngành nhằm giảm thiểu rủi ro về rửa tiền trên cơ sở Kế hoạch hành động quốc gia giải quyết rủi ro về RT/TTKB/TTPBVKHDHL giai đoạn 2023 - 2028.
Xây dựng cơ chế giám sát và thực hiện việc giám sát đối với việc triển khai kế hoạch hành động cấp bộ, ngành nhằm giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB/TTPBVKHDHL, trong đó bao gồm việc theo dõi, giám sát đối với việc thực hiện kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về rủi ro RT/TTKB/TTPBVKHDHL cho các cơ quan có thẩm quyền.
Cung cấp thông tin, số liệu chứng minh các cơ quan có thẩm quyền đã triển khai thực hiện trên thực tế các hành động để giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB/TTPB VKHDHL.
Thực hiện thêm đánh giá rủi ro đối với các tội phạm nguồn có nguy cơ rửa tiền cao được xác định trong Báo cáo đánh giá đa phương, như tội phạm môi trường và tội lạm dụng tình dục.
Hoàn thành đánh giá rủi ro ngành về rửa tiền trong lĩnh vực casino, kinh doanh trò chơi có thưởng, tài sản ảo, pháp nhân và thỏa thuận pháp lý.
Tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài
Tăng cường hợp tác chính thức (dẫn độ và tương trợ tư pháp đa phương) và hợp tác không chính thức (của các cơ quan thực thi pháp luật và đơn vị tình báo tài chính (FIU) với các đối tác nước ngoài bằng cách cung cấp mang tính xây dựng và chủ động tìm kiếm hợp tác liên quan đến tội phạm và tài sản của chúng (phù hợp với mức độ rủi ro của Việt Nam); đảm bảo các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm các cơ quan trung ương, được cung cấp nguồn lực phù hợp để thực hiện hợp tác quốc tế; theo đuổi các thỏa thuận, thỏa thuận với nhiều cơ quan đối tác nước ngoài nhất có thể trong phạm vi của mình để tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế.
Cụ thể: Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam (theo chức năng, nhiệm vụ được giao) chủ trì, phối hợp với các bộ có liên quan xây dựng cơ sở/quy trình ưu tiên trong việc thực hiện hợp tác quốc tế (ký kết các hiệp định, thoả thuận với đối tác nước ngoài, trao đổi thông tin tình báo tài chính, gửi các yêu cầu hợp tác quốc tế chính thức và không chính thức...). Thời hạn: tháng 1/2027.
Có kế hoạch và triển khai việc thu thập, tổng hợp số liệu về số lượng yêu cầu tương trợ tư pháp đến/đi; số lượng yêu cầu hợp tác không chính thức đến/đi; số lượng các cuộc đào tạo điều tra viên/kiểm sát viên.
Các cơ quan thanh tra, giám sát đối tượng báo cáo đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin với các cơ quan giám sát nước ngoài.
Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm đầu mối theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện các nội dung của Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Trước các ngày 01 tháng 3, 01 tháng 7, 01 tháng 11 hàng năm hoặc theo yêu cầu của FATF, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp thông tin, số liệu, tài liệu từ các bộ, ngành liên quan để xây dựng báo cáo và gửi FATF đúng yêu cầu.
Các bộ, ngành liên quan phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện hành động được giao tại Kế hoạch này và gửi thông tin, số liệu, tài liệu báo cáo theo định kỳ nêu trên cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về kết quả triển khai thực hiện để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền và gửi báo cáo cho FATF.

Lập Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1155/QĐ-TTg ngày 26/6/2026 thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (Hội đồng).
Theo Quyết định, Chủ tịch Hội đồng thẩm định là Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Các Phó Chủ tịch Hội đồng là Thứ trưởng Bộ Tài chính và Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
Các ủy viên Hội đồng gồm lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Quốc phòng, Công an, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Tư pháp, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Giáo dục và Đào tạo; lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; lãnh đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên.
Bộ Tài chính là Cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định nhà nước.
Trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, các ủy viên Hội đồng, Cơ quan thường trực Hội đồng được thực hiện tương ứng theo quy định tại các Điều 4, 5, 6, 7, 8 Nghị định số 19/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 của Chính phủ.
Các thành viên có trách nhiệm tham gia ý kiến đúng thời hạn theo đề nghị của Cơ quan thường trực Hội đồng, trường hợp quá hạn chưa trả lời thì coi là thống nhất với nội dung lấy ý kiến của Cơ quan thường trực Hội đồng và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc không trả lời đúng hạn.
Hội đồng có trách nhiệm hoàn thiện Báo cáo thẩm định theo quy định, trong đó phải khẳng định rõ hồ sơ Dự án đủ điều kiện hay chưa đủ điều kiện để Chính phủ trình Quốc hội quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án.

Triển khai mô hình "dịch vụ công lưu động", tạo thuận lợi cho người già, người yếu thế
Văn phòng Chính phủ vừa có Văn bản số 6051/VPCP-CĐS truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà về việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Văn bản nêu: Trên cơ sở phản ánh của các cơ quan báo chí và dư luận xã hội về vụ việc "yêu cầu cụ 97 tuổi đến phường làm thủ tục" xảy ra tại Trung tâm Phục vụ hành chính công chi nhánh số 3, thành phố Hà Nội và việc chỉ đạo, xử lý kịp thời của Thường trực Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đối với vụ việc nêu trên; để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, nhất là người yếu thế, người cao tuổi, người có công, gia đình chính sách trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương chỉ đạo các Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc phạm vi quản lý nghiêm túc quán triệt, rút kinh nghiệm từ vụ việc "yêu cầu cụ 97 tuổi đến phường làm thủ tục" nêu trên, bảo đảm không để xảy ra các sự việc tương tự trên địa bàn.
Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát cách thức thực hiện các thủ tục hành chính, căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương để triển khai mô hình "dịch vụ công lưu động" đối với các thủ tục hành chính đủ điều kiện, tạo thuận lợi cho các đối tượng là người yếu thế, người cao tuổi, người có công, gia đình chính sách.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Tư pháp chỉ đạo các đơn vị liên quan rà soát quy định ủy quyền bằng văn bản tại Luật Bảo hiểm xã hội để có giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; trong đó tập trung nghiên cứu thực hiện việc ủy quyền, chứng thực trên môi trường điện tử (VNeID, Cổng Dịch vụ công quốc gia); báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý trước ngày 1/8/2026.

Thủ tướng bổ nhiệm ông Trần Anh Tiến giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1136/QĐ-TTg ngày 25/6/2026 bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Cụ thể, tại Quyết định số 1136/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Trần Anh Tiến, Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Văn phòng Chính phủ, giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Quyết định có hiệu lực từ ngày ký (25/6/2026)./.