Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 24/6/2026 (1)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 24/6/2026 (1).
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 về ban hành Chiến lược tài chính đến năm 2030

Điều chỉnh, bổ sung nhiều mục tiêu, giải pháp trong Chiến lược tài chính đến năm 2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1119/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 về ban hành Chiến lược tài chính đến năm 2030.
Tăng mục tiêu tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 lên 18% GDP
Cụ thể Quyết định số 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm a,b,c và đ khoản 3 mục I Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg về mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược tài chính đến năm 2030 theo hướng tăng mục tiêu huy động ngân sách giai đoạn 2026-2030 thêm 1-2 điểm % GDP (từ khoảng 16-17% lên 18%); tăng mục tiêu tỷ trọng thu nội địa từ 86-87% lên 87-88%. Cơ cấu chi ngân sách được nêu chi tiết hơn với mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên khoảng 51-52%. Đồng thời, mức bội chi ngân sách đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP và trần nợ nước ngoài của quốc gia tăng từ 45% lên 50% GDP.
Bên cạnh đó, Quyết định số 1119/QĐ-TTg bổ sung các mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tinh gọn đầu mối, chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị và dịch vụ công thiết yếu. Đồng thời, đặt ra các chỉ tiêu cụ thể hơn đối với doanh nghiệp nhà nước như có 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới vào năm 2030…
Bổ sung các giải pháp thực hiện mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm
Ngoài ra, Quyết định số 1119/QĐ-TTg cũng bổ sung khoản 1 và khoản 2 tại mục III của Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Cụ thể như sau:
1. Hoàn thiện thể chế phát triển; xóa bỏ các rào cản, điểm nghẽn để giải phóng sức sản xuất và khơi thông mọi nguồn lực; thực hiện cuộc cách mạng về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
- Xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển.
- Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển nền kinh tế số (nhất là công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới...), đầu tư kinh doanh... góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hoá, số hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
- Nghiên cứu, đề xuất cơ chế đặc thù để xử lý tài sản công là nhà, đất dôi dư (nếu cần thiết), không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí.
- Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế. Triển khai Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Đổi mới kinh tế nhà nước, trọng tâm là quản trị doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực quan trọng; tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí.
- Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân; triển khai đồng bộ, thực chất, hiệu quả các chính sách tại Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ ban hành kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân và các nghị quyết, chương trình hành động về phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tập trung đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính, tín dụng cho kinh tế tư nhân.
Hỗ trợ tích cực và tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ, thu hút nguồn lực, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, mở rộng thị trường cho kinh tế tập thể, hợp tác xã.
Xây dựng, triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả; chú trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kết nối giữa khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài với khu vực trong nước; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.
Khẩn trương hoàn thiện, ban hành và thực thi hệ thống pháp luật về quy hoạch, lấy quy hoạch làm công cụ chủ yếu để huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả theo các tín hiệu của thị trường. Xây dựng, vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia và địa phương trên cơ sở số hóa toàn bộ quy trình thủ tục đầu tư, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
- Rà soát, khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý; xây dựng mới các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phát triển các mô hình kinh tế mới; phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm dữ liệu quốc gia; đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện mặt trời, điện gió ngoài khơi...
2. Bảo đảm các yếu tố nền tảng cho tăng trưởng "2 con số" số" giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững đến năm 2045
- Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động ứng phó hiệu quả với những biến động bên ngoài, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống; phát huy cao nhất các nguồn nội lực, bám sát mục tiêu tăng trưởng "2 con số".
- Xây dựng chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm hỗ trợ mạnh mẽ cho mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong giai đoạn tới. Xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp nhà nước, vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước, vừa không ảnh hưởng lớn tới nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Đối với chính sách đặc thù tài chính - ngân sách của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu ngân sách nhà nước. Không quy định phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước, để lại nguồn thu ngân sách trung ương khác với quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị (trừ trường hợp theo chủ trương của cấp có thẩm quyền).
- Quản lý, điều hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Thực hiện tăng thu, tăng cường quản lý, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại. Triệt để tiết kiệm chi để đảm bảo nguồn lực thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế, ưu tiên bố trí nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, các nhiệm vụ quan trọng về an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, thực hiện các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Bố trí chi ngân sách nhà nước để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm hiệu quả, khả thi, không trùng lặp giữa các Chương trình mục tiêu quốc gia, không trùng lặp với các chương trình, dự án, chính sách, chế độ, nhiệm vụ chi khác, phù hợp với tiến độ thực hiện, khả năng giải ngân và cân đối ngân sách nhà nước; thực hiện phân cấp, phân quyền để tạo sự chủ động, linh hoạt cho các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của từng Chương trình.
Tận dụng tối đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới tại các tỉnh, thành phố; các bộ, ngành, cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, không để ảnh hưởng đến các mục tiêu quan trọng khác, chống lãng phí, tiêu cực.
- Xây dựng mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm bảo đảm trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 và theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát triển; thực hiện đánh giá hằng năm và giữa kỳ, kịp thời kiến nghị điều chỉnh mục tiêu khi có biến động lớn, bảo đảm khả thi và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Thực hiện giải pháp dự phòng để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia trong phạm vi cân đối ngân sách nhà nước.
- Triển khai áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro nợ công, nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo thông tin nợ công, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm đầu tư. Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức vay, kỳ hạn vay, thời điểm vay và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.
- Kịp thời có giải pháp quản lý, điều tiết sản xuất, ổn định cung cầu, theo dõi và quản lý chặt chẽ giá cả các mặt hàng, nhất là hàng hóa thiết yếu; đồng thời chủ động điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp để hạn chế gia tăng kỳ vọng lạm phát.
- Nâng cao năng lực thống kê, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu, số liệu thống kê. Tăng cường nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo tình hình trong và ngoài nước.
Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân hàng chính sách xã hội. Mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
- Nâng cao hiệu quả thực thi, thực hiện các hiệp định thương mại, hiệp định thương mại tự do, cam kết, thỏa thuận hợp tác với các tổ chức, diễn đàn tài chính quốc tế và các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính của các đối tác. Đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường mới, nhất là các quốc gia mới nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện. Tăng cường chống gian lận xuất xứ hàng hóa để bảo vệ uy tín và vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tận dụng nguồn lực từ kiều hối, đầu tư của Việt kiều, hợp tác tài chính để kết nối nguồn vốn trí tuệ và tài chính của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vào phát triển đất nước.
- Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cơ chế ưu đãi quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23/6/2026.
Quy định về hoạt động bay
Chính phủ ban hành Nghị định số 222/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động bay. Trong đó, Nghị định quy định rõ nguyên tắc hoạt động bay tại sân bay; quy chế bay, phương thức bay và phương thức hoạt động trong khu vực sân bay dùng chung; thẩm quyền cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay...
Nguyên tắc hoạt động bay tại sân bay
Về hoạt động bay tại sân bay, Nghị định quy định hoạt động bay tại sân bay phải tuân thủ huấn lệnh của cơ sở ATS, quy chế bay, phương thức bay, phương thức hoạt động và quy trình khai thác tại sân bay được công bố.
Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bay tại sân bay có trách nhiệm phối hợp bảo đảm an toàn, an ninh, năng lực khai thác và xử lý kịp thời tình huống bất thường, khẩn nguy.
Quy chế bay, phương thức bay và phương thức hoạt động trong khu vực sân bay dùng chung
Nghị định quy định việc ban hành quy chế bay, phương thức bay và phương thức hoạt động trong khu vực sân bay dùng chung phải bảo đảm phù hợp với thẩm quyền quản lý trực tiếp sân bay, yêu cầu quốc phòng, an ninh và an toàn hoạt động bay.
Đối với sân bay dùng chung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam công bố phương thức bay và phương thức hoạt động trong khu vực sân bay sau khi có ý kiến của Quân chủng Phòng không - Không quân và cơ quan có liên quan.
Đối với sân bay dùng chung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, Quân chủng Phòng không - Không quân ban hành quy chế bay trong khu vực sân bay sau khi có ý kiến của Cục Hàng không Việt Nam.
Đối với sân bay dùng chung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an ban hành quy chế bay trong khu vực sân bay sau khi có ý kiến của Quân chủng Phòng không - Không quân và Cục Hàng không Việt Nam.
Cục Hàng không Việt Nam công bố trong AIP Việt Nam các phương thức bay, phương thức hoạt động và dữ liệu khai thác liên quan đến hoạt động bay dân dụng tại sân bay dùng chung theo quy định về tin tức hàng không.
Việc tổ chức hoạt động bay trong khu vực sân bay dùng chung phải tuân thủ quy chế bay, phương thức bay, phương thức hoạt động đã được ban hành và cơ chế phối hợp giữa hàng không dân dụng và lực lượng vũ trang.
Thẩm quyền cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay
Về thẩm quyền cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay, Nghị định quy định như sau:
1- Cục Lãnh sự thuộc Bộ Ngoại giao cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay cho:
a- Chuyến bay chuyên cơ của nước ngoài chở người đứng đầu Nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ các nước thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước, thăm chính thức, thăm làm việc, thăm cá nhân tại Việt Nam;
b- Chuyến bay chở khách mời của Đảng, Nhà nước, chuyến bay thực hiện nhiệm vụ đối ngoại;
c- Chuyến bay làm nhiệm vụ hộ tống, tiền trạm hoặc chuyến bay liên quan đến chuyến bay chuyên cơ tại điểm a,b ở trên.
2- Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng tham mưu của Bộ Quốc phòng cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay cho:
a- Chuyến bay của tàu bay quân sự thực hiện hoạt động bay dân dụng tại Việt Nam;
b- Chuyến bay của tàu bay quân sự tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong vùng thông báo bay của Việt Nam hoặc trong khu vực do Việt Nam đảm nhiệm;
c- Chuyến bay của tàu bay dân dụng vận chuyển vũ khí, dụng cụ chiến tranh theo quy định tại khoản 3 Điều 61 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sau khi được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho phép vận chuyển bằng đường hàng không đi, đến hoặc bay qua lãnh thổ Việt Nam;
d- Chuyến bay hoạt động bay dân dụng ngoài đường hàng không;
đ- Chuyến bay thực hiện hoạt động bay dân dụng quy định tại khoản 3 Điều 5 và Điều 6 Nghị định này.
3- Cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay cho chuyến bay được thực hiện bởi tàu bay của Bộ Công an phục vụ mục đích công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự theo quy định. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết trình tự thủ tục cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay thuộc thẩm quyền.
4- Cục Hàng không Việt Nam thuộc Bộ Xây dựng cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay cho:
a- Chuyến bay thực hiện hoạt động bay dân dụng tại Việt Nam, bao gồm chuyến bay của tàu bay dân dụng tham gia tìm kiếm, cứu nạn và không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1,2,3 ở trên;
b- Chuyến bay chuyên cơ của Việt Nam do các hãng hàng không của Việt Nam thực hiện;
c- Chuyến bay chuyên cơ của nước ngoài không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 ở trên.
5- Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam thực hiện cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay đối với chuyến bay thực hiện hoạt động bay dân dụng tại Việt Nam quy định tại khoản 4 ở trên trong trường hợp đề nghị cấp phép bay được gửi vào ngày nghỉ, ngày lễ hoặc ngoài giờ hành chính và chuyến bay dự kiến thực hiện trước 09 giờ 00 phút của ngày làm việc kế tiếp, cụ thể như sau:
a- Chuyến bay chuyên chở thợ máy, động cơ, trang bị, thiết bị phục vụ, sửa chữa tàu bay hỏng hóc; chuyến bay vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi của tàu bay bị hỏng hóc hoặc chuyển sân để có tàu bay phục vụ mục đích này; chuyến bay khai thác trở lại sau khi khắc phục sự cố kỹ thuật;
b- Chuyến bay tìm kiếm, cứu nạn, cấp cứu, y tế, cứu hộ của tàu bay đăng ký quốc tịch nước ngoài;
c- Chuyến bay nội địa chuyển sân; chuyến bay kiểm tra kỹ thuật;
d- Chuyến bay của tàu bay dân dụng Việt Nam phục vụ mục đích công vụ;
đ- Chuyến bay vì mục đích nhân đạo;
e- Sửa đổi các nội dung sau đây của phép bay: thay đổi tàu bay vì lý do phi thương mại; thay đổi tàu bay vì lý do thương mại đối với chuyến bay nội địa; thay đổi sân bay cất, hạ cánh, sau khi chuyển hướng bắt buộc do thời tiết, kỹ thuật, nhân đạo, an toàn; thay đổi số hiệu chuyến bay do bị chậm giờ sang ngày kế tiếp; thay đổi sân bay đi, đến ngoài lãnh thổ Việt Nam đối với các chuyến bay qua vùng trời Việt Nam.
6- Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam thực hiện trình tự thủ tục cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay quy định tại khoản 5 theo quy định tại Điều 17 của Nghị định này.
7- Trường hợp cấp thiết để bảo đảm an toàn bay, kiểm soát viên không lưu đang trực tiếp điều hành chuyến bay có quyền cấp hiệu lệnh thay đổi so với kế hoạch bay không lưu cho tàu bay đang bay. Cơ sở trực tiếp điều hành chuyến bay có trách nhiệm thông báo ngay cho Trung tâm Quản lý điều hành bay khu vực có liên quan về việc cấp hiệu lệnh cho chuyến bay đó.
8- Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, thông báo phản hồi Kế hoạch bay không lưu quy định tại khoản 7 Điều 17 và Kế hoạch thực hiện chuyến bay quy định tại Điều 24 Nghị định này. Thông báo phản hồi này thay cho phép bay.
Nghị định 222/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).

Phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030
Chương trình đặt mục tiêu tổng quát phát triển khu vực kinh tế tập thể theo hướng năng động, hiệu quả, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân. Tăng cường khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước nhằm thu hút đông đảo người dân tham gia hợp tác xã, đồng thời khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết chặt chẽ với hợp tác xã. Nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh, thích ứng linh hoạt với xu thế phát triển mới.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác với 2 triệu thành viên, 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên, 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên.
Số hợp tác xã hoạt động đạt loại tốt, khá chiếm từ 60% trở lên trên tổng số hợp tác xã cả nước. Tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã tốt nghiệp cao đẳng, đại học đạt ít nhất 25%; khoảng 80% giám đốc hợp tác xã được đào tạo sơ cấp nghề giám đốc; tỷ lệ nữ giám đốc hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đạt ít nhất 30%.
Đến năm 2030 cả nước có 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2030 cả nước có trên 5.000 hợp tác xã và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa nông sản.
Tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và hợp tác xã, phấn đấu có khoảng 50% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị.
Lựa chọn tối thiểu 200 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động hiệu quả để nhân rộng (mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lựa chọn tối thiểu 6 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã); 100% hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được lựa chọn để nhân rộng xếp loại hoạt động tốt sau khi củng cố, hoàn thiện.
Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bố trí tối thiểu 1 dự án đầu tư công hỗ trợ các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (trong đó có nội dung hỗ trợ các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được lựa chọn để nhân rộng) trong kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương.
Ưu tiên xây dựng các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, sản phẩm chủ lực của địa phương
Định hướng chung của Chương trình là phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của từng vùng, miền, trong đó ưu tiên xây dựng các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, sản phẩm chủ lực của từng địa phương; ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển kinh tế tập thể; mở rộng quy mô thành viên.
Tăng cường liên kết, hợp tác giữa các hợp tác xã với các thành phần kinh tế khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường, năng lực cạnh tranh và tăng thu nhập cho thành viên.
Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức và các mô hình sản xuất tiên tiến của thế giới.
Phát triển hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình dịch vụ tổng hợp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Phát triển liên hiệp hợp tác xã trong nông nghiệp để phát huy thế mạnh của từng hợp tác xã và liên kết với doanh nghiệp, mở rộng phạm vi hoạt động trên địa bàn cả nước và xuất khẩu.
Phát triển hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình dịch vụ tổng hợp, mô hình gắn với vùng nguyên liệu tập trung, liên kết sản xuất - tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận chất lượng, sản xuất hữu cơ. Tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, viện, trường và tổ chức tín dụng để nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Tăng cường hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng cho các hợp tác xã nông nghiệp. Nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành, hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, tăng khả năng tiếp cận vốn vay từ Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã các cấp và các tổ chức tín dụng khác...
Đối với lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, củng cố và mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của các hợp tác xã hiện có. Chú trọng phát triển các mô hình hợp tác xã gắn với các chương trình khuyến công và các chương trình, đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giảm nghèo tại địa phương.
Nghiên cứu xây dựng một số liên hiệp hợp tác xã công nghiệp, hợp tác xã dịch vụ công nghiệp ở những vùng có nhiều làng nghề, cụm công nghiệp nông thôn, tạo tiền đề cho việc hình thành, phát triển các làng nghề mới. Hỗ trợ các hợp tác xã hiện đại hóa trang thiết bị, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất.
Xây dựng mô hình hợp tác xã thương mại, dịch vụ đa ngành
Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, xây dựng mô hình hợp tác xã thương mại, dịch vụ đa ngành nhằm phục vụ tốt nhu cầu sản xuất đồng thời góp phần tiêu thụ sản phẩm cho thành viên. Tiếp tục củng cố các liên hiệp hợp tác xã hiện có, thành lập mới các liên hiệp hợp tác xã để hỗ trợ các hợp tác xã thành viên về nguồn hàng, thị trường.
Khuyến khích phát triển các hợp tác xã theo hướng kinh doanh tổng hợp (mua bán hàng hóa, gia công chế biến, cung ứng dịch vụ, logistics); khuyến khích liên kết, tham gia vào hệ thống phân phối hoặc chuỗi kinh doanh của các liên hiệp hợp tác xã thương mại hoặc các doanh nghiệp lớn để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Phát triển các hợp tác xã kinh doanh du lịch, đặc biệt là các hợp tác xã du lịch cộng đồng, du lịch gắn với nông nghiệp sinh thái, trải nghiệm, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa; tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm, dịch vụ du lịch bản địa thông qua phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đề ra các nhiệm vụ, giải pháp như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; hỗ trợ tiếp cận vốn và nâng cao năng lực tài chính; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về kinh tế tập thể; phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trình độ quản lý, điều hành trong khu vực kinh tế tập thể...
Phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu - Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới vừa ký Quyết định số 59/QĐ-BCĐ phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo này.
Theo quyết định, thành viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, xử lý, giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc theo chức năng, nhiệm vụ được giao; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng và quá trình thành lập, vận hành trường phổ thông nội trú liên cấp tại các địa phương được phân công phụ trách; kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.
Ban Chỉ đạo phân công các thành viên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các dự án tại các địa phương như sau:
| TT | Thành viên Ban chỉ đạo | Tỉnh, thành phố | Số xã, phường biên giới |
| 1 | Phó Trưởng ban, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc | Quảng Ninh | 09 |
| Đồng Tháp | 06 | ||
| Đà Nẵng | 06 | ||
| 2 | Phó Trưởng ban, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng | Tây Ninh | 19 |
| Lạng Sơn | 11 | ||
| Hà Tĩnh | 07 | ||
| 3 | Thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo Bộ Công an Nguyễn Văn Long | Tuyên Quang | 17 |
| Lào Cai | 09 | ||
| Lai Châu | 11 | ||
| 4 | Thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi Trường Võ Văn Hưng | Điện Biên | 15 |
| Sơn La | 13 | ||
| Thanh Hóa | 16 | ||
| 5 | Thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn | Nghệ An | 21 |
| An Giang | 14 | ||
| Quảng Trị | 15 | ||
| 6 | Thành viên Ban Chỉ đạo đại diện Bộ Quốc phòng Nguyễn Bá Lực | Huế | 05 |
| Quảng Ngãi | 09 | ||
| Cao Bằng | 21 | ||
| 7 | Thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr | Gia Lai | 07 |
| Đắk Lắk | 04 | ||
| Lâm Đồng | 05 |