• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026.

23/06/2026 18:51

Xử lý triệt để tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký văn bản số 707/TTg-PL về thực hiện các giải pháp khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 1.

Xử lý triệt để tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Văn bản được Thủ tướng ký ngày 20/6 nêu rõ, trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo, phân công các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuy nhiên, tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội vẫn chưa được khắc phục triệt để.

Để xử lý triệt để tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tổ chức triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là: Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó có yêu cầu mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ phải cơ cấu ít nhất một lãnh đạo có chuyên môn pháp luật; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, yêu cầu hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; quán triệt nguyên tắc mỗi chủ thể chỉ ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung được giao.

Lấy kết quả xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết là tiêu chí quan trọng đánh giá xếp loại, thi đua, khen thưởng hằng năm

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trực tiếp phụ trách, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ công tác xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết; chủ động trao đổi, thống nhất với các Bộ, cơ quan liên quan về những nội dung phức tạp, còn ý kiến khác nhau ngay từ giai đoạn đầu của quá trình xây dựng văn bản; chủ động phối hợp với Văn phòng Chính phủ báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ đối với những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc còn có ý kiến khác nhau; không để tình trạng phối hợp kéo dài hoặc chờ thống nhất giữa các cơ quan làm ảnh hưởng đến tiến độ ban hành văn bản.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đề cao trách nhiệm và tăng cường tính chủ động trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.

Trong đó, khi xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết phải rà soát kỹ sự cần thiết, tính hợp pháp của các nội dung giao quy định chi tiết, cơ quan quy định chi tiết và xác định thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết cũng như điều khoản giao quy định chi tiết, bảo đảm khoảng thời gian hợp lý, khả thi để các cơ quan có thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức triển khai thi hành.

Trường hợp đề xuất luật, pháp lệnh, nghị quyết có hiệu lực ngay từ ngày được thông qua hoặc sớm hơn 45 ngày từ ngày được thông qua, Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chủ trì soạn thảo phải bảo đảm chuẩn bị đầy đủ, kịp thời các dự thảo văn bản quy định chi tiết, trình cấp có thẩm quyền ban hành để có hiệu lực đồng thời với thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Rà soát, kiện toàn tổ chức pháp chế; ưu tiên, tập trung cao nhất các nguồn lực về thời gian, nhân lực, kinh phí, trang thiết bị cho công tác xây dựng pháp luật, không để tình trạng giao thêm nhiệm vụ nhưng không bảo đảm nguồn lực thực hiện; nghiên cứu cách thức tổ chức thực hiện công tác xây dựng pháp luật tập trung, chuyên nghiệp kết hợp với ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào công tác xây dựng pháp luật, từng bước chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá công tác này nhằm nâng cao chất lượng văn bản, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, khả thi của hệ thống pháp luật.

Lấy kết quả xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, việc bảo đảm tiến độ, chất lượng ban hành văn bản là một trong các tiêu chí quan trọng trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, xếp loại, thi đua, khen thưởng hằng năm đối với cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan. Quan tâm triển khai thực hiện thí điểm việc đánh giá, chấm điểm (KPI) trong công tác xây dựng pháp luật sau khi được ban hành, gắn kết quả thực hiện với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan và đơn vị chủ trì. Trường hợp để xảy ra tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết kéo dài làm ảnh hưởng đến việc thi hành luật, nghị quyết hoặc phát sinh khoảng trống pháp lý thì phải đánh giá, kiểm điểm, nguyên nhân, giải pháp khắc phục và xử lý trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan (nếu có).

Tập trung xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Công Thương, Tài chính, Nội vụ, Y tế, Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xử lý hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xử lý ngay những khó khăn, vướng mắc liên quan đến 15 văn bản (14 nghị định, 01 quyết định) nợ ban hành quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực nhằm giải quyết dứt điểm số văn bản nợ ban hành này. Tính đến ngày 23/6, Bộ Giáo dục và Đào tạo nợ 3 nghị định ban hành quy định chi tiết 2 luật, nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ nợ 1 nghị định, 1 quyết định quy định chi tiết 1 luật có hiệu lực từ 1/3/2026, Bộ Ngoại giao nợ 2 nghị định quy định chi tiết 1 nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Công Thương nợ 2 nghị định quy định chi tiết 2 nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2026 và 1/3/2026, Bộ Tài chính nợ 1 nghị định quy định chi tiết 1 nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Nội vụ nợ 1 nghị định quy định chi tiết 1 luật có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Y tế nợ 1 nghị định quy định chi tiết 1 nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2026, Bộ Tư pháp nợ 1 nghị định quy định chi tiết 1 luật có hiệu lực từ 1/5/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nợ 2 nghị định quy định chi tiết 2 luật có hiệu lực từ 1/1/2026 và 1/5/2026.

Các Bộ: Công an, Tài chính, Xây dựng, Y tế, Nội vụ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Quốc phòng, Ngoại giao, Giáo dục và Đào tạo, Công Thương: tập trung nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ 48 nghị định quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; trình Lãnh đạo Chính phủ xem xét, ký ban hành, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định. Trong đó Bộ Công an: 11 nghị định quy định chi tiết 6 luật, Bộ Tài chính: 10 nghị định quy định chi tiết 6 luật, Bộ Xây dựng: 4 nghị định quy định chi tiết 3 luật, Bộ Y tế: 1 nghị định quy định chi tiết 1 luật, Bộ Nội vụ: 5 nghị định quy định chi tiết 1 luật, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 8 nghị định quy định chi tiết 2 luật, Bộ Khoa học và Công nghệ: 2 nghị định quy định chi tiết 2 luật, Bộ Quốc phòng: 2 nghị định quy định chi tiết 1 luật, Bộ Ngoại giao: 2 nghị định quy định chi tiết 2 luật, Bộ Giáo dục và Đào tạo: 1 nghị định quy định chi tiết 1 luật, Bộ Công Thương: 1 nghị định quy định chi tiết 1 luật.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung chỉ đạo, khẩn trương ban hành theo thẩm quyền các thông tư quy định chi tiết được giao; chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng chậm, muộn và không bảo đảm có hiệu lực đồng thời với hiệu lực thi hành của luật, nghị quyết của Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong đó bổ sung các quy định liên quan đến việc xác định thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết, nội dung giao quy định chi tiết; tiêu chí xác định nội dung giao quy định chi tiết; soạn thảo các văn bản quy định chi tiết ngay trong quá trình xây dựng dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; các điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết và triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; cơ chế phối hợp xử lý trong trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết không đồng thời là cơ quan chủ trì soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết; cơ chế xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp để xảy ra tình trạng chậm, nợ văn bản kéo dài hoặc gây khoảng trống pháp lý trong thực tiễn thi hành.

Văn phòng Chính phủ phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình hoàn thiện dự thảo văn bản quy định chi tiết theo ý kiến của Lãnh đạo Chính phủ, Thành viên Chính phủ theo đúng Quy chế làm việc của Chính phủ; kịp thời báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực chỉ đạo hoặc tổ chức họp để xử lý các vấn đề còn ý kiến khác nhau, các vấn đề phát sinh trong quá trình hoàn thiện dự thảo văn bản quy định chi tiết.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 6/9/2023 quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng

Chính phủ ban hành Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 6/9/2023 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 2.

Công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng theo quy định của pháp luật về xây dựng phải mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng.

Các công trình phải mua bảo hiểm bắt buộc trong thời gian xây dựng

Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi một số Điều trong Chương IV quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Cụ thể, về đối tượng bảo hiểm, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung như sau: Chủ đầu tư có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng đối với các công trình sau:

1- Công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

2- Công trình xây dựng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

3- Công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với công trình trong thời gian xây dựng không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng

Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 33 quy định về số tiền bảo hiểm tối thiểu.

Theo đó, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng là giá trị đầy đủ của công trình khi hoàn thành, bao gồm toàn bộ vật liệu, chi phí nhân công, thiết bị lắp đặt vào công trình, cước phí vận chuyển, các loại thuế, phí khác và các hạng mục khác do chủ đầu tư cung cấp. Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với công trình trong thời gian xây dựng không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng, kể cả giá trị điều chỉnh, bổ sung (nếu có).

Số tiền bảo hiểm tối thiểu được quy định tại Hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp có thay đổi về số tiền bảo hiểm tối thiểu do điều chỉnh giá trị công trình xây dựng, bên mua bảo hiểm phải có trách nhiệm thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày điều chỉnh giá trị công trình xây dựng hoặc theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm.

Thay đổi mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm

Ngoài ra, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 quy định về mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm như sau:

"1. Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng được quy định cụ thể như sau:

a) Đối với công trình xây dựng có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, không bao gồm phần công việc lắp đặt thiết bị công trình và thiết bị công nghệ (sau đây gọi là lắp đặt thiết bị) hoặc có bao gồm phần lắp đặt thiết bị nhưng giá trị lắp đặt thiết bị vào công trình thấp hơn 50% tổng giá trị hạng mục công trình xây dựng được bảo hiểm: Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm quy định tại khoản 1 Mục I Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

b) Đối với công trình xây dựng có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, có bao gồm công việc lắp đặt thiết bị và giá trị lắp đặt thiết bị chiếm từ 50% trở lên tổng giá trị hạng mục công trình xây dựng được bảo hiểm: Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm quy định tại khoản 1 Mục II Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này."

Song song với sửa đổi quy định trên, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 37 như sau:

"2. Đối với công trình xây dựng quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này:

Doanh nghiệp bảo hiểm phải căn cứ vào mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm để xác định mức tăng hoặc giảm phí bảo hiểm tối đa 25% tính trên phí bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thiết lập quy trình khai thác, thẩm định đối với bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng trong đó thể hiện rõ các căn cứ, tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro của các đối tượng bảo hiểm, thẩm quyền, phân cấp thẩm quyền tăng hoặc giảm phí và phải đảm bảo trong mọi trường hợp áp dụng căn cứ tăng hoặc giảm phí đều không được quá 25% tính trên phí bảo hiểm. Quy trình khai thác và thẩm định này phải được chuyên gia tính toán xác nhận và hàng năm phải được kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán về tính tuân thủ và tính an toàn, hiệu quả."

Nghị định số 220/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm d khoản 1 Điều 37 như sau:

"d) Đối với nhà máy điện hạt nhân và các công trình xây dựng chưa được quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản này:

Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận quy tắc, điều khoản, mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm trên cơ sở bằng chứng chứng minh doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm xác nhận nhận tái bảo hiểm theo đúng quy tắc, điều khoản, mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho bên mua bảo hiểm. Doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải đáp ứng quy định tại khoản 9 Điều 4 Nghị định này."

Các trường hợp doanh nghiệp không được giảm phí bảo hiểm

Đồng thời, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 37 như sau:

"2a. Doanh nghiệp bảo hiểm không được giảm phí so với tỷ lệ phí được quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này đối với các công trình xây dựng trong các trường hợp sau:

a) Công trình tại các tỉnh, thành thuộc vùng nguy cơ xảy ra rủi ro do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ, dòng chảy theo quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;

b) Doanh nghiệp bảo hiểm có lỗ thuần nghiệp vụ bảo hiểm tài sản trong 3 năm tài chính liền kề theo Mẫu số 3 tại Phụ lục X kèm theo Nghị định này."

Trách nhiệm mua bảo hiểm của chủ đầu tư

Nghị định số 220/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 38 về trách nhiệm mua bảo hiểm theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng đối với từng trường hợp.

Theo quy định mới, chủ đầu tư phải mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng theo quy định tại Nghị định này. Chủ đầu tư có quyền giao nhà thầu mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng. Việc chủ đầu tư giao nhà thầu mua bảo hiểm không làm thay đổi trách nhiệm của chủ đầu tư về việc bảo đảm công trình được bảo hiểm theo quy định pháp luật và chủ đầu tư có trách nhiệm theo dõi, giám sát thực hiện.

Trường hợp mua bảo hiểm bắt buộc cho công trình trong thời gian xây dựng, chủ đầu tư phải mua bảo hiểm với số tiền bảo hiểm tối thiểu theo quy định tại Điều 33 Nghị định này.

Trường hợp mua bảo hiểm theo từng hạng mục công trình trong thời gian xây dựng, chủ đầu tư phải mua bảo hiểm với số tiền bảo hiểm của từng hạng mục công trình không thấp hơn giá trị đầy đủ của hạng mục công trình đó khi hoàn thành và tổng số tiền bảo hiểm của các hạng mục công trình trong thời gian xây dựng không thấp hơn số tiền bảo hiểm tối thiểu theo quy định tại Điều 33 Nghị định này.

Đối với công trình xây dựng có nhiều hạng mục xây dựng, chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp thông tin về giá trị của từng hạng mục trong công trình để làm căn cứ xác định tỷ lệ phí bảo hiểm tương ứng theo quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này.

Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 quy định về hoạt động vận tải đường bộ 

Chính phủ ban hành Nghị định số 218/2026/NĐ-CP ngày 19/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 quy định về hoạt động vận tải đường bộ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 3.

Từ 01/01/2028, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng phải thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu về các nội dung của Hợp đồng vận tải hành khách trước khi thực hiện chuyến đi cho Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông).

Nghị định số 218/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 7 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP về kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 theo hướng siết chặt quản lý xe hợp đồng, đồng thời bổ sung quy định cấm đón, trả khách tại các điểm cố định của doanh nghiệp. Theo đó, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng không được xác nhận đặt chỗ cho từng hành khách đi xe; không được bán vé; không được thu tiền; không được ấn định hành trình, lịch trình cố định để phục vụ cho nhiều hành khách hoặc nhiều người thuê vận tải khác nhau; không được sử dụng xe kinh doanh vận tải đón, trả khách tại trụ sở chính, trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc tại một địa điểm cố định khác do đơn vị kinh doanh vận tải thuê, hợp tác kinh doanh, trên các tuyến đường phố.

Đáng chú ý, Nghị định số 218/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 11, khoản 12 tại Điều 7 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP quy định liên quan đến việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về các nội dung của Hợp đồng vận tải hành khách. Theo đó, từ ngày 01/01/2028, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng phải thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu về các nội dung của Hợp đồng vận tải hành khách trước khi thực hiện chuyến đi cho Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông). Dữ liệu từ hệ thống của Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông) được khai thác sử dụng để phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát và nghiệp vụ khác có liên quan; kết nối chia sẻ dữ liệu cho Bộ Xây dựng (Cục Đường bộ Việt Nam), Bộ Tài chính (Cục Thuế, Cục Hải quan), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Xây dựng) để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ.

Bộ Công an quy định, hướng dẫn việc kết nối, chia sẻ và sử dụng dữ liệu hợp đồng vận tải hành khách.

Chuẩn hóa quy trình tổ chức tập huấn nghiệp vụ vận tải, bổ sung hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính

Ngoài ra, Nghị định số 218/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5, 6, 7 của Điều 12 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP về tổ chức tập huấn nghiệp vụ vận tải cho lái xe kinh doanh vận tải theo hướng chuyển toàn bộ việc tổ chức tập huấn từ doanh nghiệp vận tải sang Sở Xây dựng, đồng thời chuẩn hóa quy trình tổ chức, bổ sung hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính, tăng thời gian lưu hồ sơ và nâng cao tính minh bạch, hiện đại trong kiểm tra và cấp chứng nhận. Cụ thể:

"5. Sở Xây dựng có trách nhiệm tổ chức tập huấn nghiệp vụ vận tải cho người lái xe kinh doanh vận tải của đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh, thành phố quản lý và đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Bảo đảm đúng các nội dung theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này;

b) Trong quá trình tổ chức tập huấn Sở Xây dựng được phối hợp với đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn địa phương, Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam, hiệp hội vận tải ô tô địa phương, cơ sở đào tạo lái xe ô tô, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của bộ, cơ quan ngang bộ, các trường đào tạo từ trung cấp trở lên (các trường có chuyên ngành vận tải) để tổ chức tập huấn cho người lái xe;

c) Trước khi tổ chức tập huấn Sở Xây dựng thông báo đến đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn địa phương tối thiểu trước 30 ngày (tính đến ngày bắt đầu tổ chức tập huấn) về kế hoạch tập huấn (bao gồm: thời gian, địa điểm tập huấn, danh sách cán bộ tập huấn, hình thức tập huấn, kinh phí khóa học cho một học viên) để đơn vị kinh doanh vận tải có nhu cầu đăng ký danh sách lái xe của đơn vị mình tham gia tập huấn. Trong thời gian trước 20 ngày (tính đến ngày bắt đầu tập huấn) đơn vị kinh doanh vận tải lập và gửi danh sách học viên đăng ký tập huấn đến Sở Xây dựng. Sở Xây dựng tiếp nhận và tổng hợp danh sách học viên theo đăng ký của đơn vị kinh doanh vận tải; xây dựng kế hoạch tập huấn gồm: tổ chức các lớp tùy theo nhu cầu ở địa phương mà bố trí số lớp tập huấn lái xe cho phù hợp; có thể chia thành các lớp theo chuyên ngành vận tải như hàng hóa, hành khách hay tổ chức chung; bố trí thời gian, địa điểm, danh sách cán bộ tập huấn, thời khóa biểu của các tiết học, số điện thoại liên hệ và phải ban hành quyết định tổ chức tập huấn;

d) Quản lý, giám sát quá trình thực hiện tập huấn, kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận đối với những người đã hoàn thành tập huấn theo mẫu quy định tại Phụ lục VI kèm theo Nghị định này; hồ sơ chương trình tập huấn và kết quả tập huấn (gồm: biên bản tổng kết, danh sách học viên hoàn thành, bài kiểm tra, quyết định công nhận kết quả) được lưu trữ 05 năm tính từ ngày kết thúc tập huấn theo quy định của pháp luật về lưu trữ.".

6. Hình thức tập huấn: trực tiếp hoặc trực tuyến.

7. Tổ chức kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận

a) Việc tổ chức kiểm tra được thực hiện như sau:

Người dự tập huấn phải bảo đảm tham gia đầy đủ thời gian học thì mới đủ điều kiện để được kiểm tra. Kết thúc chương trình tập huấn phải làm bài kiểm tra trong thời gian 120 phút. Điểm kiểm tra kết thúc chương trình tập huấn được chấm theo thang điểm 10, điểm kiểm tra từ 5 điểm trở lên là đạt yêu cầu;

b) Hình thức kiểm tra tập trung: làm bài kiểm tra viết (tự luận hoặc trắc nghiệm) trên giấy hoặc làm bài trắc nghiệm trên máy tính đối với trường hợp Sở Xây dựng có hệ thống phần mềm thi trắc nghiệm chuyên dụng, có ngân hàng câu hỏi và trộn đề, kết quả được chấm điểm tự động và tổng hợp làm căn cứ đánh giá kết quả tập huấn;

c) Cấp Giấy chứng nhận tập huấn: những lái xe kinh doanh vận tải có điểm của bài kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên thì được Sở Xây dựng cấp Giấy chứng nhận tập huấn theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều này. Những lái xe kinh doanh vận tải có điểm của bài kiểm tra đạt dưới 5 điểm thì được Sở Xây dựng kiểm tra lại sau tối thiểu 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc của mỗi đợt tập huấn. Giấy chứng nhận tập huấn có giá trị trong thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp."

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/8/2026.

Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 13/10/2020 phê duyệt Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 13/10/2020 phê duyệt Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 4.

Từ năm 2026, người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần

Trong đó, Quyết định số 1116/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm c, g, h, i, m tại khoản 2 Mục I Điều 1 về một số mục tiêu của Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 theo hướng thay đổi phạm vi địa bàn và mở rộng hoạt động chăm sóc (Quyết định số 1116/QĐ-TTg quy định "chăm sóc người cao tuổi" thay vì quy định "chăm sóc sức khỏe người cao tuổi")

Cụ thể, Quyết định số 1116/QĐ-TTg sửa đổi như sau:

"c) Từ năm 2026, người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, được lập hồ sơ theo dõi quản lý sức khỏe. Đến năm 2030, có ít nhất 90% người cao tuổi được phát hiện, điều trị, quản lý các bệnh không lây nhiễm (ung thư, tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, sa sút trí tuệ...)".

"g) Số xã, phường, đặc khu có ít nhất 01 câu lạc bộ chăm sóc người cao tuổi, có ít nhất 01 đội tình nguyện viên tham gia chăm sóc người cao tuổi đạt 90% vào năm 2030;"

"h) Số xã, phường, đặc khu thí điểm, phát triển mô hình cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày đạt ít nhất 20% vào năm 2030;"

"i) Số tỉnh, thành phố có cơ sở chăm sóc người cao tuổi theo hình thức xã hội hóa đạt 100% vào năm 2030;"

"m) Tỉnh, thành phố có bệnh viện lão khoa hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa đạt 100% vào năm 2030;".

Củng cố một số giải pháp thực hiện Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Đồng thời, Quyết định số 1116/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung một số giải pháp để củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống bệnh không lây nhiễm, khám chữa bệnh cho người cao tuổi; từng bước xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi và đào tạo, tập huấn chuyên môn cho người làm công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Về củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống bệnh không lây nhiễm, khám chữa bệnh cho người cao tuổi; từng bước xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi, Quyết định số 1116/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung giải pháp quy định ở điểm e khoản 2 Mục III Điều 1 như sau: "e) Xây dựng, triển khai các mô hình: Cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày; xã, phường, đặc khu thân thiện với người cao tuổi; cơ sở chăm sóc người cao tuổi theo hình thức phù hợp, tiến tới xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người cao tuổi; ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ chăm sóc người cao tuổi (mạng xã hội, Internet...).".

Về đào tạo, tập huấn chuyên môn cho người làm công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, Quyết định số 1116/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung giải pháp quy định ở điểm e khoản 2 Mục III Điều 1 như sau: "a) Đào tạo, tập huấn chuyên môn cho người làm công tác chăm sóc người cao tuổi ở Bệnh viện Lão khoa Trung ương, bệnh viện lão khoa tỉnh, thành phố hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa, cơ sở y tế khu vực, trạm y tế cấp xã; cơ sở chăm sóc sức khỏe; cán bộ dân số và tình nguyện viên ở cơ sở;".

Bộ Y tế vận hành cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày

Ngoài ra, Quyết định số 1116/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung Mục II Điều 2 quy định trách nhiệm của các đơn vị chức năng liên quan.

Trong đó, Quyết định số 1116/QĐ-TTg quy định Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch, bố trí nhân lực, phương tiện để tổ chức triển khai thực hiện Chương trình trên phạm vi toàn quốc; lồng ghép các nội dung của Chương trình vào các chương trình, dự án khác về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; tổ chức kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình; định kỳ báo cáo theo quy định;

Nghiên cứu, xây dựng, vận hành cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày. Tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Bố trí các dự án về chăm sóc người cao tuổi vào trong các chương trình, dự án đầu tư công trung hạn, hằng năm của Bộ Y tế gửi Bộ Tài chính để tổng hợp trình Chính phủ theo quy định; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thành lập cơ sở chăm sóc người cao tuổi theo hình thức xã hội hóa; hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức triển khai Chương trình.

Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng kế hoạch; triển khai và giám sát việc thực hiện Chương trình; lồng ghép các hoạt động của Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vào các nội dung của Chương trình nhân rộng câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau và các chương trình, dự án khác về chăm sóc người cao tuổi...

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch hoặc Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của tỉnh, thành phố theo hướng dẫn của Bộ Y tế và các quy định hiện hành, trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức triển khai thực hiện; bố trí nhân lực, phương tiện, kinh phí thực hiện Chương trình và các hoạt động theo điều kiện đặc thù của địa phương trong dự toán ngân sách hằng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; lồng ghép có hiệu quả Chương trình với các đề án, dự án khác trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám sát và báo cáo kết quả thực hiện Chương trình theo quy định.

Quy định về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và quản lý an toàn hàng không 

Ngày 22/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 221/2026/NĐ-CP quy định về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và quản lý an toàn hàng không.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 5.

Việc giám sát an toàn hàng không được thực hiện thông qua các chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt hoặc thực hiện đột xuất

Trong đó, Nghị định quy định rõ về quản lý an toàn hàng không bao gồm: quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động giám sát an toàn hàng không; xây dựng chương trình và tài liệu hướng dẫn giám sát an toàn hàng không; Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam; yêu cầu về Hệ thống quản lý an toàn; hệ thống thu thập, đánh giá và xử lý dữ liệu an toàn hàng không; Trung tâm dữ liệu an toàn hàng không; mức độ không tuân thủ và biện pháp khắc phục đối với tổ chức, cá nhân; quy định về miễn trừ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong xây dựng và thúc đấy văn hóa an toàn hàng không; báo cáo sự cố an toàn hàng không bắt buộc; quy định về giám sát viên an toàn hàng không. Cụ thể:

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động giám sát an toàn hàng không

Nghị định quy định, hoạt động giám sát an toàn hàng không phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các tiêu chuẩn, hướng dẫn của ICAO; bảo đảm tính độc lập, khách quan, công khai, minh bạch, hệ thống và liên tục.

Việc giám sát an toàn hàng không được thực hiện thông qua các chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt hoặc thực hiện đột xuất; ưu tiên nguồn lực giám sát đối với các lĩnh vực, đối tượng có nguy cơ rủi ro cao uy hiếp an toàn hàng không (giám sát dựa trên rủi ro).

Quá trình giám sát an toàn hàng không phải tuân thủ các quy trình, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ do Nhà chức trách hàng không Việt Nam ban hành; bảo đảm thống nhất trong việc đánh giá, kết luận và xử lý các vấn đề an toàn.

Hoạt động giám sát an toàn hàng không phải được thực hiện bởi giám sát viên an toàn hàng không đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực, chuyên môn và kinh nghiệm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Xây dựng chương trình và tài liệu hướng dẫn giám sát an toàn hàng không

Theo Nghị định, Nhà chức trách hàng không Việt Nam có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình giám sát an toàn hàng không hằng năm đối với các lĩnh vực tàu bay, khai thác tàu bay; bảo đảm hoạt động bay; cảng hàng không, bãi cất, hạ cánh và các lĩnh vực khác theo quy định.

Chương trình giám sát an toàn hàng không phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Xác định cụ thể đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức và tần suất giám sát định kỳ đối với từng lĩnh vực chuyên ngành.

Được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá hồ sơ rủi ro an toàn, kết quả giám sát của các kỳ trước đó.

Phù hợp với quy mô, phạm vi hoạt động, năng lực quản lý an toàn của đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát.

Chương trình giám sát an toàn hàng không và hệ thống tài liệu hướng dẫn giám sát an toàn hàng không phải được rà soát, đánh giá định kỳ hằng năm hoặc khi cần thiết để bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn, quy mô công tác bảo đảm an toàn hàng không, quy định pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn, hướng dẫn của ICAO.

Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam

Nghị định quy định, Nhà chức trách hàng không Việt Nam có trách nhiệm xây dựng, tổ chức thực hiện, duy trì, rà soát và cập nhật Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tiêu chuẩn, khuyến cáo của ICAO; thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam.

Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam bao gồm các nội dung sau đây:

a- Chính sách, mục tiêu và nguồn lực bảo đảm an toàn hàng không

Ban hành và duy trì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, công cụ quản lý và thông tin thiết yếu phục vụ công tác quản lý, giám sát an toàn hàng không.

Thiết lập hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp trong quản lý giám sát an toàn hàng không; ban hành và duy trì chính sách an toàn hàng không và mục tiêu an toàn hàng không; bảo đảm vai trò của Nhà chức trách hàng không Việt Nam trong công tác ứng phó khẩn nguy và quản lý khủng hoảng ở cấp Nhà nước.

Quy định tiêu chuẩn, điều kiện, năng lực của nhân lực kỹ thuật thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát an toàn hàng không bảo đảm giám sát viên an toàn hàng không đáp ứng các quy định.

Ban hành các tài liệu hướng dẫn, trang bị các thiết bị, phương tiện, công cụ để thực hiện bảo đảm an toàn hàng không.

b- Quản lý rủi ro an toàn hàng không

Thực hiện cấp phép, cấp giấy chứng nhận, phê chuẩn, chấp thuận, cho phép đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng không dân dụng theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng áp dụng triển khai hệ thống quản lý an toàn theo quy định của pháp luật.

Thiết lập và duy trì cơ chế, nội dung điều tra tai nạn, sự cố tàu bay dân dụng theo quy định của pháp luật.

Thiết lập và triển khai quy trình nhận diện mối nguy, thu thập, xử lý và phân tích thông tin an toàn nhằm đánh giá rủi ro an toàn hàng không.

Áp dụng các biện pháp quản lý, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro an toàn phát sinh từ các mối nguy đã được nhận diện.

c- Bảo đảm an toàn hàng không

Thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát an toàn hàng không đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng không dân dụng.

Thiết lập và áp dụng các chỉ số thực hiện an toàn, mục tiêu an toàn và cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện mục tiêu an toàn của hệ thống hàng không dân dụng.

Thực hiện quản lý sự thay đổi, đánh giá hiệu lực của các biện pháp kiểm soát rủi ro an toàn.

Rà soát, hoàn thiện Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam.

d- Thúc đẩy an toàn hàng không

Tuyên truyền, phổ biến chính sách, mục tiêu và yêu cầu về an toàn hàng không; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; chia sẻ, trao đổi thông tin an toàn nhằm hỗ trợ phòng ngừa, cảnh báo và thúc đẩy văn hóa an toàn trong cộng đồng hàng không dân dụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Xây dựng và triển khai chính sách, tiêu chí đánh giá nhằm tôn vinh, khen thưởng hằng năm đối với tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác bảo đảm an toàn hàng không.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Bỏ quy định dành 10% số thu ngân sách từ đất đai để thực hiện đo đạc, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 161/NQ-CP về việc bãi bỏ các quy định có liên quan đến việc dành tối thiểu 10% số thu ngân sách từ đất đai để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 6.

Bỏ các quy định có liên quan đến việc dành tối thiểu 10% số thu ngân sách từ đất đai để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính - Ảnh minh họa

Nghị quyết nêu rõ: Từ năm 2026, không áp dụng nội dung quy định dành tối thiểu 10% nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính tại các nghị quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đã được ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực (22/6/2026).

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 22/6/2026.

Nghị quyết về Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường 

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 162/NQ-CP ngày 23/6/2026 về Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 7.

Chính phủ thống nhất nội dung Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.

Cụ thể, Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường do Bộ Khoa học và Công nghệ trình tại Tờ trình số 99/TTr-BKHCN ngày 21/5/2026 và đã được chỉnh lý, hoàn thiện theo Công văn số 4161/BKHCN-TĐC ngày 15/6/2026.

Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm về tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ hoàn thiện hồ sơ dự án Luật để trình Quốc hội.

Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.

Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội và chủ động báo cáo, giải trình trong quá trình thẩm tra, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự án Luật này.

Phê duyệt Đề án "Tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1125/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 phê duyệt Đề án "Tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/6/2026- Ảnh 8.

Đề án được triển khai trên phạm vi toàn quốc; hướng tới toàn thể Nhân dân, trong đó chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng dễ bị tác động bởi các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Mục tiêu tổng quát của Đề án nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện sớm, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; nâng cao năng lực truyền thông, dự báo, cảnh báo và ứng phó của quốc gia; góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Về nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, phấn đấu đến năm 2030, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp được quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Chiến lược quốc gia về phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

100% bộ, ngành, địa phương và đơn vị lực lượng vũ trang đưa nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm.

Về nâng cao nhận thức, kỹ năng của Nhân dân, phấn đấu 100% cơ sở giáo dục triển khai hoạt động tuyên truyền, giáo dục phù hợp về phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Hằng năm, các bộ, ngành, địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền thường xuyên và chuyên đề phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn và lĩnh vực quản lý.

Phấn đấu tới năm 2030, 100% tỉnh, thành phố có ít nhất 01 mô hình điểm về tuyên truyền, nâng cao năng lực ứng phó đe dọa an ninh phi truyền thống

Về nâng cao năng lực truyền thông và ứng phó khủng hoảng truyền thông, đặt mục tiêu 100% bộ, ngành, địa phương xây dựng đầu mối và cơ chế phối hợp truyền thông về các vấn đề liên quan đến an ninh phi truyền thống.

Hằng năm tổ chức các đợt tuyên truyền trọng điểm cấp quốc gia, cấp bộ, ngành, địa phương gắn với các nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên; từng bước nâng cao năng lực xử lý tin giả, thông tin sai lệch và khủng hoảng truyền thông.

Đối với việc xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, phấn đấu 100% tỉnh, thành phố xây dựng và duy trì ít nhất 01 mô hình điểm về tuyên truyền, nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Từng bước nhân rộng các mô hình hiệu quả trong cộng đồng dân cư, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các địa bàn trọng điểm.

Đề án đặt ra tầm nhìn đến năm 2045, hình thành xã hội an toàn, có khả năng thích ứng cao; công tác tuyên truyền trở thành hoạt động thường xuyên, có hệ sinh thái truyền thông hiện đại; người dân có kỹ năng tự phòng ngừa, tự bảo vệ; hệ thống chính trị và lực lượng nòng cốt đủ năng lực dự báo, cảnh báo sớm, xử lý khủng hoảng truyền thông và ứng phó toàn diện với mọi đe dọa an ninh phi truyền thống.

8 nhiệm vụ, giải pháp

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể sau: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác tuyên truyền về an ninh phi truyền thống; chuẩn hóa nội dung tuyên truyền, xây dựng hệ thống thông điệp quốc gia về phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống; đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền, lấy chuyển đổi số và truyền thông số làm hướng đột phá; nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, truyền thông nguy cơ và ứng phó khủng hoảng truyền thông; gắn công tác tuyên truyền với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm an ninh tư tưởng và an ninh thông tin trên không gian mạng; xây dựng xã hội chủ động phòng ngừa, nâng cao khả năng thích ứng và sức chống chịu trước các đe dọa an ninh phi truyền thống; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh phối hợp liên ngành, liên vùng và hợp tác quốc tế; bảo đảm nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện Đề án.

Đề án được triển khai trên phạm vi toàn quốc; áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, cơ quan báo chí, truyền thông và các tổ chức, cá nhân có liên quan; hướng tới toàn thể Nhân dân, trong đó chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng dễ bị tác động bởi các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Tiến độ thực hiện cụ thể như sau:

- Giai đoạn 2026 – 2028: Tổ chức quán triệt, ban hành kế hoạch triển khai; xây dựng, hoàn thiện hệ thống tài liệu, thông điệp tuyên truyền; kiện toàn cơ chế phối hợp, cơ sở dữ liệu và lực lượng nòng cốt; triển khai các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, xây dựng mô hình điểm; tổ chức kiểm tra, đánh giá và sơ kết giai đoạn.

- Giai đoạn 2029 – 2030: Tiếp tục triển khai đồng bộ các hoạt động tuyên truyền; nhân rộng mô hình hiệu quả; hoàn thiện cơ chế phối hợp, truyền thông phản ứng nhanh và xử lý khủng hoảng truyền thông; tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; tổng kết Đề án, đề xuất định hướng, nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo.

- Tầm nhìn đến năm 2045: Tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống truyền thông quốc gia về phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống theo hướng hiện đại, đồng bộ, đa nền tảng; nâng cao năng lực thích ứng của xã hội, góp phần xây dựng nền an ninh quốc gia chủ động, vững chắc trong mọi tình huống.

Thủ tướng bổ nhiệm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1118/QĐ-TTg ngày 22/6/2026 bổ nhiệm đồng chí Trung tướng Trương Mạnh Dũng, Tư lệnh Quân khu 1 giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 22/6/2026./.