
Chính phủ ban hành Nghị định số 189/2026/NĐ-CP ngày 28/5/2026 quy định về phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Nghị định này quy định về hoạt động phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị do tổ chức, cá nhân thực hiện không sử dụng ngân sách nhà nước để tổ chức phát hành, phổ biến; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động này; trình tự, cách thức thực hiện và cơ chế xử lý doanh thu phát sinh từ hoạt động phát hành, phổ biến phim.
Theo quy định, phim phục vụ nhiệm vụ chính trị là phim được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng theo quy định, có nội dung phù hợp để tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề cao giá trị văn hóa, lịch sử, cách mạng; lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc, trẻ em, vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao tư tưởng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời phục vụ các mục tiêu chính trị, xã hội khác.
Phim phục vụ nhiệm vụ chính trị bao gồm phim sử dụng ngân sách nhà nước và phim được Nhà nước nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Nguyên tắc phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị
Nghị định quy định việc phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị phải bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng phim của người xem phù hợp với từng loại hình phim và đối tượng thụ hưởng; tuân thủ quy định của pháp luật về điện ảnh, pháp luật về sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và quyền liên quan và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước phát hành, phổ biến phim phải được quản lý, hạch toán, quyết toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về kế toán.
Khuyến khích, ưu tiên cơ sở sản xuất phim tham gia phát hành, phổ biến phim do mình sản xuất, phù hợp với phương án phát hành, phổ biến phim và bảo đảm hiệu quả phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuân thủ quy định của pháp luật.
Khuyến khích các hoạt động phát hành, phổ biến phim có phát sinh doanh thu trên cơ sở bảo đảm: Thực hiện công khai, minh bạch; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia và người xem; phù hợp với định hướng mục tiêu chính trị, xã hội của phim.
Quyền và nghĩa vụ của cơ quan đại diện chủ sở hữu phim
Nghị định quy định rõ quyền và nghĩa vụ của cơ quan đại diện chủ sở hữu phim đối với phim sản xuất toàn bộ từ ngân sách nhà nước.
Cụ thể, cơ quan đại diện chủ sở hữu phim có quyền: Quyết định lựa chọn kế hoạch và đối tác trong việc phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị phù hợp với mục tiêu tuyên truyền, nội dung tư tưởng, chính trị của phim, đối tượng thụ hưởng, khả năng phát hành, phổ biến có doanh thu của phim hoặc trên cơ sở thỏa thuận với tổ chức, cá nhân tham gia phát hành, phổ biến, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu phim ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch phát hành, phổ biến phim; có quyền đồng ý bằng văn bản hoặc ký kết hợp đồng phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị không phát sinh doanh thu và đồng ý bằng văn bản và ký kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân về kế hoạch phát hành, phổ biến phim có phát sinh doanh thu.
Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí hợp pháp khác để thực hiện hoạt động phát hành, phổ biến phim; xử lý vi phạm theo thỏa thuận đã ký kết và theo quy định của pháp luật; trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định; thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật về điện ảnh, quy định của pháp luật khác có liên quan và theo văn bản đồng ý hoặc hợp đồng đã ký kết.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu phim có nghĩa vụ: Quản lý, sử dụng và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với kinh phí phát hành, phổ biến phim theo quy định của pháp luật; công khai Danh mục phim trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức kiểm tra, giám sát và thực hiện chế độ báo cáo, thống kê đối với hoạt động phát hành, phổ biến phim; thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về điện ảnh, quy định của pháp luật khác có liên quan và theo văn bản đồng ý hoặc hợp đồng đã ký kết.

Chính phủ ban hành Nghị định số 186/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 và Nghị định số 46/2024/NĐ-CP ngày 04/5/2024 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 99/2013/NĐ-CP).
Cụ thể, Nghị định số 186/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm a, khoản 3 Điều 3 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP về các biện pháp khắc phục hậu quả, theo hướng bổ sung biện pháp "ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ngoài các biện pháp như "buộc trả lại" hoặc "thu hồi". Cụ thể:
"a) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, phương tiện kinh doanh; buộc hoàn trả tên miền; buộc thu hồi tên miền; ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; buộc thay đổi tên doanh nghiệp, tên hộ kinh doanh; loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp, tên hộ kinh doanh;".
Sửa đổi nguyên tắc xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Nghị định số 186/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 30 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP về nguyên tắc xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Theo đó, khi phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, người có thẩm quyền xử phạt và công chức, viên chức đang thi hành công vụ có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính.
Mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi tổ chức, cá nhân vi phạm đều bị xử phạt đối với hành vi đó. Trường hợp một tổ chức, cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần theo quy định của Nghị định này thì bị xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.
Việc xác định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP.
Việc xử lý vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp trên môi trường điện tử được thực hiện khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin và các yêu cầu theo quy định tại Điều 18a Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương III của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Bổ sung biện pháp ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Nghị định số 186/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 31 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP về thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Cụ thể:
Đối với khoản 2 về biện pháp khắc phục hậu quả buộc thay đổi tên doanh nghiệp hoặc buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp, Nghị định số 186/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng từ doanh nghiệp sang cả hộ kinh doanh đối với biện pháp buộc thay đổi tên hoặc loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên gọi. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện sau khi thay đổi tên, tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan xử phạt và cơ quan đăng ký kinh doanh. Đáng chú ý, quy định mới cũng bổ sung trách nhiệm xử lý các trường hợp tên doanh nghiệp, hộ kinh doanh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đối với khoản 3 về biện pháp khắc phục hậu quả buộc hoàn trả tên miền, Nghị định số 186/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về biện pháp khắc phục hậu quả đối với tên miền vi phạm. Quy định mới thay cụm từ "trả lại tên miền" bằng "hoàn trả tên miền", đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc thu hồi tên miền và bổ sung nghĩa vụ báo cáo kết quả thu hồi tên miền trong vòng 10 ngày kể từ khi hoàn tất việc thu hồi.
Đáng chú ý, Nghị định số 186/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 về biện pháp khắc phục hậu quả ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Theo đó, trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ban hành quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập đối với tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm áp dụng biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn truy cập đến tên miền trên mạng Internet tại Việt Nam và gửi văn bản báo cáo kết quả cho cơ quan ban hành quyết định xử phạt trong vòng 10 ngày sau khi hoàn tất việc ngăn chặn truy cập tên miền.
Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định khôi phục truy cập đối với tên miền, doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm khôi phục truy cập đến tên miền trên mạng Internet tại Việt Nam trong vòng 3 ngày kể từ khi nhận được quyết định khôi phục truy cập tên miền và gửi văn bản báo cáo cho người ban hành quyết định trong vòng 10 ngày kể từ ngày hoàn tất việc khôi phục truy cập.
Phân định và nâng cao thẩm quyền xử phạt
Ngoài ra, Nghị định số 186/2026/NĐ-CP đã chi tiết hóa thẩm quyền xử phạt cho từng chức danh thuộc nhiều lực lượng thực thi khác nhau thuộc các Bộ, ngành, cơ quan liên quan: Bộ Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an; Chủ tịch UBND các cấp và Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Xác định mức thẩm quyền phạt tiền rất cao cho người đứng đầu các lực lượng thực thi chuyên ngành, lên tới 250.000.000 đồng.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/7/2026./.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 948/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam về trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế.
Kế hoạch hành động này để thực hiện đầy đủ, thực chất và kịp thời các khuyến nghị của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế (Diễn đàn Toàn cầu) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).
Thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế để nâng cao xếp hạng mức độ tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch và trao đổi thông tin thuế; tạo cơ sở để OECD và Liên minh châu Âu (EU) ghi nhận, đánh giá tích cực và xem xét đưa Việt Nam ra khỏi "Danh sách các vùng tài phán không hợp tác về thuế" của EU; củng cố uy tín, vị thế quốc gia, bảo đảm lợi ích quốc gia, chủ quyền tài chính - tiền tệ và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế bền vững.
Hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý
Mục tiêu cụ thể của Kế hoạch là hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý gồm Luật và các văn bản hướng dẫn Luật để quy định đầy đủ cơ sở pháp lý, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc yêu cầu, thu thập và tiếp cận thông tin phục vụ trao đổi thông tin theo yêu cầu, bảo đảm không tồn tại rào cản pháp lý làm cản trở việc thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của Diễn đàn Toàn cầu và phù hợp với tình hình thực tế trong nước.
Thiết lập và hoàn thiện quy trình tổ chức và vận hành (cơ chế thực thi) phù hợp để nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính kịp thời trong công tác trao đổi thông tin theo yêu cầu. Xây dựng các chỉ tiêu cụ thể để bảo đảm triển khai đồng bộ và hiệu quả các hành động khắc phục theo Báo cáo rà soát đồng cấp. Tăng cường, đẩy mạnh phối hợp, hợp tác, trao đổi liên bộ, ngành trong công tác trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuê, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả việc thực hiện các khuyến nghị của Diễn đàn toàn cầu đối với Việt Nam tại Báo cáo rà soát đồng cấp về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, thống kê và đánh giá định kỳ việc thực hiện để bảo đảm hiệu quả trong thực thi có thể đo lường và chứng minh được. Cơ chế theo dõi thường xuyên, kịp thời xác định khó khăn, vướng mắc để điều chỉnh chính sách và biện pháp thực thi phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam; hoàn thiện nền tảng hạ tầng, hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý dữ liệu và chia sẻ dữ liệu liên bộ, ngành hiệu quả để bảo đảm tính sẵn có của thông tin trong công tác trao đổi thông tin.
Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn và thường xuyên cập nhật các chuẩn mực quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu nhằm kịp thời áp dụng các tiêu chuẩn của Diễn đàn toàn cầu phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, linh hoạt, có trình độ, năng lực đáp ứng hiệu quả công tác trao đổi thông tin.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trao đổi, chia sẻ, cung cấp, thu thập thông tin và hợp tác quốc tế về thuế trong công tác trao đổi thông tin theo yêu cầu. Tăng cường các hoạt động đối thoại và hợp tác với Liên minh Châu Âu, các tổ chức quốc tế, diễn đàn quốc tế và các quốc gia/vùng lãnh thổ có liên quan nhằm phối hợp và chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm về trao đổi thông tin theo yêu cầu trên cơ sở tương hỗ.
Các nhiệm vụ trọng tâm
Để đạt được các mục tiêu trên, Kế hoạch sẽ thực hiện 2 nhiệm vụ trọng tâm: 1- Triển khai các hành động quốc gia để thực hiện đầy đủ, kịp thời và thực chất các khuyến nghị của Diễn đàn Toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế; 2- Tăng cường hợp tác quốc tế, đối thoại chính sách và phối hợp liên ngành trong quá trình triển khai.
Về nhiệm vụ triển khai các hành động quốc gia để thực hiện đầy đủ, kịp thời và thực chất các khuyến nghị của Diễn đàn Toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế, Kế hoạch sẽ thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ (hoàn thiện thể chế; cơ chế thực thi; hạ tầng và dữ liệu; kiểm tra, giám sát và chứng minh thực thi; đào tạo và nâng cao năng lực) với 25 hành động cụ thể.
Đối với nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế, đối thoại chính sách và phối hợp liên ngành trong quá trình triển khai, Kế hoạch sẽ thực hiện hành động 26: Chủ động duy trì cơ chế trao đổi, đối thoại và phối hợp với OECD, Diễn đàn Toàn cầu, Liên minh châu Âu và các đối tác liên quan để cập nhật yêu cầu kỹ thuật, phản ánh tiến độ thực hiện của Việt Nam, kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh và củng cố cơ sở phục vụ đánh giá tích cực đối với Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 956/QĐ-TTg ngày 28/5/2026 về việc thay đổi Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về trẻ em.
Cụ thể, Quyết định phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thực hiện nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về trẻ em.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (28/5/2026) và thay thế khoản 1 Điều 1 Quyết định số 427/QĐ-TTg ngày 11/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Quốc gia về trẻ em.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 28/5/2026 bổ nhiệm kiêm giữ chức Ủy viên Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội.
Cụ thể, Thủ tướng bổ nhiệm kiêm nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội đối với các ông có tên sau:
Ông Nguyễn Quang Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thay ông Vũ Hải Sản, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nghỉ công tác theo chế độ.
Ông Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, thay ông Trần Quốc Tỏ, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an đã nghỉ công tác theo chế độ.
Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 28/5/2026./.