Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Thực hiện Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, ngày 26/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

Chính phủ quy định chi tiết tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố và trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
Nghị định gồm 05 chương, 20 điều, quy định tương đối toàn diện về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, là cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương khẩn trương triển khai sắp xếp thôn, tổ dân phố; rà soát, bố trí, kiện toàn và hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Về tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố, Nghị định quy định như sau:
Quy mô số hộ gia đình (*)
a) Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;
b) Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc: Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;
c) Ở vùng đồng bằng sông Hồng: Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;
d) Ở vùng Bắc Trung bộ: Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
đ) Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
e) Ở vùng Đông Nam bộ: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;
g) Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Trường hợp Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định này thì áp dụng tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố theo quy định tại (*).
Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù
a) Đối với thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn, thôn ở địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; thôn, tổ dân phố ở địa bàn biên giới, hải đảo hoặc thuộc khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư; thôn, tổ dân phố nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định tại (*).
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc thù quy định tại điểm a, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, yêu cầu quản lý địa bàn, tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư, tính ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Căn cứ nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm:
a) Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã;
b) Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, gồm các nội dung chủ yếu sau: Sự cần thiết; hiện trạng quy mô số hộ gia đình; phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; tên gọi của thôn, tổ dân phố; điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố; phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động không chuyên trách và các nội dung có liên quan;
c) Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân;
d) Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu tổ chức xây dựng Đề án, lấy ý kiến Nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định.
Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b và điểm c nêu trên và dự thảo Quyết định của Ủy ban nhân dân đặc khu.
Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu ban hành Quyết định về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Nghị định quy định trình tự giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có như sau:
1. Trường hợp giải thể thôn, tổ dân phố
Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể.
Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Tờ trình về việc giải thể thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ giải thể thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể; báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định; dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc giải thể thôn, tổ dân phố.
Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét ban hành Nghị quyết về giải thể thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
2. Trường hợp đổi tên thôn, tổ dân phố
Ủy ban nhân dân cấp xã lập Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, trong đó nêu rõ lý do của việc đổi tên thôn, tổ dân phố; tên của thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên.
Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình và Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố; báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân; dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc đổi tên thôn, tổ dân phố.
Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về đổi tên thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
3. Trường hợp ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
Ủy ban nhân dân cấp xã lập Phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có, trong đó nêu rõ sự cần thiết của việc ghép cụm dân cư; phạm vi cụm dân cư được ghép; số hộ gia đình; thôn, tổ dân phố tiếp nhận.
Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân tại cụm dân cư được ghép và thôn, tổ dân phố tiếp nhận bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân.
Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu thực hiện trình tự xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến Nhân dân đối với việc giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố, ghép cụm dân cư theo quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 nêu trên. Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu xem xét, ban hành Quyết định về việc giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố hoặc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có trên địa bàn.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/5/2026; bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
Chính phủ ban hành Nghị định số 183/2026/NĐ-CP ngày 25/5/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 6/1/2022 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; thủy lợi; đê điều.

Để nguyên liệu, vật liệu, vật tư, phương tiện vào công trình phòng, chống thiên tai; thủy lợi; đê điều bị phạt nặng.
Trong đó, Nghị định số 183/2026/NĐ-CP bổ sung thêm mức phạt đối với một số hành vi liên quan đến đổ đất, chất thải, để nguyên liệu, vật liệu, vật tư, phương tiện vào công trình phòng, chống thiên tai.
Cụ thể, Nghị định số 183/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 10 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi để phương tiện vào công trình kè, công trình chống sạt lở, công trình chống sụt lún đất, công trình chống lũ quét, công trình cảnh báo thiên tai.
Hành vi mở rộng quy mô công trình hiện có trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi quy định ở khoản 4 Điều 24 của Nghị định số 03/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định mức phạt tăng dần theo quy mô công trình xây dựng, lấn chiếm vượt phép với mức phạt từ 2.000.000 đồng đến 100.000.0000 đồng.
Cụ thể, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình dưới 05 m2 hoặc tăng chiều dài dưới 10 m đối với công trình dạng tuyến, tường;
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình từ 05 m2 đến dưới 10 m2 hoặc tăng chiều dài từ 10 m đến dưới 20 m đối với công trình dạng tuyến, tường;
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình từ 10 m2 đến dưới 20 m2 hoặc tăng chiều dài từ 20 m đến dưới 40 m đối với công trình dạng tuyến, tường;
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình từ 20 m2 đến dưới 30 m2 hoặc tăng chiều dài từ 40 m đến dưới 60 m đối với công trình dạng tuyến, tường;
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình từ 30 m2 đến dưới 50 m2 hoặc tăng chiều dài từ 60 m đến dưới 80 m đối với công trình dạng tuyến, tường;
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng, mở rộng, lấn chiếm làm tăng diện tích công trình từ 50 m2 trở lên hoặc tăng chiều dài từ 80 m trở lên đối với công trình dạng tuyến, tường.
Ngoài ra, Nghị định số 183/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm khoản 7a, 7b vào sau khoản 7 quy định về phạt tiền đối với hành vi xây dựng các công trình không có giấy phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
7a. Phạt tiền đối với hành vi xây dựng nhà ở, nơi sản xuất và các công trình kiên cố khác không có giấy phép hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự trừ công trình quy định tại khoản 7b ở dưới như sau:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình có diện tích dưới 10 m2;
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình có diện tích từ 10 m2 đến dưới 20 m2;
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình có diện tích từ 20 m2 đến dưới 40 m2;
- Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình có diện tích từ 40 m2 đến dưới 50 m2;
- Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình có diện tích từ 50 m2 trở lên.
7b. Phạt tiền đối với hành vi xây dựng cầu không có giấy phép hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu tạm dân sinh;
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài dưới 05 m;
- Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài từ 05 m đến dưới 07 m;
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài từ 07 m đến dưới 10 m;
- Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài từ 10 m đến dưới 15 m;
- Phạt tiền từ 110.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài từ 15 m đến dưới 20 m;
- Phạt tiền từ 180.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cầu kiên cố có chiều dài từ 20 m trở lên.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 10/7/2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Công văn số 573/TTg-KGVX ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc triển khai Tháng hành động phòng, chống ma tuý năm 2026.

Quyết tâm xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy.
Hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy (tháng 6), Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy (26/6), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy từ ngày 01/6/2026 đến ngày 30/6/2026 theo chủ đề "Chung một quyết tâm xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy".
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026 trên phạm vi toàn quốc; mở đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm về ma túy; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức các hoạt động cấp Trung ương hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026: Lễ mít tinh và giải chạy phong trào toàn quốc, chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc biệt hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026 kết hợp triển lãm, truyền thông số và hoạt động hưởng ứng "Ngày tưởng niệm nạn nhân của ma túy". Trong đó, tổ chức nghi lễ Chào cờ trực tuyến toàn quốc kết nối từ Quảng trường Ba Đình, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các điểm cầu trên toàn quốc bảo đảm trang nghiêm, an toàn, đúng nghi thức quốc gia (dự kiến ngày 27/6/2026).
Bộ Quốc phòng chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển phối hợp đấu tranh, ngăn chặn tội phạm ma túy trên tuyến biên giới, cửa khẩu, trên biển; chỉ đạo Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức nghi lễ Chào cờ trực tuyến toàn quốc.
Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường kiểm soát hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, theo chức năng, nhiệm vụ được giao đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy trong trường học; xây dựng, nhân rộng mô hình "Trường học không ma túy"; tổ chức tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và trên nền tảng số và triển khai tin nhắn trên các mạng viễn thông; tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy bảo đảm thiết thực, hiệu quả, lan tỏa rộng rãi trong xã hội. Hỗ trợ hạ tầng phục vụ kết nối trực tuyến hoạt động cấp Trung ương đến các điểm cầu cấp tỉnh, cấp xã trên toàn quốc.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật; phát huy vai trò người có uy tín, chức sắc tôn giáo, cộng đồng dân cư trong phòng, chống ma túy; đẩy mạnh hợp tác quốc tế; nghiên cứu đưa kết quả thực hiện công tác phòng, chống ma túy vào đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai hiệu quả chính sách tín dụng đối với người sau cai nghiện ma túy; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm, ổn định cuộc sống.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp đẩy nhanh tiến độ truy tố, xét xử nghiêm minh các vụ án ma túy lớn; tổ chức xét xử các vụ án điểm phục vụ tuyên truyền, giáo dục, phòng ngừa chung.
Đồng thời, đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực tham gia phòng, chống ma túy; xây dựng, nhân rộng các mô hình khu dân cư, gia đình, cơ quan, trường học không ma túy; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong phòng, chống ma túy.
Bên cạnh đó, đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, các cơ quan báo chí, truyền thông chỉ đạo, định hướng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy gắn với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy.
Tăng cường nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc, quan điểm sai trái liên quan đến công tác phòng, chống ma túy; phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền.
Tăng thời lượng, chuyên trang, chuyên mục, chương trình truyền thông về phòng, chống ma túy trên các loại hình báo chí và nền tảng số. Đài Truyền hình Việt Nam chủ trì tổ chức truyền hình trực tiếp các hoạt động trọng điểm hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026 (ngày 27/6/2026).
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với tình hình thực tế địa phương; tổ chức đồng bộ các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy; tập trung xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy; bố trí nguồn lực, kinh phí và huy động các nguồn lực hợp pháp để triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Công an tổ chức các hoạt động cấp Trung ương.
Các Bộ, cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả gửi về Bộ Công an trước ngày 10/7/2026 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm theo quy định.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 262/TB-VPCP ngày 26/5/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về phát triển nhà ở cho thuê trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì cuộc làm việc với UBND TP Hà Nội và các bộ, ngành về phát triển nhà ở cho thuê trên địa bàn Thủ đô - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Phát triển nhà ở thương mại phân khúc phù hợp với khả năng chi trả của người dân và nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được khẳng định nhất quán tại Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư và Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng.
Thời gian qua, công tác phát triển nhà ở xã hội đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế và điểm nghẽn lớn cần tập trung tháo gỡ như: Thị trường nhà ở còn lệch pha giữa cung và cầu; cơ cấu sản phẩm thiên về nhà ở thương mại và nhà ở để bán, trong khi phân khúc nhà ở cho thuê dài hạn đáp ứng nhu cầu thực sự về nhà ở với giá hợp lý còn rất thiếu; một bộ phận tài sản công về nhà ở bị sử dụng chưa hiệu quả, gây lãng phí; cơ chế, chính sách chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư nhà ở cho thuê dài hạn.
Đây là những vấn đề đã tích tụ, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, nhưng phải triển khai ngay, làm quyết liệt, đồng bộ để đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên - những đối tượng có nhu cầu rất lớn về nhà ở.
Để tháo gỡ những tồn tại, hạn chế vướng mắc nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, các bộ, ngành triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới như sau:
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quy hoạch Thủ đô Hà Nội được định hướng phát triển các khu đô thị đa mục tiêu; đồng thời, Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 ngày 23/4/2026 đã trao quyền cho Hà Nội được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố Hà Nội, trong đó có nhà ở cho thuê.
Do đó, thành phố Hà Nội ưu tiên làm điểm trước, đi tiên phong; khẩn trương rà soát toàn bộ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và nông thôn, quỹ đất, quỹ nhà tài sản công đang sử dụng kém hiệu quả để có phương án sắp xếp, phát triển mô hình nhà ở cho thuê tại Hà Nội; trong đó, phải xử lý dứt điểm tình trạng tài sản công về nhà ở đang bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả trên địa bàn theo thẩm quyền, gắn với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị liên quan; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trong tháng 6/2026.
Bên cạnh đó, chủ động rà soát nhu cầu, đối tượng, chủ động triển khai cơ chế đầu tư xây dựng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng, nghiên cứu có cơ chế tài chính phù hợp, áp dụng giá thuê dài hạn phù hợp với khả năng chi trả, cơ chế quản lý vận hành chuyên nghiệp, hiện đại và triển khai mô hình nhà ở cho thuê quy mô lớn đáp ứng nhu cầu thực tế về nhà ở của người dân sinh sống, làm việc tại Hà Nội; sử dụng linh hoạt nguồn thu từ nhà ở thương mại (bao gồm cả nhà ở xã hội) bằng tiền để đầu tư cho nhà ở cho thuê theo quy định.
Đồng thời, xây dựng Kế hoạch đầu tư, xây dựng, vận hành dự án nhà ở cho thuê, chủ động đề xuất cơ chế huy động nguồn lực xã hội và việc đầu tư xây dựng, vận hành nhà ở cho thuê gắn với chính sách phù hợp về giao đất, cho thuê đất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trong tháng 7/2026.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khẩn trương nghiên cứu, phối hợp với các Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để triển khai đầu tư xây dựng dự án nhà ở cho thuê; phấn đấu khởi công một số dự án tại Hà Nội trong tháng 6/2026.
Bộ Xây dựng chủ động đề xuất kịp thời các cơ chế, chính sách mới, trong đó nghiên cứu, quán triệt rõ chủ trương chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách vào Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), nhất là tính khả thi của Quỹ nhà ở, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026); phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc sửa đổi Luật đất đai; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2026 để báo cáo cấp có thẩm quyền.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về nhà ở cho thuê, đặc biệt là tiêu chuẩn an toàn, phòng cháy, chữa cháy đối với nhà ở cho thuê quy mô nhỏ và vừa; hoàn thành trong tháng 7/2026.
Chủ động phối hợp với các địa phương, trước hết là các thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng, Đà Nẵng xác định nhu cầu nhà ở cho thuê theo đối tượng, nhu cầu nhà ở của các bộ, cơ quan trực thuộc Trung ương làm cơ sở quy hoạch và phân bổ nguồn lực, tránh lệch pha cung - cầu; hoàn thành trong tháng 7/2026.
Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan và các địa phương đề xuất cơ chế phù hợp để huy động, phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội cho phát triển nhà ở cho thuê, cơ chế vận hành quản lý (trong đó có cho quản lý kinh doanh thương mại tại các khu nhà cho thuê theo hình thức phù hợp), giao chỉ tiêu cụ thể phát triển nhà ở cho thuê trên cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2026. Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất cơ chế cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã được mua lại nhà ở thương mại, nhà ở xã hội với mục đích duy nhất là để cho thuê, hoàn thành trong tháng 6/2026
Chủ trì, phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đánh giá hiệu quả và đề xuất theo thẩm quyền việc chuẩn hóa thiết kế nhà lưu trú công nhân cho thuê; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2026.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, ngành và các địa phương rà soát tổng thể, tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công, trong đó có quỹ nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước (nhà công vụ, nhà ở sinh viên, nhà ở công nhân, nhà ở xã hội...); kiên quyết khắc phục tình trạng nhà ở thuộc tài sản công bị bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả, gây lãng phí; đề xuất các giải pháp, quản lý theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 7/2026.
Bộ Tài chính khẩn trương đề xuất cơ chế bố trí vốn từ nguồn lực của Nhà nước trên cơ sở đề xuất của Bộ Xây dựng và các địa phương để triển khai phát triển nhà ở cho thuê; hướng dẫn theo thẩm quyền cơ chế hạch toán nguồn thu từ các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị để tạo nguồn phát triển nhà ở cho thuê, phương án bảo toàn vốn khi sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư phát triển nhà ở cho thuê; cơ chế ưu đãi tài chính, thuế đối với dự án nhà ở cho thuê dài hạn theo hướng tạo động lực đủ mạnh để thu hút dòng vốn tư nhân và các quỹ đầu tư dài hạn tham gia; hoàn thành trong tháng 7/2026.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương rà soát tổng thể, tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công trên phạm vi cả nước, kiên quyết phòng, chống lãng phí ; chủ động hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong việc rà soát quỹ nhà ở thuộc tài sản công, đề xuất cơ chế khai thác, quản lý theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2026.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì nghiên cứu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ chính sách tín dụng ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án nhà ở cho thuê dài hạn theo hướng ổn định lãi suất, thời hạn vay phù hợp với chu kỳ hoàn vốn của dự án; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2026.
Trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại hoặc cơ chế linh hoạt về hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại khi cho vay phát triển nhà ở cho thuê.
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với thành phố Hà Nội và các địa phương về bố trí quỹ đất và đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang.
Thủ tướng Chính phủ giao Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trực tiếp chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ nêu trên.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 943/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thủ đô (Kế hoạch).

Luật Thủ đô đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, một số quy định có hiệu lực từ ngày được thông qua. Đây là đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của Thủ đô.
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Thủ đô.
Xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền Thành phố Hà Nội và các địa phương, các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình triển khai thi hành Luật Thủ đô.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và Nhân dân trong việc triển khai thi hành Luật Thủ đô và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Thủ đô.
Tổ chức kịp thời, hiệu quả việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến về Luật Thủ đô.
Để đạt được các mục đích nêu trên, Kế hoạch đã đưa ra các nhiệm vụ để các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai cụ thể:
Từ tháng 5/2026, tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô bao gồm:
Đăng tải, cập nhật toàn bộ nội dung văn bản Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô trên các Cổng/Trang thông tin điện tử của các bộ, cơ quan và các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng.
Triển khai các hình thức phổ biến pháp luật phù hợp; biên soạn, đăng tải, phát hành rộng rãi tài liệu phổ biến để cập nhật trên Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Báo Pháp luật Việt Nam và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Hà Nội.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về mục tiêu xây dựng, các nội dung cơ bản của Luật Thủ đô bằng các hình thức cụ thể; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố tổ chức phổ biến Luật Thủ đô; hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí, tạp chí, các đơn vị làm công tác phổ biến của bộ, ngành, địa phương để phổ biến sâu rộng Luật Thủ đô.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chủ trì thực hiện tuyên truyền, phổ biến các văn bản thi hành Luật Thủ đô.
Đề nghị Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí của Thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố có liên quan phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô; mở chuyên trang, chuyên mục để giới thiệu về những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung chính của Luật Thủ đô.
Từ tháng 5/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chủ trì tổ chức các hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn về Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô.
Các cơ quan báo chí, truyền thông của Thành phố Hà Nội phối hợp thông tin, tuyên truyền về các hội nghị, lớp tập huấn và nội dung cơ bản của Luật Thủ đô. Đồng thời, xây dựng chuyên mục, tin, bài phổ biến kiến thức pháp luật và nâng cao hiệu quả triển khai thi hành Luật.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn, giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật.
Đồng thời, các bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ tham gia xây dựng, góp ý văn bản thi hành Luật Thủ đô hoặc có văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho chính quyền Hà Nội, các địa phương có liên quan đối với các cơ chế, chính sách đặc thù trong Luật Thủ đô.
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chủ trì xây dựng các văn bản thi hành Luật Thủ đô thuộc thẩm quyền được giao nhằm cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách của Luật, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo lộ trình.
Bộ Tư pháp tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Thủ đô thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ; tổng hợp kết quả rà soát của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/6/2026.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Thủ đô thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công để đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền; hoàn thành rà soát và gửi kết quả cho Bộ Tư pháp trước ngày 15/6/2026.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương có liên quan đánh giá tình hình thi hành Luật Thủ đô.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp với các tỉnh/thành phố, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan tổ chức họp đánh giá thi hành Luật đối với các dự án liên kết, phát triển vùng; dự án liên kết, phát triển vùng Thủ đô.
Đối với các văn bản quy phạm pháp luật xây dựng, ban hành theo Điều 8 và Điều 9 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ban hành văn bản.
Tổ chức đánh giá hiệu quả đối với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo quy định tại Điều 8 Luật Thủ đô sau 01 năm thi hành và định kỳ hằng năm báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân Thành phố về việc thi hành Luật Thủ đô.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ theo dõi thi hành Luật Thủ đô, tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 941/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hộ tịch (Kế hoạch).

Luật Hộ tịch được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027.
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể công việc, thời hạn, tiến độ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí.
Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Bộ, ngành và địa phương trong việc triển khai thi hành Luật.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành pháp luật về hộ tịch.
Theo Kế hoạch, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch trước ngày 30/11/2026.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch trước ngày 31/12/2026.
Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Cơ quan đại diện và các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng Thông tư hướng dẫn việc đăng ký, quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện, hoàn thành trước ngày 31/12/2026.
Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến triển khai thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cho các Bộ, ngành có liên quan; Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các sở, ban, ngành có liên quan.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bằng hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến cho các cơ quan, đơn vị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Bộ Ngoại giao tổ chức hội nghị triển khai thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cho các Cơ quan đại diện ở nước ngoài theo hình thức trự c tiếp hoặc trực tuyến.
Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026; Quý I/2027.
Trong Quý III, IV/2026, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương xây dựng Kế hoạch truyền thông nhằm phổ biến rộng rãi các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đến người dân, các cơ quan, tổ chức.
Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì biên soạn và cấp phát tài liệu phục vụ công tác truyền thông, phổ biến các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các hoạt động truyền thông, phổ biến rộng rãi các quy định của Luật; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật thông qua các phương tiện truyền thông và các hình thức phù hợp. Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026 và các năm tiếp theo.
Về việc rà soát và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến hộ tịch, đăng ký hộ tịch, các Bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan có liên quan chủ trì rà soát đối với văn bản thuộc lĩnh vực quản lý; xây dựng Báo cáo kết quả rà soát và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý gửi Bộ Tư pháp đối với các văn bản do các cơ quan trung ương ban hành.
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện rà soát đối với văn bản do địa phương ban hành; báo cáo kết quả rà soát và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với văn bản do địa phương ban hành.
Thời gian hoàn thành: trước ngày 01/7/2026.
Bộ Tư pháp tổng hợp kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất của các Bộ, ngành; xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của các cơ quan trung ương trình Chính phủ trước ngày 31/10/2026.
Đối với việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến hộ tịch, đăng ký hộ tịch, trước ngày 01/3/2027, các Bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan có liên quan chủ trì xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì xây dựng, ban hành theo thẩm quyền đối với văn bản do địa phương ban hành.
Bộ Tư pháp xây dựng Đề án nâng cấp Cơ sở dữ liệu hộ tịch trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quý III/2026.
Trước ngày 01/3/2027, Bộ Tư pháp triển khai nâng cấp Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
Trong Quý III/2026, Bộ Tư pháp rà soát, thống kê, hướng dẫn tiếp tục cập nhật, thu thập, làm sạch dữ liệu hộ tịch lịch sử, dữ liệu hộ tịch được số hóa.
Trong Quý IV/2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện cập nhật, thu thập, làm sạch dữ liệu hộ tịch lịch sử, dữ liệu hộ tịch được số hóa.
Về công tác rà soát đội ngũ thực hiện công tác hộ tịch, Ủy ban nhân dân cấp xã hoàn thành việc rà soát đội ngũ thực hiện công tác hộ tịch tại địa phương trước ngày 15/6/2026, báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết quả rà soát và đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí đủ người thực hiện công tác hộ tịch, bảo đảm đủ người thực hiện công tác hộ tịch theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thành việc rà soát đội ngũ thực hiện công tác hộ tịch tại địa phương, đề xuất lộ trình đào tạo, bồi dưỡng và báo cáo kết quả về Bộ Tư pháp trước ngày 01/7/2026.
Bộ Ngoại giao hoàn thành việc rà soát đội ngũ viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự làm công tác hộ tịch tại các Cơ quan đại diện, báo cáo kết quả về Bộ Tư pháp trước ngày 15/9/2026.
Bộ Tư pháp tổng hợp kết quả rà soát, đề xuất kế hoạch đào tạo đội ngũ thực hiện công tác hộ tịch xây dựng Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2026.
Trong Quý III, IV/2026, Bộ Tư pháp xây dựng, biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ hộ tịch cho người thực hiện công tác hộ tịch.
Đồng thời, Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị tập huấn chuyên sâu và bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện công tác liên quan đến hộ tịch ở các cơ quan trung ương và người thực hiện công tác hộ tịch ở địa phương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì triển khai công tác này ở địa phương. Bộ Ngoại giao tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện công tác hộ tịch tại các Cơ quan đại diện ở nước ngoài.
Hình thức tổ chức: Trực tiếp hoặc trực tuyến.
Thời gian thực hiện: Quý III, IV/2026 và những năm tiếp theo.
Hằng năm, Bộ Tư pháp hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện công tác hộ tịch bảo đảm đủ tiêu chuẩn được quy định trong Luật.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiện toàn đội ngũ thực hiện công tác hộ tịch bảo đảm đủ tiêu chuẩn quy định. Thời gian hoàn thành: Từ ngày 01/3/2027, bảo đảm 100% người thực hiện công tác hộ tịch đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định; Ủy ban nhân dân các cấp chỉ bố trí, tuyển dụng mới những người đủ tiêu chuẩn theo quy định để thực hiện công tác hộ tịch.
Trong Quý IV/2027, Bộ Tư pháp xây dựng Đề án thí điểm đăng ký khai sinh chủ động, đăng ký khai tử chủ động.
Đồng thời, thực hiện kết nối, chia sẻ, đồng bộ giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch, Cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế và các cơ sở dữ liệu khác có liên quan phục vụ đăng ký khai sinh chủ động, đăng ký khai tử chủ động trước Quý I/2028. Tổ chức thí điểm vào năm 2028, mở rộng phạm vi thực hiện trong những năm tiếp theo, bảo đảm từ ngày 01/01/2031 thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn quốc.
Năm 2027 và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp kiểm tra công tác tổ chức thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật ở trong nước. Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan đại diện, các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai công tác này ở nước ngoài.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 946/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 về việc sáp nhập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại vào Trường Đại học Điện lực trực thuộc Bộ Công Thương.

Thủ tướng Chính phủ quyết định sáp nhập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại vào Trường Đại học Điện lực.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng người học, nhân sự, tài chính, tài sản của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại vào Trường Đại học Điện lực trực thuộc Bộ Công Thương theo quy định; bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí tài chính, tài sản trong quá trình sáp nhập.
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công Thương chịu trách nhiệm về việc Trường Đại học Điện lực tiếp tục đào tạo, cấp bằng cho người học đang học tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại theo quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học./.