• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/5/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/5/2026.

27/05/2026 19:01
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/5/2026- Ảnh 1.

kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.

 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy

Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.

Nghị định quy định chi tiết về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, trong đó có nội dung đáng chú ý về kiểm soát hoạt động sản xuất và vận chuyển chất ma túy, tiền chất.

Kiểm soát hoạt động sản xuất chất ma túy, tiền chất

Về kiểm soát hoạt động sản xuất chất ma túy, tiền chất, Nghị định quy định chi tiết điều kiện chung về sản xuất chất ma túy, tiền chất như sau:

a) Nhà xưởng/phòng thí nghiệm, trang thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn, phù hợp với quy mô, quy trình sản xuất;

b) Bố trí kho/khu vực lưu giữ, bảo quản riêng các chất ma túy, tiền chất đáp ứng các điều kiện đảm bảo an ninh, an toàn hóa chất, phòng cháy chữa cháy, phòng chống thất thoát;

c) Có trang thiết bị, phương tiện ứng cứu sự cố phù hợp với các đặc tính nguy hiểm của hóa chất và khối lượng hóa chất tồn trữ tại nơi sản xuất;

d) Tài liệu chuyên môn kỹ thuật theo nguyên tắc, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với tính chất, quy mô và công nghệ sản xuất, lưu trữ chất ma túy, tiền chất;

đ) Người phụ trách chuyên môn và người trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất phải có bằng cấp phù hợp chuyên ngành hóa học, ngành dược.

Trình tự, thủ tục cấp phép sản xuất chất ma túy, tiền chất:

Tổ chức được cơ quan có thẩm quyền chỉ định hoặc cho phép thực hiện hoạt động sản xuất chất ma túy, tiền chất tại điểm b khoản 1 Điều 27 của Nghị định này chuẩn bị 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp phép theo quy định, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến về Bộ Công an (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy).

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ và hợp lệ, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có văn bản yêu cầu tổ chức sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Trường hợp hết thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc hồ sơ sửa đổi, bổ sung không đáp ứng yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp phép ban hành văn bản từ chối cấp phép và nêu rõ lý do.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép thẩm định hồ sơ; thực hiện đánh giá thực tế tại tổ chức (nếu cần thiết) và cấp giấy phép sản xuất chất ma túy, tiền chất;

Tùy trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền cấp phép đánh giá về quy mô, khối lượng, mục đích sản xuất; loại chất ma túy, tiền chất được sản xuất để quyết định hồ sơ, điều kiện cấp phép đối với tổ chức có hoạt động sản xuất phải thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đối với thuốc phải kiểm soát đặc biệt và/hoặc hóa chất cần kiểm soát đặc biệt. Cơ quan cấp phép phối hợp với đơn vị chức năng thuộc Bộ Công Thương, Bộ Y tế để thẩm định hồ sơ và trong trường hợp cần thiết thực hiện đánh giá thực tế tại tổ chức xin cấp phép trước khi cấp Giấy phép sản xuất.

Nghị định quy định, thời hạn cấp phép sản xuất được xác định theo hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất nhưng tối đa không quá 02 năm và được gia hạn một lần tối đa không quá 01 năm. Trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy phép, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có trách nhiệm gửi giấy phép sản xuất chất ma túy, tiền chất đến Công an cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiến hành hoạt động sản xuất để phối hợp theo dõi, kiểm tra, giám sát.

Nghị định nêu rõ hoạt động sản xuất chất ma túy, tiền chất phải được kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ khi được cấp phép đến khi sản phẩm hoàn thành theo quy trình:

Tổ chức có hoạt động sản xuất phải thực hiện đúng nội dung theo giấy phép được cấp và chịu sự theo dõi, kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền;

Công an cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiến hành hoạt động sản xuất phối hợp theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất theo quy định của pháp luật;

Trường hợp phát hiện vi phạm, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo ngay cho lực lượng Công an nơi phát hiện vi phạm và cơ quan có thẩm quyền cấp phép để phối hợp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật.

Kiểm soát hoạt động vận chuyển chất ma túy, tiền chất

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép vận chuyển chất ma túy, tiền chất:

Đơn đề nghị cấp giấy phép vận chuyển chất ma túy, tiền chất có các nội dung sau: tên, địa chỉ tổ chức giao và tổ chức nhận chất ma túy; mục đích vận chuyển; tên gọi, mã CAS và mã số hàng hóa, số lượng, hàm lượng chất ma túy; thời gian, hành trình, phương tiện vận chuyển;

Bản sao văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức đề nghị cấp phép và tổ chức thực hiện vận chuyển;

Bản sao có chứng thực hợp đồng vận chuyển giữa tổ chức đề nghị cấp phép vận chuyển với tổ chức thực hiện vận chuyển;

Bản sao có chứng thực giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập chất ma túy (trường hợp vận chuyển từ kho lưu trữ, bảo quản đến cửa khẩu hoặc ngược lại để thực hiện thủ tục hải quan) hoặc giấy tờ hợp lệ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của chất ma túy, tiền chất cần vận chuyển.

Trình tự, thủ tục cấp giấy phép vận chuyển chất ma túy, tiền chất:

Tổ chức cần vận chuyển chất ma túy, tiền chất theo quy định chuẩn bị 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp phép theo quy định gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến về Bộ Công an (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy);

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ và hợp lệ, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có văn bản yêu cầu tổ chức sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Trường hợp hết thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc hồ sơ sửa đổi, bổ sung không đáp ứng yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp phép ban hành văn bản từ chối cấp phép và nêu rõ lý do;

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan có thẩm quyền cấp phép thẩm định và cấp giấy phép vận chuyển.

Nghị định nêu rõ, hoạt động giao nhận, vận chuyển thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất; nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc thực hiện theo quy định của pháp luật về thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt.

Sửa đổi, bổ sung các quy định về giải trình và trách nhiệm xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng

Chính phủ ban hành Nghị định 184/2026/NĐ-CP ngày 25/5/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ.

Bổ sung nguyên tắc và hình thức giải trình

Điều 15 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó.

Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a, 3b vào sau Điều 3 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm giải trình và hình thức giải trình. Theo đó nguyên tắc giải trình phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan và công khai, minh bạch. Đặc biệt, việc thực hiện trách nhiệm giải trình phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, tổ chức.

Về hình thức giải trình, được thực hiện qua hai hình thức là giải trình trực tiếp tại các cuộc họp/buổi làm việc hoặc giải trình bằng văn bản (văn bản giấy hoặc môi trường điện tử).

Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 5a vào sau Điều 5 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định về 7 hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình như sau:

1. Không thực hiện giải trình khi có yêu cầu hợp pháp.

2. Cố ý giải trình không đầy đủ, không trung thực.

3. Cố ý kéo dài thời gian giải trình.

4. Cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin hoặc cản trở việc thực hiện yêu cầu giải trình.

5. Cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ không báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về yêu cầu giải trình, nội dung giải trình và việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

6. Cung cấp thông tin không được phép công khai; cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

7. Không lưu trữ, quản lý hồ sơ giải trình theo quy định của pháp luật.

Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm về trách nhiệm giải trình trong cơ quan, đơn vị mình

Nghị định 184/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình. Trong đó, điểm đáng chú ý là việc người đứng đầu phải "chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình" trong cơ quan, đơn vị mình. Quy định cũ tại Nghị định số 59/2019/NĐ-CP chỉ dừng lại ở việc kiểm tra và xử lý vi phạm của cấp dưới mà chưa nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.

Bên cạnh đó, tại Điều 7 cũng bổ sung thêm trách nhiệm cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ. Theo đó, cá nhân phải chủ động thực hiện giải trình với người yêu cầu. Phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giải trình; phải báo cáo người đứng đầu về yêu cầu giải trình và kết quả thực hiện. Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và trước pháp luật về nội dung giải trình của mình.

Bổ sung trách nhiệm xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình

Ngoài ra, Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a vào sau Điều 7 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định trách nhiệm xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình. Theo đó, Thanh tra Chính phủ ban hành Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ để hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ cho ngành, lĩnh vực mình quản lý.

Nội dung đánh giá tập trung vào các nhóm tiêu chí gồm: tính đầy đủ, kịp thời, chính xác của việc giải trình; mức độ tuân thủ trình tự, thủ tục; mức độ công khai, minh bạch trong giải trình; mức độ đáp ứng yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải trình và đặc biệt là việc xử lý các vi phạm trong thực hiện giải trình.

Kết quả đánh giá này phải được công khai theo quy định của pháp luật để làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

Phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan thanh tra trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng

Đáng chú ý, Nghị định bổ sung một chương mới (Chương Va) gồm 5 điều (39a, 39b,39c,39d,39đ) để phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan thanh tra trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Cụ thể:

Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng đối với người giữ chức vụ từ Thứ trưởng trở lên; người công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, doanh nghiệp do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý; người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương…

Thanh tra Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

Thanh tra tỉnh có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Bên cạnh đó, Điều 39đ của Chương này cũng quy định rõ trách nhiệm khi thanh tra, các cơ quan phải làm rõ hành vi tham nhũng, thiệt hại kinh tế, vai trò của người đứng đầu và kiến nghị hình thức xử lý cũng như các biện pháp xử lý tài sản tham nhũng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước về quyền của người khuyết tật và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 916/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước về quyền của người khuyết tật và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật (Kế hoạch).

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả các quy định của Hiến pháp năm 2013, các quy định pháp luật có liên quan và các nội dung của Kế hoạch thực hiện Công ước về quyền của người khuyết tật tại Quyết định số 1100/QĐ-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước về quyền của người khuyết tật (Công ước CRPD).

Đồng thời, xác định rõ nội dung công việc, lộ trình thực thi các quy định của Công ước về quyền của người khuyết tật và các Khuyến nghị phù hợp sau phiên đối thoại lần thứ nhất của Ủy ban về quyền của người khuyết tật (năm 2025). Từ đó, góp phần bảo đảm quyền, nâng cao sự thụ hưởng của người khuyết tật về sức khỏe, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, việc làm, các lĩnh vực khác phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; bảo đảm các yêu cầu đối ngoại, đối nội, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, cơ quan, địa phương và tăng cường hiệu quả hoạt động phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thực thi Công ước CRPD và các khuyến nghị phù hợp sau phiên đối thoại lần thứ nhất của Ủy ban về quyền của người khuyết tật, đảm bảo triển khai đúng tiến độ, hiệu quả toàn diện kế hoạch thực thi Công ước CRPD của Việt Nam và các khuyến nghị phù hợp sau phiên đối thoại lần thứ nhất của Ủy ban về quyền của người khuyết tật.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong trợ giúp người khuyết tật, đặc biệt là hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên Công ước CRPD và với các cơ quan của Liên hợp quốc trong việc tuyên truyền, phổ biến nội dung Công ước CRPD và các khuyến nghị phù hợp sau phiên đối thoại lần thứ nhất của Ủy ban về quyền của người khuyết tật.

Nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về người khuyết tật

Nhiệm vụ của Kế hoạch là tiếp tục nội luật hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thực thi Công ước và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật; tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về người khuyết tật và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban về quyền của người khuyết tật; tiếp tục tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và đào tạo về Công ước CRPD và pháp luật Việt Nam về quyền của người khuyết tật, về nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc thực thi Công ước CRPD và các khuyến nghị của Ủy ban về quyền của người khuyết tật; mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế để triển khai hiệu quả Công ước CRPD và khuyến nghị của Ủy ban về quyền của người khuyết tật; tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ báo cáo định kỳ, đột xuất theo Công ước CRPD, các khuyến nghị của Ủy ban về quyền của người khuyết tật theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điều ước quốc tế năm 2025.

Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện các chính sách

Theo Kế hoạch, các cơ quan chức năng liên quan rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về người khuyết tật, xác định rõ những vấn đề, nội dung còn chồng chéo, chưa có hướng dẫn cụ thể, khó áp dụng ở cấp cơ sở để đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; xây dựng các quy trình, tiêu chí định lượng đánh giá kết quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ về công tác người khuyết tật đối với từng ngành, từng cấp ở trung ương và địa phương.

Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật về người khuyết tật theo chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành và chính quyền địa phương hai cấp. Đảm bảo việc phân cấp theo định hướng Trung ương chịu trách nhiệm xây dựng chính sách, pháp luật, quy trình...., địa phương chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, giám sát thực địa. Gắn trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị với kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong công tác về người khuyết tật.

Nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức làm việc trong lĩnh vực công tác về người khuyết tật; bảo đảm nguồn lực thực thi chính sách, pháp luật về người khuyết tật...

Ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm.

Quyết định này quy định về Bộ tiêu chí, công tác đánh giá, phân hạng, công nhận, nâng hạng, công nhận lại sản phẩm mỗi xã một sản phẩm (OCOP), thu hồi giấy chứng nhận kết quả phân hạng sản phẩm OCOP (giấy chứng nhận) và công tác kiểm tra, giám sát sản phẩm OCOP sau khi được công nhận.

Nghị định quy định sản phẩm OCOP là sản phẩm đặc sản, đặc sắc, có nguồn gốc và mang đặc trưng của địa phương (làng, xã), được sản xuất theo tiêu chuẩn gắn với các giá trị văn hoá truyền thống, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội, hướng đến phát triển xanh, bền vững và được cơ quan quản lý nhà nước công nhận theo Bộ tiêu chí được quy định tại Quyết định này.

Sản phẩm tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP bao gồm 06 nhóm sản phẩm: thực phẩm; đồ uống; dược liệu và sản phẩm từ dược liệu; hàng thủ công mỹ nghệ; sinh vật cảnh; dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch. Danh mục phân loại sản phẩm tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP tại Phụ lục I ban hành kèm theo Quyết định này.

Tổ chức, cá nhân tham gia đăng ký đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP (chủ thể OCOP) bao gồm: hợp tác xã; tổ hợp tác; doanh nghiệp nhỏ và vừa; trang trại, hộ sản xuất, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh. Đối với nhóm sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch bao gồm thêm: hội, hiệp hội, trung tâm điều hành hoặc tổ chức tương đương.

Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP gồm 03 phần

Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP gồm 03 phần sau:

Phần A: Các tiêu chí đánh giá về sản phẩm và sức mạnh cộng đồng (40 điểm), gồm tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm, sức mạnh cộng đồng.

Phần B: Các tiêu chí đánh giá về khả năng tiếp thị (25 điểm), gồm tiếp thị, câu chuyện sản phẩm.

Phần C: Các tiêu chí đánh giá về chất lượng sản phẩm (35 điểm), gồm chỉ tiêu cảm quan, dinh dưỡng, tính độc đáo của sản phẩm, công bố chất lượng sản phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm, hướng dẫn sử dụng, cơ hội trị trường toàn cầu.

Tiêu chí đánh giá từng nhóm, phân nhóm sản phẩm tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định này.

Phân hạng sản phẩm OCOP theo 5 hạng

Quyết định nêu rõ phân hạng sản phẩm OCOP căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm theo Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP. Tổng điểm đánh giá cho mỗi sản phẩm tối đa là 100 điểm và được phân thành 05 hạng:

Hạng 5 sao (cấp quốc gia): Tổng điểm trung bình đạt từ 90 đến 100 điểm, là sản phẩm đặc trưng, có thương hiệu, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và hội tụ điều kiện để xuất khẩu.

Hạng 4 sao (cấp tỉnh): Tổng điểm trung bình đạt từ 70 đến dưới 90 điểm, là sản phẩm đặc trưng, từng bước có thương hiệu, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và tiếp cận thị trường tốt, có tiềm năng nâng cấp lên hạng 5 sao.

Hạng 3 sao (cấp tỉnh): Tổng điểm trung bình đạt từ 50 đến dưới 70 điểm, là sản phẩm có đặc thù, có sự ổn định về chất lượng, được quản lý và thương mại ổn định, có thể nâng cấp lên hạng 4 sao.

Hạng 2 sao: Tổng điểm trung bình đạt từ 30 đến dưới 50 điểm, là sản phẩm bước đầu hình thành chất lượng, có thể tiếp tục nâng cấp để nâng lên hạng 3 sao.

Hạng 1 sao: Tổng điểm trung bình đạt dưới 30 điểm, là sản phẩm sơ khai, chưa được thương mại, có thể nâng cấp lên hạng 2 sao.

Đánh giá, phân hạng và công nhận sản phẩm OCOP theo 2 cấp

Theo Quyết định, công tác đánh giá, phân hạng và công nhận sản phẩm OCOP gồm 2 cấp: cấp tỉnh và cấp trung ương.

UBND cấp tỉnh tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh ít nhất 02 đợt trong năm. Đợt 01 trước ngày 30 tháng 6 đối với các hồ sơ được UBND cấp xã đề nghị trước ngày 30 tháng 4; đợt 02 trước ngày 30 tháng 12 đối với các hồ sơ được UBND cấp xã đề nghị trước ngày 30 tháng 10.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp quốc gia ít nhất 02 đợt trong năm. Đợt 01 trước ngày 30 tháng 9 đối với các hồ sơ được UBND cấp tỉnh đề nghị trước ngày 30 tháng 7; đợt 02 trước ngày 30 tháng 3 đối với các hồ sơ được UBND cấp tỉnh đề nghị trước ngày 30 tháng 01.

Căn cứ số lượng hồ sơ, UBND cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường có thể tổ chức thêm các đợt đánh giá trong năm.

Hồ sơ đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP

Hồ sơ đăng ký tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP (hồ sơ sản phẩm) do chủ thể OCOP chuẩn bị gồm:

- Hồ sơ đăng ký tham gia đánh giá, phân hạng (lần đầu): Phiếu đăng ký đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo Mẫu số 01 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này; Báo cáo tự đánh giá về sản phẩm theo Mẫu số 02 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này.

- Hồ sơ đăng ký tham gia đánh giá, nâng hạng: Phiếu đăng ký đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo Mẫu số 01 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này; Báo cáo tự đánh giá về sản phẩm theo Mẫu số 02 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này, trong đó phải thể hiện rõ nội dung và tài liệu minh chứng về những thay đổi so với sản phẩm OCOP đã được công nhận.

Hồ sơ đăng ký tham gia đánh giá, phân hạng lại sản phẩm OCOP: Phiếu đăng ký đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo Mẫu số 01 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này; Báo cáo tự đánh giá về sản phẩm theo Mẫu số 02 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này; đồng thời, cập nhật những nội dung mới và kết quả sau thời gian sản phẩm OCOP được công nhận về: nguyên liệu, công nghệ sử dụng, bao bì, nhãn mác, công bố chất lượng, các phiếu kiểm nghiệm định kỳ, thị trường tiêu thụ, sản lượng, doanh thu và bổ sung minh chứng các giấy tờ pháp lý có thời hạn.

Hồ sơ đề nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh, do UBND cấp xã chuẩn bị gồm:

- Văn bản của UBND cấp xã đề nghị UBND cấp tỉnh đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP.

- Báo cáo của UBND cấp xã đánh giá một số nội dung của hồ sơ đăng ký tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo Mẫu số 03 Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này.

- Sản phẩm mẫu (do chủ thể OCOP cung cấp): 05 sản phẩm mẫu được gửi kèm theo hồ sơ (trừ nhóm sản phẩm Dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch).

Hồ sơ đề nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao, do UBND cấp tỉnh chuẩn bị, bao gồm:

Hồ sơ đề nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao (lần đầu): Văn bản của UBND cấp tỉnh gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP; báo cáo đánh giá của Tổ tư vấn Hội đồng cấp tỉnh; báo cáo đánh giá của Hội đồng cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt kết quả đánh giá của Chủ tịch UBND cấp tỉnh; hồ sơ sản phẩm; các văn bản xác nhận kiểm tra, kiểm nghiệm bổ sung của cấp tỉnh (nếu có); sản phẩm mẫu (05 sản phẩm mẫu do chủ thể OCOP cung cấp, trừ nhóm sản phẩm Dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch).

Phê duyệt Đề án "Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045"

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 phê duyệt Đề án "Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045" với quan điểm phát triển VNeID thành siêu ứng dụng, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia.

Mục tiêu tổng quát của Đề án nhằm phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành Nền tảng số quốc gia, an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao, phục vụ hiệu quả người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, giao dịch điện tử và khai thác các tiện ích số.

Đồng thời là nền tảng số tin cậy để kết nối, chia sẻ, xác thực thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Đến năm 2028, phấn đấu 100% đối tượng nhận hỗ trợ, an sinh xã hội trên VNeID

Mục tiêu đến năm 2028, hoàn thành việc đồng bộ khung thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, ổn định cho việc phát triển, vận hành, khai thác và mở rộng VNeID.

Hoàn thành triển khai 100% hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phần mềm phục vụ phát triển VNeID để điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID.

Hoàn thành phát triển VNeID thành siêu ứng dụng; ưu tiên phát triển, hoàn thiện các ứng dụng lõi, ứng dụng cơ bản.

Hoạch định kế hoạch phát triển hệ sinh thái số trên VNeID giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, đến hết năm 2028, phấn đấu mở rộng đạt 50% tiện ích số thiết yếu trên VNeID phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.

Cấp 100% tài khoản định danh điện tử cho cá nhân (người Việt Nam; người nước ngoài), cơ quan, tổ chức đủ điều kiện và có nhu cầu.

100% đối tượng được tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID.

Tích hợp 100% giấy tờ công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.

100% thuê bao di động được đăng ký, xác thực thông tin trên VNeID.

Bước đầu tích hợp trí tuệ nhân tạo giúp nâng cao hiệu quả sử dụng và trải nghiệm số cho người dùng.

80% công dân có đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời phát triển mở rộng các dịch vụ tin cậy trên VNeID, tích hợp với VNeID để phục vụ các giao dịch dân sự của người dân, doanh nghiệp.

Phát triển các lớp dữ liệu và dữ liệu phục vụ định danh, xác thực điện tử theo hướng đầy đủ, chính xác, đồng bộ, tin cậy, được cập nhật thường xuyên và có khả năng khai thác, đối soát, chia sẻ an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống VNeID.

Mục tiêu đến năm 2030, 70% người dùng sử dụng dịch vụ thanh toán không tiền mặt trên VNeID

Đến năm 2030, hoàn thành 100% phát triển hệ sinh thái số trên VNeID trên cơ sở hoạch định giai đoạn đến 2030. Trong đó, bao gồm các tiện ích số phục vụ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hoạt động sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ, tiện ích số của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp tích hợp lên VNeID.

100% công dân có tài khoản VNeID mức độ 2, được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID khi có nhu cầu.

100% công dân có đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời hoàn thiện các dịch vụ tin cậy trên VNeID, tích hợp với VNeID để phục vụ các giao dịch dân sự của người dân, doanh nghiệp.

70% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm người dùng.

70% người dùng được trải nghiệm dịch vụ thanh toán không sử dụng tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu trên VNeID.

70% người dùng thường xuyên truy cập, sử dụng dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID.

Đến năm 2045, 100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo

Đến năm 2045, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, công nghệ để bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt.

100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm mang đến những trải nghiệm tốt nhất cho người dùng bao gồm các kỹ năng số khác nhau.

100% người dùng được trải nghiệm dịch vụ thanh toán không sử dụng tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu trên VNeID.

90% người dùng thường xuyên truy cập, sử dụng dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID.

Điều chỉnh kiến trúc, phát triển, mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đơn vị liên quan triển khai thực hiện cụ thể như sau:

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan, địa phương, tổ chức liên quan rà soát, đánh giá tổng thể hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử, tích hợp tiện ích số, thanh toán không dùng tiền mặt, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc khai thác, sử dụng VNeID.

Tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về phát triển công dân số;… nhằm xác định rõ phạm vi, giá trị pháp lý, điều kiện sử dụng, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể khi sử dụng VNeID trong các quan hệ hành chính, dân sự, thương mại và các giao dịch điện tử khác.

Xây dựng, chuẩn hóa các quy trình vận hành, quy chế phối hợp và cơ chế giám sát tổng thể đối với việc khai thác, sử dụng VNeID trong cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp. Thời gian thực hiện: 2026 – 2027.

Ngoài ra, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan đơn vị, tổ chức liên quan điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID đáp ứng yêu cầu. Thời gian thực hiện: 2026 - 2030.

Đồng thời, mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID theo hướng thiết thực, thuận tiện, lấy người dùng làm trung tâm; bảo đảm đáp ứng hiệu quả nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.

Khuyến khích, tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp tham gia phát triển, cung cấp, tích hợp các dịch vụ, tiện ích số trên VNeID theo hướng đa dạng hóa nguồn lực, kết hợp hiệu quả đầu tư công với các hình thức hợp tác công - tư và các nguồn lực hợp pháp khác; bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, yêu cầu quản lý nhà nước, an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Triển khai nâng cấp và mở rộng hạ tầng kỹ thuật, công nghệ bảo đảm nhu cầu phát triển

Bộ Công an rà soát, đánh giá hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công nghệ của hệ thống VNeID và các hệ thống liên quan phục vụ việc triển khai nâng cấp và mở rộng theo hướng hiện đại, đồng bộ, an toàn, ổn định, có khả năng mở rộng linh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh về số lượng người dùng, số lượng giao dịch, số lượng tiện ích thành phần, đặc biệt là phạm vi tích hợp và nhu cầu khai thác ngày càng lớn của VNeID trong giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nâng cấp, mở rộng hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, gồm:

Nâng cấp, mở rộng năng lực hệ thống hạ tầng vỏ trạm và năng lực tính toán theo hướng tăng mạnh khả năng xử lý đồng thời, tăng hiệu năng xử lý (bao gồm cả năng lực xử lý trung tâm, năng lực xử lý phân tán, năng lực xử lý cho các dịch vụ lõi và năng lực xử lý cho các dịch vụ tích hợp).

Hoàn thiện các phương án dự phòng theo nhiều cấp độ bảo đảm duy trì hoạt động liên tục, khôi phục sau thảm họa cho hệ thống VNeID.

Thực hiện việc định kỳ kiểm tra, diễn tập, thử nghiệm các phương án chuyển đổi sang hệ thống dự phòng, khôi phục dịch vụ và phục hồi dữ liệu.

Triển khai hạ tầng kỹ thuật, công nghệ phục vụ VNeID theo mô hình đa trung tâm dữ liệu, trong đó Trung tâm chính được kế thừa, nâng cấp, mở rộng từ Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm khả năng mở rộng, tính sẵn sàng cao, an ninh, an toàn và dự phòng thảm họa; đáp ứng nhu cầu theo quy mô dân số (trên 100 triệu dân); tích hợp nhiều ứng dụng thành phần (Mini App), cung cấp đa dịch vụ.

Bảo đảm an ninh, an toàn; nhân lực và hỗ trợ người dùng

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương thường xuyên bảo đảm an ninh, an toàn tổng thể. Cụ thể:

Rà soát, đánh giá tổng thể hiện trạng an ninh, an toàn đối với VNeID và các hệ thống liên quan; hoàn thiện mô hình, nguyên tắc, kiến trúc bảo đảm an ninh, an toàn tổng thể.

Thực hiện triển khai các biện pháp an ninh, bảo mật toàn diện, đa lớp; các cơ chế bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ quá trình kết nối, thu thập, truyền, lưu trữ, xử lý, chia sẻ, khai thác, sao lưu và phục hồi dữ liệu; bổ sung, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống giám sát an ninh mạng, giám sát truy cập, giám sát hành vi, giám sát giao dịch và các cơ chế cảnh báo sớm đối với hệ thống VNeID và các thành phần liên quan.

Thường xuyên cập nhật hoàn thiện đầy đủ các phương án, kịch bản, quy trình ứng cứu sự cố và kiểm thử an ninh, an toàn đối với hệ thống VNeID; nâng cao năng lực tổ chức, nhân lực, tăng cường cơ chế phối hợp trong triển khai kết nối, khai thác…

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến nhận thức an toàn số cho người dùng, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tham gia.

Bổ sung, tăng cường các lớp an ninh vật lý theo phương án nhiều lớp bảo đảm an ninh hành lang và lối tiếp cận phòng máy chủ, an ninh kiểm tra người và chống bám đuôi, an ninh cửa phòng máy chủ, an ninh bên trong phòng máy chủ…

Đồng thời, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan đơn vị, tổ chức liên quan thường xuyên bảo đảm nhân lực và hỗ trợ người dùng. Cụ thể:

Hoàn thiện mô hình quản trị, điều hành, vận hành kỹ thuật và khai thác hệ thống VNeID từ trung ương đến địa phương; cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo hướng rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ đầu mối, rõ cơ chế phối hợp. Bổ sung đầy đủ nhân lực chuyên trách và kiêm nhiệm có trình độ, năng lực phù hợp để triển khai, vận hành và khai thác hiệu quả hệ thống VNeID tại các đơn vị, địa phương.

Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng trực tiếp quản trị, vận hành, khai thác hệ thống; bồi dưỡng kiến thức pháp lý, nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, kỹ năng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình sử dụng.

Thiết lập cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ nghiệp vụ, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình tích hợp, khai thác sử dụng VNeID; chú trọng nhóm yếu thế, người dân ở vùng sâu, vùng xa, người hạn chế kỹ năng số.

Tổ chức triển khai công tác truyền thông, tuyên truyền một cách thường xuyên, liên tục, đa dạng về hình thức, phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm nâng cao khả năng khai thác, nhận thức của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; phát huy vai trò của lực lượng tại cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc.

Huy động các doanh nghiệp công nghệ và các học viện, nhà trường đào tạo công nghệ liên quan đồng hành cùng Bộ Công an trong nghiên cứu, thử nghiệm và triển khai đổi mới mô hình phục vụ và hoạt động cung ứng dịch vụ, tiện ích của VNeID.

Bộ Công an tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá định kỳ tình hình, kết quả thực hiện bằng hình thức phù hợp, bảo đảm thực chất, hiệu quả. Thực hiện sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; điều chỉnh nội dung chưa phù hợp. Chú trọng công tác hướng dẫn, đôn đốc thực hiện; khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích, đóng góp tích cực./.