
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 6/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân.
Chị thị nêu: Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt ra yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và hành động đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn. Trong đó, chuyển mạnh từ tư duy tập trung vào khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh; chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời. Nghị quyết đặt ra mục tiêu chiến lược: "Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 01 lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế".
Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW; Quốc hội ban hành Nghị quyết số 261/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Thời gian qua, Bộ Y tế, Bộ Công an và một số tỉnh, thành phố như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tuyên Quang... đã chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân, góp phần lan tỏa ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật, nâng cao sức khỏe người dân.
Hết năm 2026, toàn dân được khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí
Để tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 01 lần cho người dân trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Đề nghị các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và yêu cầu các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí theo Nghị quyết số 72-NQ/TW; xác định rõ đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, lâu dài gắn với các chương trình, kế hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của Nhân dân trên địa bàn. Phấn đấu đến hết năm 2026, toàn dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí và được lập Sổ sức khỏe điện tử.
Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tại địa phương, phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị liên quan, các cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở trên địa bàn trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
Chỉ đạo tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng và toàn xã hội về khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh tật, góp phần thay đổi hành vi và hình thành thói quen chủ động đi khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc của người dân.
Củng cố, nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương tiếp tục rà soát, ban hành văn bản hướng dẫn các đơn vị, địa phương trong việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân, bảo đảm hiệu quả, khả thi, đạt được các mục tiêu đề ra.
Hướng dẫn các cơ sở khám, chữa bệnh lập và quản lý Sổ sức khỏe điện tử; bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp trên ứng dụng VNeID; xây dựng, ban hành chuẩn định dạng dữ liệu đầu ra cho khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí để thống nhất, quản lý liên thông, đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu bảo hiểm xã hội; hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.
Củng cố, nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng; bảo đảm nguồn nhân lực, thiết bị y tế, thuốc, hóa chất; tổ chức đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ y tế tham gia thực hiện.
Bộ Y tế chủ trì theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình, kết quả thực hiện, khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị (nếu có) theo định kỳ hằng quý (trước ngày 10 của quý tiếp theo) hoặc khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chỉ đạo triển khai kết nối, khai thác, sử dụng hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử phục vụ việc lập, cập nhật thông tin quản lý Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID và xác thực thông tin người dân khi tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí; chỉ đạo bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình thu thập, lưu trữ, kết nối, chia sẻ dữ liệu sức khỏe; chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan.
Khám miễn phí cho học sinh, sinh viên ngay đầu năm học 2026 - 2027
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện, phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho học sinh, sinh viên và học viên theo quy định; hoàn thành trong tháng 6 năm 2026 để tổ chức thực hiện ngay đầu năm học 2026 - 2027.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách nhà nước, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật khác có liên quan; hướng dẫn việc chi trả từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác trong trường hợp cần thiết; chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam kịp thời tiếp nhận, đồng bộ dữ liệu khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với Sổ sức khỏe điện tử và các cơ sở dữ liệu có liên quan.
Tổ chức khám lưu động tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch và chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp tổ chức triển khai thực hiện khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân trên địa bàn theo các nhóm đối tượng, trong đó quan tâm, ưu tiên đối với người có công, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo... theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bảo đảm đạt mục tiêu đề ra.
Chỉ đạo kết hợp khám tại Trạm Y tế cấp xã, cơ sở y tế với tổ chức các đợt khám lưu động tại cộng đồng, khu dân cư, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; trong đó cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, y tế cơ sở là lực lượng nòng cốt; đồng thời, huy động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài công lập có đủ điều kiện tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc cho người dân theo kế hoạch của địa phương theo quy định.
Bố trí nguồn lực từ ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực hợp pháp khác; đồng thời, lồng ghép với các chương trình, dự án phù hợp trên địa bàn bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân.
Từng bước củng cố, nâng cao năng lực cho Trạm Y tế cấp xã, bảo đảm đủ nhân lực với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu chức năng, nhiệm vụ; tăng cường số lượng bác sĩ làm việc tại y tế cơ sở, trong đó chú trọng thực hiện hiệu quả cơ chế luân phiên, luân chuyển, điều động cán bộ y tế về làm việc có thời hạn tại các Trạm Y tế cấp xã.
Bảo đảm quyền lợi chăm sóc sức khỏe của người lao động, nhất là tại khu công nghiệp, khu chế xuất
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, tổ chức, doanh nghiệp, người sử dụng lao động lập kế hoạch và tổ chức thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người lao động hằng năm theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ đạo các cấp công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm các vi phạm, bảo đảm quyền lợi chăm sóc sức khỏe của người lao động, nhất là người lao động tại khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhóm người lao động có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao.

Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.
Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
Cụ thể, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: "3a. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.".
Về các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP như sau: "đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi".
Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 14 Điều 4 đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như sau:
"14. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô được quy định tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh sản phẩm xuất khẩu tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô trong từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục gửi Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.".
Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c của khoản 2 Điều 23 quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:
2. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:
a) Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định này (nếu có).
Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm".
"c) Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.".
Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt
Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:
"g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng. Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.".
Nghị định số 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

Chính phủ ban hành Nghị định số 143/2026/NĐ-CP về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (Hiệp định CEPA) giai đoạn 2026 - 2027.
Nghị định này ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPA giai đoạn 2026 - 2027 và điều kiện được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định này.
Cột "Mã hàng" và cột "Mô tả hàng hóa" tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị định này được xây dựng trên cơ sở Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và chi tiết theo cấp mã 8 số.
Trường hợp Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được sửa đổi, bổ sung, người khai hải quan kê khai mô tả, mã hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sửa đổi, bổ sung và áp dụng thuế suất của mã hàng hoá được sửa đổi, bổ sung quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị định này.
Cột "Thuế suất CEPA (%)" tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt: Thuế suất áp dụng cho các giai đoạn khác nhau, bao gồm:
Năm 2026: Thuế suất áp dụng từ ngày 03 tháng 02 năm 2026 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026;
Năm 2027: Thuế suất áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2027 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2027.
Điều kiện áp dụng thuế suất CEPA
Nghị định nêu rõ, hàng hóa nhập khẩu được áp dụng mức thuế suất CEPA phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1- Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị định này.
2- Được nhập khẩu từ Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất vào Việt Nam.
3- Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa và có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo quy định của Hiệp định CEPA và quy định hiện hành của pháp luật.
Đối với hàng hóa từ khu phi thuế quan của Việt Nam nhập khẩu vào thị trường trong nước được áp dụng thuế suất CEPA phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại 1 và 3 ở trên.
Nghị định này có hiệu từ ngày 5/5/2026 đến hết ngày 31/12/2027.
Đối với các tờ khai hải quan của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam từ Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất đăng ký từ ngày 3/2/2026 đến trước ngày 5/5/2026, nếu đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Nghị định này và đã nộp thuế theo mức thuế suất cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định 145/2026/NĐ-CP ngày 5/5/2026 quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Nghị định này quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh khi thực hiện đầu tư
Nghị định quy định Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Ngoài việc tuân thủ quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định ở trên, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh khi thực hiện đầu tư, biện pháp để kiểm soát xung đột lợi ích và báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định trước khi thực hiện hoạt động đầu tư. Thẩm quyền quyết định đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam và quy định của pháp luật có liên quan.
Quy định về quản lý doanh thu
Nghị định quy định, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam quản lý doanh thu và thu nhập khác theo quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Doanh thu của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, bao gồm doanh thu từ hoạt động quản lý thành viên; doanh thu từ hoạt động tổ chức thị trường; doanh thu hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ bao gồm doanh thu từ dịch vụ cung cấp thông tin; doanh thu từ dịch vụ hạ tầng công nghệ cho thị trường chứng khoán; doanh thu dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Doanh thu và thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn vào công ty con bao gồm khoản thu lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ tại công ty con, thu khoản chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ của công ty con; doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam quản lý doanh thu và thu nhập khác theo quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Doanh thu của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, bao gồm doanh thu từ hoạt động đăng ký, quản lý thành viên; doanh thu từ hoạt động đăng ký chứng khoán, hủy đăng ký chứng khoán một phần, điều chỉnh thông tin số lượng chứng khoán đăng ký; doanh thu từ hoạt động lưu ký chứng khoán; doanh thu từ hoạt động chuyển khoản chứng khoán; doanh thu từ hoạt động thực hiện quyền; doanh thu từ hoạt động chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch; doanh thu từ hoạt động vay, cho vay chứng khoán; doanh thu từ hoạt động thanh toán gốc, lãi, tiền mua lại công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; doanh thu từ hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán, quản lý vị thế, chuyển khoản vị thế, quản lý tài sản ký quỹ, xử lý lỗi sau giao dịch; doanh thu từ hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm đối với chứng khoán đã đăng ký tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam; doanh thu dịch vụ phong tỏa chứng khoán theo yêu cầu của nhà đầu tư; doanh thu từ hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon và doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ bao gồm doanh thu từ dịch vụ cung cấp thông tin; doanh thu dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Doanh thu và thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn vào công ty con bao gồm khoản thu lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ tại công ty con, thu khoản chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ của công ty con; doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác theo quy định của pháp luật.
- Ngoài doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác theo quy định của pháp luật, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam được hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính đối với lãi tiền gửi phát sinh từ hoạt động thanh toán hộ cổ tức, gốc, lãi, tiền mua lại công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, các chứng khoán khác và thực hiện quyền mua chứng khoán.
Quy định về quản lý chi phí
Theo Nghị định 145/2026/NĐ-CP, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam quản lý chi phí theo quy định của pháp luật quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về thuế và quy định của pháp luật khác có liên quan.
Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế đối với một số khoản chi phí đặc thù sau đây:
- Chi trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chứng khoán. Việc trích Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ được thực hiện hàng quý. Trong năm tài chính nếu không sử dụng hết, số dư của Quỹ được chuyển sang năm sau để sử dụng tiếp.
- Chi phí chuyển công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam đối với hoạt động giao dịch chuyển quyền sở hữu chứng khoán không qua hệ thống giao dịch chứng khoán.
Đánh giá, xếp loại theo quy định đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Nghị định quy định Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện đánh giá, xếp loại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về đánh giá, xếp loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Khi thực hiện đánh giá, xếp loại doanh nghiệp, ngoài các yếu tố tác động được loại trừ theo quy định của pháp luật về đánh giá, xếp loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam được loại trừ tác động của các yếu tố sau:
a) Thay đổi chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến doanh thu của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam quy định tại điểm b khoản này và doanh thu của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam quy định tại điểm c khoản này.
b) Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ, doanh thu và thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn vào công ty con thay đổi do tác động của các yếu tố: số lượng thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam; số lượng công ty niêm yết, số lượng công ty đăng ký giao dịch; khối lượng chứng khoán giao dịch và giá giao dịch; giá trị trái phiếu trúng thầu, kế hoạch và quy mô huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu; giá trị giao dịch trái phiếu; giá trị chuyển quyền sở hữu chứng khoán không qua hệ thống giao dịch; khối lượng giao dịch chứng khoán phái sinh; khối lượng giao dịch của các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật chứng khoán; doanh thu từ hoạt động đấu giá, chào bán cạnh tranh, dựng sổ; doanh thu từ hoạt động tổ chức sàn giao dịch các-bon trong nước; doanh thu từ hoạt động tổ chức các thị trường khác.
c) Đối với Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ thay đổi do biến động các yếu tố: khối lượng chứng khoán lưu ký thực hiện trong năm; giá trị chứng khoán đăng ký (lần đầu) thực hiện trong năm và số lần đăng ký chứng khoán bổ sung; giá trị thanh toán gốc, lãi, tiền mua lại công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; số lần thực hiện quyền và số lượng cổ đông tương ứng với mỗi lần thực hiện quyền; số lần và giá trị chuyển khoản chứng khoán; giá trị chuyển quyền sở hữu chứng khoán không qua hệ thống giao dịch chứng khoán; số lượng tổ chức đăng ký thành viên; số lượng thành viên lưu ký, thành viên bù trừ; số lượng hợp đồng và giá trị vay và cho vay chứng khoán; số dư tài sản ký quỹ cuối ngày, giá trị giao dịch chứng khoán thế vị và khối lượng chứng khoán phái sinh thế vị; số lượng giao dịch xử lý lỗi sau giao dịch; số lượng hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm; giá trị chứng khoán phong tỏa; khối lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon lưu ký thực hiện trong năm; số lần và khối lượng chuyển khoản, giá trị thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon; doanh thu và thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn vào công ty con thay đổi do tác động của yếu tố khách quan khi cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Nghị định 145/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/6/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026.
Nghị định số 59/2021/NĐ-CP ngày 18/6/2021 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định 145/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
10 nhóm công nghệ chiến lược
Theo Quyết định, Danh mục công nghệ chiến lược gồm 10 nhóm công nghệ chiến lược bao quát nhiều lĩnh vực then chốt:
1- Công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối).
2- Công nghệ mạng di động thế hệ sau.
3- Công nghệ robot và tự động hóa.
4- Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến.
5- Công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến.
6- Công nghệ chip bán dẫn.
7- Công nghệ an ninh mạng và lượng tử.
8- Công nghệ biển, đại dương và lòng đất.
9- Công nghệ hàng không và vũ trụ.
10- Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
30 sản phẩm công nghệ chiến lược
Quyết định cũng đưa ra danh sách 30 sản phẩm công nghệ chiến lược chia thành 2 nhóm.
Nhóm 1: Nhóm các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế
1- Mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, trợ lý ảo và trí tuệ nhân tạo (AI) chuyên ngành.
2- AI camera xử lý tại biên.
3. Nền tảng bản sao số.
4. Nền tảng điện toán đám mây.
5- Hạ tầng mạng chuỗi khối và hệ thống truy xuất nguồn gốc.
6- Thiết bị và hệ thống mạng di động 5G/5G-Advanced.
7- Robot di động tự hành và robot công nghiệp.
8- Nền tảng, giải pháp và mô hình phục vụ sản xuất thông minh.
9- Giải pháp bảo mật và an ninh mạng cho hạ tầng quan trọng và cơ sở dữ liệu quốc gia.
10- Vắc xin thế hệ mới dùng cho người.
11- Liệu pháp tế bào (tế bào gốc, tế bào miễn dịch) dùng cho người.
12- Hệ thống sản xuất sản phẩm y tế cá thể hóa ứng dụng công nghệ in 3D.
13- Hệ thống cảm biến sinh học thông minh.
14- Vắc xin và chế phẩm sinh học thế hệ mới dùng trong chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật.
15- Hệ thống sản xuất, thu hoạch và chế biến sâu sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp và sinh khối.
16- Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới được tạo ra từ công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen và công nghệ sinh học.
17- Vật liệu tiên tiến và vật liệu chức năng hiệu năng cao cho công nghiệp chế biến, chế tạo.
18- Pin, ắc quy tiên tiến và hệ thống tích trữ năng lượng tích hợp (BESS).
19- Hệ thống sản xuất, lưu trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học.
20- Thiết bị điện cao áp, siêu cao áp; máy điện, động cơ điện và hệ thống truyền tải - truyền động điện hiện đại, hiệu suất cao.
21- Hệ thống thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon.
22- Thiết bị, phương tiện bay không người lái (UAV); hệ thống quản lý, phát hiện, giám sát và chế áp UAV.
Nhóm 2: Nhóm các sản phẩm công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng
23- Chip chuyên dụng.
24- Truyền thông lượng tử, tính toán lượng tử và cảm biến lượng tử.
25- Hệ thống khai thác, chế biến sâu và sản phẩm chế biến sâu từ khoáng sản, dầu khí và đất hiếm.
26- Hệ thống, thiết bị, dịch vụ và giải pháp công nghệ thăm dò lòng đất, biển sâu, công trình biển và năng lượng ngoài khơi.
27- Lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR).
28- Vệ tinh và chùm vệ tinh quỹ đạo thấp quan sát Trái đất.
29- Công trình xây dựng đường sắt tốc độ cao.
30- Nền tảng công nghiệp, phương tiện, thiết bị và các hệ thống tích hợp đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan rà soát, đánh giá định kỳ, trình Thủ tướng Chính phủ cập nhật, ban hành Quyết định Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 và thay thế Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Tại Nghị quyết số 119/NQ-CP, Chính phủ đã thông qua đề xuất bổ sung dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 (Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chính phủ giao Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về nội dung văn bản đề xuất, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề xuất bổ sung dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác có liên quan triển khai xây dựng Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Nghị quyết trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/5/2026./.