In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026.

08/07/2026 18:23
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 1.

Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 180/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.

Nghị quyết nêu rõ: Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó đoán định, tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu… Ở trong nước, nền kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ cả những yếu tố bất lợi bên ngoài, cùng với những khó khăn nội tại chưa khắc phục hoàn toàn và những vấn đề phát sinh; tình hình thiên tai, thời tiết cực đoan tiềm ẩn rủi ro sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh năng lượng, tạo áp lực đến ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng, các cân đối lớn của nền kinh tế và công tác quản lý, điều hành.

Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quán triệt nghiêm, triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026 - 2030; các Kết luận của Trung ương, nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là 10 nghị quyết đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đồng thời, tập trung quán triệt chỉ đạo tại Hội nghị của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm để cụ thể hóa phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm theo tiến độ từng tháng, quý, xác định rõ cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và công khai kết quả thực hiện; phát huy hiệu quả thể chế, chính sách, giải pháp mới ban hành; "hành động, hành động và hành động; làm việc, làm việc và làm việc", phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.

Ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ít nhất 10%; bảo đảm tiến độ và chất lượng các dự án, công trình trọng điểm

Trong đó, tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ít nhất 10%. Khẩn trương rà soát, cập nhật, điều chỉnh kịch bản tăng trưởng của toàn bộ ngành, lĩnh vực, địa phương. Điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ; hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo, nhà ở và hạ tầng thiết yếu; kiểm soát đầu cơ, nợ xấu, bảo đảm lành mạnh hoạt động ngân hàng và kiểm soát rủi ro hệ thống.

Quản lý chặt chẽ tài chính - ngân sách nhà nước, chống thất thu, lạm thu, nuôi dưỡng nguồn thu, nhất là khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ; chống chuyển giá và lãng phí. Sớm đưa Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam vào hoạt động; khẩn trương xây dựng khu kinh tế đặc biệt tại một số địa phương trọng điểm.

Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, hạ tầng chiến lược, các công trình có sức lan tỏa cao, nhất là đường sắt, đường bộ, hàng không, năng lượng, nông nghiệp, hạ tầng số quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia.

Triển khai thí điểm chấm điểm thực hiện kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công định kỳ hằng tháng tiến tới triển khai chính thức từ tháng 10/2026, làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư công các năm tới, phấn đấu giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch. Khẩn trương triển khai thực hiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng kéo dài thuộc thẩm quyền và quy định pháp luật; báo cáo kết quả thực hiện gửi Bộ Tài chính tổng hợp, cập nhật để theo dõi tiến độ.

Phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; bảo đảm tiến độ hoàn thành, triển khai, đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia

Khơi thông động lực tăng trưởng truyền thống, tạo đột phá động lực tăng trưởng mới. Chú trọng phát triển cả 3 khu vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Hoàn thành điều chỉnh các quy hoạch ngành, quy hoạch chi tiết ngành đúng tiến độ. Khai thác hiệu quả không gian phát triển mới; không gian đô thị cao tầng tại khu vực phù hợp, không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian số, không gian biển. Phát triển kinh tế biển theo chiều sâu, khai thác bền vững các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, khử mặn, tín chỉ carbon xanh và phục hồi hệ sinh thái biển.

Đẩy mạnh triển khai nhiệm vụ phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; ưu tiên các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi. Xây dựng hạ tầng số, phát triển nền tảng số quốc gia; bảo đảm tiến độ hoàn thành, triển khai, đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành, trung tâm dữ liệu lớn kết nối liên thông, tích hợp, tăng cường chia sẻ, khai thác gắn với bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh an toàn hệ thống thông tin, phục vụ hiệu quả quản lý nhà nước, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, sản phẩm, chuỗi cung ứng; khai thác cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược và các FTA đã ký; thúc đẩy đàm phán, ký kết các FTA mới. Phát triển thị trường trong nước, đẩy mạnh Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Xây dựng cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý phòng vệ thương mại, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ngăn chặn gian lận xuất xứ.

Tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng... Thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên dự án có công nghệ, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ.

Ban hành 22 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 trở về trước

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hồ sơ dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội tại Kỳ họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8/2026; dự án luật, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026 có thời hạn trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 7 để trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2. Xây dựng, trình Chính phủ ban hành 22 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 trở về trước. Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch; xử lý các quy định chồng chéo, nhất là về đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, môi trường, tài sản công và phân cấp.

Tiếp tục xây dựng Đảng bộ, các cấp ủy và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nhất là đơn vị sự nghiệp công lập các bộ, ngành, địa phương, tổ chức bộ máy bên trong, bảo đảm không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, khắc phục tình trạng cắt khúc, phân mảnh trong quản lý nhà nước. Sắp xếp, điều chỉnh đơn vị hành chính cấp xã theo chủ trương của Bộ Chính trị, nâng cao chất lượng, hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

Tập trung thực hiện 11 Nghị quyết về phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính; cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Khẩn trương hoàn thành đề án, nhiệm vụ đã quá hạn, khắc phục tình trạng nợ đọng.

Tổ chức các hoạt động tri ân, đền ơn, đáp nghĩa nhân ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7

Triển khai đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách về lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội từ ngày 01/7/2026. Tổ chức các hoạt động ý nghĩa, thiết thực tri ân, đền ơn, đáp nghĩa nhân kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7. Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, ký túc xá công nhân tại các khu công nghiệp, đô thị lớn. Triển khai tích cực Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị; đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo lại, nâng cao kỹ năng, hỗ trợ chuyển đổi nghề. Tổ chức các hoạt động vui hè; phòng, chống tai nạn, thương tích, đuối nước và bảo đảm an toàn cho trẻ em, học sinh trong thời gian không đến trường.

Chủ động, quyết liệt, kịp thời ứng phó, kiểm soát, xử lý hiệu quả các bệnh truyền nhiễm mới nổi và thường gặp vào mùa nắng nóng; bảo đảm thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ khám, chữa bệnh cho Nhân dân. Chủ động phòng chống, ứng phó với thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt, bão lũ, sạt lở…, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, vùng ven biển và các đô thị lớn. Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội; đẩy nhanh tiến độ xây dựng chương trình, đề án, cơ chế, chính sách trọng điểm về phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa.

Xây dựng kế hoạch năm 2027 ngay từ quý III/2026; chấm dứt tình trạng nêu khó khăn nhưng không có phương án xử lý

Làm tốt công tác thanh tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là người đứng đầu đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; thực hiện đúng quy định về tiếp công dân; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, phù hợp thực tiễn các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngay từ khi mới phát sinh tại cơ sở, không để hình thành "điểm nóng" về an ninh trật tự. Củng cố vững chắc tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ; thúc đẩy hợp tác quốc tế về chuyển giao công nghệ nguồn; thực hiện nghiêm túc, hiệu quả cam kết, thỏa thuận quốc tế đã ký kết, chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Xây dựng kế hoạch năm 2027 ngay từ quý III/2026, đặt trong tầm nhìn cả giai đoạn 2026 - 2030 trên cơ sở giao chỉ tiêu cụ thể và dựa trên đánh giá đúng các điểm nghẽn, có kịch bản điều hành cụ thể, xác định sớm ưu tiên chính sách, nhiệm vụ, nguồn lực.

Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính nhà nước trực tiếp chỉ đạo những việc lớn, việc khó, việc liên ngành và các điểm nghẽn kéo dài; xây dựng kế hoạch năm 2027 của bộ, cơ quan, địa phương mình và chịu trách nhiệm về chất lượng kế hoạch. Chấm dứt tình trạng nêu khó khăn nhưng không có phương án xử lý, việc thuộc thẩm quyền cấp nào thì cấp đó phải giải quyết, vượt thẩm quyền phải báo cáo kịp thời, kèm đề xuất cụ thể.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 2.

Quy định về khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Chính phủ ban hành Nghị định số 263/2026/NĐ-CP quy định về khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Nghị định quy định việc thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng các điều kiện sau:

1- Khu vực đề xuất thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải nằm trong phạm vi không gian phát triển hoặc định hướng, phương hướng phát triển đã được xác định trong quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã được phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.

2- Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đảm bảo kết nối đồng bộ bên ngoài với: Hạ tầng giao thông; hệ thống hạ tầng kỹ thuật (điện; nguồn nước; hệ thống nước và xử lý nước thải; hạ tầng viễn thông,...); có phương án về thỏa thuận hợp tác, liên kết với các tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học về nông nghiệp và môi trường; hợp tác sản xuất, thương mại hóa sản phẩm khoa học; có điều kiện tự nhiên phù hợp mục tiêu phát triển của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

3- Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có diện tích để bố trí các hoạt động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 Nghị định này và đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn; tổ chức không gian hợp lý, không manh mún, phân tán; hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, cơ chế quản lý, duy tu, bảo trì, điều kiện về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường theo quy định.

4- Đồng bộ hạ tầng số, an ninh thông tin; kết nối, chia sẻ dữ liệu với tổ chức, cá nhân liên quan; có phòng thí nghiệm, khu nghiên cứu, thử nghiệm, khu sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ cao, cơ sở trình diễn, ươm tạo và chuyển giao công nghệ; cơ sở lưu trú cho chuyên gia, nhà khoa học, người lao động làm việc trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

5- Có phương án sử dụng nguồn lực đầy đủ, khả thi, bảo đảm duy trì liên tục các hoạt động thực hiện nhiệm vụ và định hướng phát triển của khu; có kế hoạch phát triển năng lực nghiên cứu; có phương án thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý đổi mới sáng tạo; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; hợp tác với tổ chức khoa học công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã; có phương án phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ cao; bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.

6- Có phương án khả thi phát triển và thu hút nguồn nhân lực, chính sách đãi ngộ, hỗ trợ thỏa đáng về thu nhập, tiền lương, thưởng, đào tạo nâng cao năng lực, nhà ở, điều kiện sinh hoạt, triển khai và hợp tác hoạt động khoa học công nghệ.

Chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Nghị định quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương và thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để ban hành chính sách và nguồn lực hỗ trợ nhằm thu hút dự án đầu tư, thu hút nhân lực chất lượng cao, phát triển hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ, sản phẩm công nghệ trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Cơ quan quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có trách nhiệm hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc phối hợp giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thuế, hải quan và các thủ tục khác có liên quan theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định của pháp luật; hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án.

Các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dự án đầu tư thực hiện hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược quy định tại Điều 4 Nghị định này) được ưu tiên tiếp cận, tham gia các chương trình, quỹ và chính sách hỗ trợ của Nhà nước về đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và các chương trình hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Dự án thực hiện các nhiệm vụ trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy định tại Điều 4 Nghị định này được hưởng như sau:

Được ưu tiên xem xét đặt hàng, tài trợ từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc tuyển chọn theo quy định của pháp luật như sau:

Tài trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hình thức liên kết do Nhà nước tài trợ, đặt hàng theo hình thức hợp tác công tư.

Áp dụng cơ chế khoán chi theo quy định của pháp luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chấp nhận rủi ro theo quy định tại Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Nghị định 267/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trường hợp mua công nghệ, bí quyết công nghệ để giải mã phục vụ chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển công nghệ chiến lược được hỗ trợ tối đa 100% kinh phí.

Được xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí, hỗ trợ cho vay từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan cấp Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ưu đãi về thuế: Các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng các ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Ưu đãi, hỗ trợ về nhân lực: Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho các cá nhân thực hiện nghiên cứu tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng lực thông qua các chương trình hỗ trợ của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các quỹ phát triển khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật; mức hỗ trợ cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.

Hỗ trợ về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa:

Hỗ trợ đến 100% chi phí đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước và tối đa 50% chi phí đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài đối với công nghệ cao.

Hỗ trợ định giá, khai thác, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ hình thành từ hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ cao.

Mức hỗ trợ lãi suất vay đối với dự án ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao được xác định bằng 70% lãi suất cho vay theo hợp đồng cho vay đã ký kết giữa tổ chức tín dụng và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhưng không quá 8%/năm từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, ngành, địa phương, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và địa phương (Quỹ) cho mua sắm trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất để phục vụ cho dự án ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao.

Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị nghiên cứu; đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa đối với phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao công lập. Tổ chức, cá nhân được sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu, hạ tầng nghiên cứu công nghệ cao do nhà nước đầu tư thông qua phiếu hỗ trợ tài chính được quy định tại Điều 23 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ.

Các dự án đầu tư không được hưởng ưu đãi

Trường hợp dự án đầu tư không được ưu đãi đầu tư:

- Không đáp ứng hoặc không duy trì việc đáp ứng các tiêu chí quy định trên.

- Dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động toàn bộ hoặc một phần;

- Không khắc phục được vi phạm trong thời hạn 01 năm hoặc thời hạn ghi tại quyết định ngừng hoạt động.

Quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 3.

Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế

Chính phủ ban hành Nghị định số 273/2026/NĐ-CP ngày 07/7/2026 về kinh doanh hàng miễn thuế.

Nghị định này quy định về quản lý hải quan, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế.

Đối tượng áp dụng Nghị định này bao gồm: Người xuất cảnh, quá cảnh, nhập cảnh; đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam; thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế; hành khách trên các chuyến bay quốc tế đi và đến Việt Nam; doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế theo quy định của pháp luật; cơ quan hải quan, công chức hải quan; đơn vị kinh doanh cảng biển, cảng hàng không dân dụng quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế; ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu đường bộ quốc tế, đơn vị được giao quản lý cửa khẩu đường bộ quốc tế; tổ chức có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh bán hàng miễn thuế; các cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế.

Nguyên tắc quản lý đối với hàng miễn thuế

Nghị định quy định nguyên tắc quản lý đối với hàng miễn thuế như sau:

Chính sách thuế đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế có liên quan.

Chính sách quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành có liên quan.

Hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế bao gồm: Hàng hóa tạm nhập khẩu từ nước ngoài, khu phi thuế quan, kho ngoại quan; hàng hóa từ nội địa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hàng hóa tạm nhập khẩu từ nước ngoài, khu phi thuế quan, kho ngoại quan đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế là mặt hàng không thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương và quản lý hải quan theo loại hình tạm nhập, tái xuất.

Hàng hóa từ nội địa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế là mặt hàng không thuộc danh mục hàng cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa thuộc mặt hàng xuất khẩu có điều kiện thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Hàng hóa từ nội địa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật Việt Nam đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế được cơ quan hải quan quản lý, giám sát trên cơ sở thông báo danh sách hàng hóa đưa vào cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế của doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế.

Hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế phải được lưu giữ tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế của doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế.

Thời gian lưu giữ hàng hóa tại cửa hàng miễn thuế theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 47 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014.

Các mặt hàng thuốc lá, xì gà, rượu, bia, bán tại cửa hàng miễn thuế phải dán tem "VIET NAM DUTY NOT PAID" do Bộ Tài chính phát hành. Vị trí dán tem "VIET NAM DUTY NOT PAID" thực hiện theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Tem phải được dán trước khi bày bán tại cửa hàng miễn thuế hoặc trước khi giao cho đối tượng mua hàng trong trường hợp hàng được xuất thẳng từ kho chứa hàng miễn thuế đến đối tượng mua hàng.

Hàng hóa bị đổ vỡ, hư hỏng, mất phẩm chất, kém chất lượng, hết hạn sử dụng, không được bán phục vụ tiêu dùng: Doanh nghiệp lập biên bản về tình trạng hàng hóa để tiêu hủy (có xác nhận của Hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế) và tổ chức tiêu hủy theo quy định.

Trước khi thực hiện tiêu hủy, doanh nghiệp phải có văn bản thông báo cụ thể về kế hoạch tiêu hủy cho Hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế để tổ chức giám sát việc tiêu hủy theo quy định.

Hàng hóa là hàng mẫu, hàng dùng thử đưa vào cửa hàng miễn thuế cho khách mua hàng dùng thử (giấy thử mùi nước hoa, rượu, mỹ phẩm, nước hoa,...), túi, bao bì nhập khẩu để đựng hàng miễn thuế cho khách mua hàng, doanh nghiệp thực hiện quản lý riêng hàng hóa này, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và phải báo cáo quyết toán với cơ quan hải quan theo quy định tại Điều 19 Nghị định này.

Đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế

Nghị định quy định đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế gồm:

1. Đồng Việt Nam.

2. Đồng ngoại tệ đô la Mỹ (USD), euro (EUR).

3. Đồng tiền của nước có chung biên giới đất liền với địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới.

4. Đồng tiền của quốc gia nơi các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thực hiện nhập cảnh, quá cảnh tại quốc gia đó.

Đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế

Nghị định quy định các đối tượng sau được mua hàng miễn thuế:

1. Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

a) Người xuất cảnh, quá cảnh qua các cửa khẩu đường bộ quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển, cảng hàng không dân dụng quốc tế được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế nằm trong khu vực cách ly;

b) Người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa và nhận tại quầy nhận hàng trong khu cách ly tại cửa khẩu quốc tế nơi hành khách xuất cảnh;

c) Ngoài địa điểm nhận hàng quy định tại khoản này, khách mua hàng quy định tại điểm a, điểm b khoản này được nhận hàng ở nước ngoài.

2. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

3. Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

4. Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa. Khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế. Khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp.

5. Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

a) Trường hợp mua hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu cá nhân thuyền viên phải xuất trình hộ chiếu hoặc thẻ đi bờ của thuyền viên;

b) Trường hợp mua hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam, người mua hàng phải cung cấp thông tin số hiệu tàu, ngày tàu nhập cảnh, số hộ chiếu của từng thuyền viên;

c) Trường hợp hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu của thuyền viên cho hành trình tiếp theo ngoài lãnh hải Việt Nam, người mua hàng phải cung cấp thông tin về số hiệu tàu, ngày tàu nhập cảnh, số hộ chiếu của từng thuyền viên. Hàng hóa phải được đưa vào kho chứa của tàu để cơ quan hải quan nơi tàu xuất cảnh niêm phong, xác nhận, giám sát cho đến khi tàu xuất cảnh.

6. Trong quá trình thực hiện, trường hợp thông tin cá nhân của người mua hàng miễn thuế có thể khai thác được từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu quốc gia khác hoặc Cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì không yêu cầu người mua hàng miễn thuế xuất trình bản giấy các loại giấy tờ cung cấp thông tin này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 4.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh 

Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh. Dự án đầu tư kinh doanh thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư

Theo quy định, Dự án đầu tư kinh doanh thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư gồm:

1) Dự án đầu tư có sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 126 của Luật Đất đai;

2) Dự án đầu tư có sử dụng đất thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 126 của Luật Đất đai;

3) Dự án thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực mà không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b ở trên (sau đây gọi là dự án đầu tư không sử dụng đất) và không thuộc trường hợp đấu giá tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Trong đó, Dự án đầu tư có sử dụng đất quy định tại khoản 2 nêu trên gồm:

a) Dự án đầu tư xây dựng công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

b) Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu, không bao gồm dự án thuộc trường hợp chỉ định, chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;

c) Dự án đầu tư xây dựng chợ thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về phát triển và quản lý chợ;

d) Dự án đầu tư trạm dừng nghỉ thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đường bộ;

đ) Dự án đầu tư xây dựng cảng hàng không mới thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng;

e) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về khuyến khích xã hội hóa khi có từ 02 nhà đầu tư trở lên quan tâm cùng đăng ký thực hiện, trừ dự án quy định tại điểm a và điểm b mục này;

g) Dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về nhà ở khi có từ 02 nhà đầu tư trở lên quan tâm cùng đăng ký thực hiện, không bao gồm dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 68 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15;

h) Dự án đầu tư kinh doanh điện lực thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về điện lực khi có từ 02 nhà đầu tư trở lên quan tâm cùng đăng ký thực hiện;

i) Các dự án khác thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai đồng thời thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 126 của Luật Đất đai.

Dự án đầu tư không sử dụng đất quy định tại khoản 3 nêu trên gồm:

a) Dự án nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm đối với kết cấu hạ tầng hàng hải, kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa trong vùng nước cảng biển, vùng nước đường thủy nội địa theo quy định của pháp luật về giao thông hàng hải và đường thủy nội địa;

b) Dự án thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu khi có từ 02 nhà đầu tư trở lên quan tâm cùng đăng ký thực hiện, gồm: dự án thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường theo quy định của pháp luật về khuyến khích xã hội hóa.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng nêu rõ dự án quy định tại khoản 1 và 2 nêu trên không phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong các trường hợp sau:

- Thuộc trường hợp giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước và thuộc trường hợp thu hồi đất tại Điều 79 của Luật Đất đai mà nhà đầu tư lựa chọn phương án thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất, không đề xuất thu hồi đất theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai.

- Trường hợp người đang có quyền sử dụng đất có đề xuất dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư được sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà Nhà nước không thực hiện thu hồi đất theo quy định tại khoản 6 Điều 127 Luật Đất đai.

Ưu đãi trong lựa chọn nhà đầu tư

Nghị định quy định đối tượng được hưởng ưu đãi và mức ưu đãi như sau:

- Nhà đầu tư có giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường đối với dự án thuộc nhóm có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường được hưởng mức ưu đãi 5% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

- Nhà đầu tư cam kết chuyển giao công nghệ, thực hiện hoạt động công nghệ cao đối với các công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định của pháp luật về công nghệ cao hoặc thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ hoặc thuộc danh mục công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi 2% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

- Nhà đầu tư là doanh nghiệp khoa học và công nghệ; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được cơ quan có thẩm quyên công nhận; trung tâm đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi 5% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

- Nhà đầu tư nước ngoài có cam kết chuyển giao công nghệ cho nhà đầu tư, đối tác trong nước được hưởng mức ưu đãi 2% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

Quy trình, thủ tục lựa chọn nhà đầu tư

Nghị định quy định đối với dự án áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật Đấu thầu, quy trình, thủ tục lựa chọn nhà đầu tư gồm:

- Công bố dự án đầu tư kinh doanh;

- Chuẩn bị đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư;

- Tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư;

- Đánh giá hồ sơ dự thầu;

- Trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà đầu tư;

- Đàm phán, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.

Đối với dự án có yêu cầu đặc thù phát triển kinh tế, xã hội của ngành, vùng, địa phương nhưng chưa xác định được cụ thể tiêu chuẩn về kỹ thuật, xã hội, môi trường, áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi theo phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật Đấu thầu:

- Công bố dự án đầu tư kinh doanh;

- Chuẩn bị và tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư giai đoạn một;

- Chuẩn bị và tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư giai đoạn hai;

- Đánh giá hồ sơ dự thầu giai đoạn hai;

- Trình, thẩm định, phê duyệt, công khai kết quả lựa chọn nhà đầu tư;

- Đàm phán, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 5.

Phê duyệt Đề án "Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" 

Phó Thủ tướng Phan Văn Giang ký Quyết định số 1226/QĐ-TTg ngày 7/7/2026 phê duyệt Đề án "Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" (Đề án).

Mục tiêu của Đề án là Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng mật mã dân sự; huy động hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo tham gia phát triển công nghệ mật mã; từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi; hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam" có năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và góp phần giữ vững chủ quyền số quốc gia.

Đến năm 2030 từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi, bao gồm thuật toán, giải pháp, hệ thống quản lý khóa và các thành phần bảo mật nền tảng. Tăng tỷ lệ sản phẩm mật mã dân sự do tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ. Hình thành đội ngũ nhân sự có trình độ cao trong lĩnh vực mật mã dân sự, đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn. Ưu tiên phát triển các sản phẩm mật mã "Make in Vietnam" đáp ứng yêu cầu sử dụng trong các hệ thống thông tin quan trọng, giảm dần phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài.

Tăng số lượng và nâng cao năng lực của doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ tham gia nghiên cứu, phát triển và cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự. Thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế liên kết Nhà nước - Nhà trường (Viện nghiên cứu) - Doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm.

Hình thành 10-15 doanh nghiệp có năng lực cung cấp sản phẩm

Đồng thời, mở rộng ứng dụng sản phẩm mật mã dân sự nội địa trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các hệ thống thông tin quan trọng. Tăng trưởng ổn định thị trường sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Tham gia đóng góp, đề xuất hoặc đồng chủ trì xây dựng tối thiểu 01 tiêu chuẩn, khuyến nghị kỹ thuật quốc tế liên quan đến mật mã dân sự.

Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ sản phẩm mật mã dân sự nội địa được sử dụng trong các hệ thống thông tin quan trọng đạt tối thiểu 20 - 30% vào năm 2030. Tối thiểu 50 - 70 sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam" được nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa.

Hình thành 10-15 doanh nghiệp có năng lực cung cấp sản phẩm, giải pháp mật mã dân sự cung cấp cho thị trường. Tỷ lệ giảm phụ thuộc vào sản phẩm, công nghệ mật mã nhập khẩu trong một số lĩnh vực trọng điểm đạt 20 - 30%. Tối thiểu 03 - 05 phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc gia, từng bước tiệm cận chuẩn quốc tế.

Đến năm 2035, đào tạo và phát triển ít nhất 5.000 chuyên gia, kỹ sư chất lượng cao chuyên sâu về mật mã

Định hướng đến năm 2035, đào tạo và phát triển ít nhất 5.000 chuyên gia, kỹ sư chất lượng cao chuyên sâu về mật mã, an toàn thông tin và vi mạch mật mã. Có ít nhất 20% nhân sự trong ngành sở hữu các chứng chỉ bảo mật và mật mã được công nhận toàn cầu (như CISSP, CISM, hoặc các chứng chỉ chuyên sâu về bảo mật, an toàn thông tin). Đưa chuyên ngành bảo mật, an toàn thông tin vào giảng dạy chính thức tại các trường đại học kỹ thuật trọng điểm. Hình thành ít nhất 3-5 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về nghiên cứu mật mã ứng dụng và mật mã hậu lượng tử (PQC).

Đề án đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện như: Hoàn thiện hành lang pháp lý, đẩy mạnh triển khai cơ chế, chính sách; phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi; tổ chức, xây dựng hạ tầng thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp; phát triển thị trường và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam"; phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái; truyền thông, phổ biến chính sách, nâng cao nhận thức và sơ kết, tổng kết; bảo đảm nguồn lực triển khai Đề án.

Phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi

Để phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, Đề án tổ chức triển khai các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển trọng điểm: thuật toán và giao thức mật mã; hệ thống quản lý khóa và hạ tầng khóa công khai; mô-đun phần cứng bảo mật và thành phần bảo mật nền tảng; các công nghệ mật mã thế hệ mới (PQC, QKD) theo định hướng phát triển dài hạn.

Thúc đẩy liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển; tham gia hoặc đề xuất Việt Nam tham gia các thỏa thuận quốc tế về thừa nhận, công nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp sản phẩm mật mã dân sự và trao đổi hợp tác quốc tế về mật mã dân sự.

Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam"

Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam" bằng cách thiết lập và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) ứng dụng mật mã dân sự theo ngành, lĩnh vực; công bố danh mục bài toán thực tiễn để doanh nghiệp tham gia (danh mục bài toán, nhu cầu ứng dụng, báo cáo kết quả, phương án nhân rộng).

Đẩy mạnh sử dụng sản phẩm mật mã dân sự nội địa đã được kiểm định, đánh giá đạt yêu cầu trong các hệ thống thông tin quan trọng (lộ trình bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn mật mã quốc gia do Ban Cơ yếu Chính phủ nghiên cứu, phát triển, làm chủ; tích hợp vào sản phẩm mật mã dân sự nội địa trong các hệ thống thông tin trọng yếu.

Hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuẩn hóa sản phẩm, hoàn thiện tài liệu kỹ thuật và xúc tiến thương mại; thúc đẩy chuyển giao công nghệ sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 6.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị thúc đẩy triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 357/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị thúc đẩy triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030).

Các Chương trình mục tiêu quốc gia đã mang lại nhiều lợi ích cho khu vực nông thôn, miền núi

Phó Thủ tướng đánh giá: Sau 05 năm triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 (Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến rõ nét tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng; hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế, tạo việc làm, giảm nghèo; giải quyết nhà ở, đất ở, đất sản xuất; cải thiện điều kiện giáo dục, y tế và nâng cao đời sống của người dân.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có 04/07 chỉ tiêu vượt mục tiêu đề ra, 03 chỉ tiêu cơ bản hoàn thành; cả nước đã phát triển khoảng 25.000 sản phẩm OCOP, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm đặc trưng và quảng bá hình ảnh địa phương. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững có 02/05 chỉ tiêu vượt kế hoạch, 02 chỉ tiêu đạt mục tiêu, 01 chỉ tiêu chưa hoàn thành, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đến cuối năm 2025 giảm còn 2,95%, là kết quả nổi bật trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, có 06/09 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, 03 chỉ tiêu chưa hoàn thành liên quan đến cải thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; giảm số xã, thôn đặc biệt khó khăn; công tác định canh, định cư. Đây là những nhiệm vụ cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực trong thời gian tới.

Ngay sau khi Chương trình giai đoạn 2026-2030 được phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương triển khai khối lượng lớn công việc. Đến nay cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn cơ bản được ban hành đầy đủ, đồng bộ (đã được tích hợp vào Sổ tay hướng dẫn), nhiều nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ cơ bản được hoàn thành.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế: Nội dung, địa bàn và đối tượng hỗ trợ của các Chương trình còn có sự giao thoa, dễ dẫn đến trùng lặp, phân tán nguồn lực; hệ thống văn bản hướng dẫn còn nhiều, việc triển khai, cụ thể hóa tại một số địa phương còn chậm; năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở chưa đồng đều; việc xác định nhu cầu, lựa chọn danh mục dự án ưu tiên, phân giao nhiệm vụ, điều chỉnh đối tượng thụ hưởng, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, quản lý vật liệu xây dựng tại một số địa phương còn bất cập, chưa sát thực tế; việc triển khai thực hiện và giải ngân vốn từ giai đoạn trước kéo dài sang năm 2026 nhiều nơi còn rất chậm; kết quả giảm nghèo tại một số địa bàn chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu.

Phó Thủ tướng nhận định: Chương trình trong giai đoạn 2026-2030 được triển khai hiệu quả sẽ góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, miền núi, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là hộ nghèo và đồng bào vùng dân tộc thiểu số miền núi. Thực tế triển khai trong thời gian qua cho thấy nơi nào cấp ủy, chính quyền vào cuộc quyết liệt sẽ đạt hiệu quả cao, các địa phương cần nhìn nhận, đánh giá đầy đủ nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc đồng thời các bộ, cơ quan, địa phương phải khẩn trương, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ được giao, bảo đảm việc triển khai Chương trình đạt hiệu quả rõ rệt.

Chính vì vậy, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường (cơ quan chủ Chương trình) chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình, kịp thời khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản, chậm phân bổ và giải ngân, triển khai dàn trải, hình thức, kém hiệu quả; tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương những vấn đề phát sinh. Phối hợp với Bộ Tài chính và cơ quan liên quan khẩn trương rà soát hoàn thiện cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo trực tuyến theo Quyết định số 25/2025/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí KPI đánh giá việc thực hiện Chương trình trước ngày 15 tháng 7 năm 2026.

Chú trọng phát triển sinh kế bền vững, ổn định

Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương có liên quan tập trung hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong triển khai các nội dung thuộc Hợp phần thứ hai của Chương trình; bảo đảm chính sách đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, đúng nhu cầu cấp thiết. Chú trọng các nhiệm vụ về phát triển sinh kế bền vững, ổn định đời sống, giảm nghèo đa chiều, nâng cao năng lực cộng đồng, bảo tồn bản sắc văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Bộ, cơ quan liên quan rà soát hoàn thiện cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo trực tuyến về Chương trình.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các cơ quan liên quan khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phân bổ giao vốn kế hoạch năm 2026 trước ngày 09 tháng 7 năm 2026; hướng dẫn cơ chế tài chính theo thẩm quyền.

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các cơ quan liên quan hướng dẫn, đôn đốc việc kiện toàn Ban Chỉ đạo và cơ quan tham mưu, giúp việc ở các cấp; bảo đảm thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ trách nhiệm, rõ đầu mối, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành, theo dõi, đôn đốc và tổ chức thực hiện Chương trình từ Trung ương đến cơ sở.

Các bộ, cơ quan liên quan được giao chủ trì tiêu chí, chỉ tiêu, nội dung tiếp tục rà soát, kịp thời tháo gỡ vướng mắc của địa phương; phối hợp kiểm tra, giám sát, không để nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý ngành bị chậm. Đồng thời, tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân 100% nguồn vốn ngân sách trung ương năm 2025 được kéo dài sang năm 2026.

Tập trung giải quyết dứt điểm các nhu cầu thiết yếu của người dân

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động triển khai thực hiện Chương trình theo cơ chế, chính sách đã ban hành; kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh. Khẩn trương phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công trung hạn của Chương trình giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch vốn ngân sách năm 2026 để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Trong đó, cần tập trung giải quyết dứt điểm các nhu cầu thiết yếu của người dân (đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục), đặc biệt là nước sinh hoạt và điện; ưu tiên tối đa cho địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, các công trình hạ tầng cấp thiết.

Chủ động cân đối, bố trí vốn đối ứng, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, cấp vốn ngân sách địa phương ủy thác qua hệ thống ngân hàng chính sách để thực hiện có hiệu quả tín dụng chính sách của Chương trình; đồng thời, phát huy tín dụng thương mại, nguồn lực doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng dân cư. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ; bảo đảm việc sử dụng vốn công khai, minh bạch, đúng mục tiêu, đúng đối tượng. Trong năm 2026, lấy kết quả đầu ra, tiến độ thực hiện, tỷ lệ giải ngân, hiệu quả sử dụng vốn và mức độ cải thiện đời sống người dân làm căn cứ đánh giá chủ yếu, làm cơ sở chỉ đạo, điều hành trong các năm tiếp theo.

Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương trong triển khai tín dụng chính sách; hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Việc hỗ trợ phải gắn với nhu cầu thực tế, khả năng hoàn trả, hiệu quả sản xuất và mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026- Ảnh 7.

Tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn góp phần tăng cường bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và phát triển bền vững giai đoạn 2026 – 2030

Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ký Chương trình phối hợp số 348/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn góp phần tăng cường bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và phát triển bền vững giai đoạn 2026 – 2030 (Chương trình phối hợp).

Mục đích của Chương trình phối hợp nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm tuân thủ pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn. Lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng tinh thần trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Phòng ngừa, ngăn chặn, lên án các hành vi vi phạm quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm để không sử dụng nguyên liệu, sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm vào sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.

Đồng thời, vận động, hướng dẫn nông dân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản áp dụng các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm; nhân rộng các mô hình sản xuất nông sản an toàn, sản xuất liên kết với chế biến, bảo quản và tiêu thụ theo chuỗi ngành hàng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số; phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững.

Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy, thể hiện vai trò nòng cốt các cấp Hội và hội viên Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong tuyên truyền, vận động và giám sát cộng đồng về an toàn thực phẩm; đồng thời tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp công tác giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát an toàn thực phẩm từ cơ sở.

Kịp thời phát hiện, tôn vinh các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh nông lâm thuỷ sản an toàn; đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm; xóa bỏ hiện tượng phân biệt sản xuất để tiêu dùng và sản xuất để kinh doanh.

Đến năm 2030, phấn đấu 100% hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến nông lâm thuỷ sản tuân thủ các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm

Chương trình phối hợp đề ra các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau:

100% cán bộ phụ trách công tác an toàn thực phẩm của Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ trung ương đến địa phương được tập huấn, cập nhật kiến thức về đảm bảo an toàn thực phẩm; kỹ năng tuyên truyền, vận động, giám sát và hướng dẫn hội viên, người dân tuân thủ pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm.

100% hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở nhỏ lẻ sản xuất, kinh doanh, chế biến nông lâm thuỷ sản có thành viên là hội viên của Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được tuyên truyền, tập huấn và ký cam kết tuân thủ các quy định pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm.

100% Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp tỉnh có hội viên áp dụng và nhân rộng mô hình sản xuất nông lâm thủy sản an toàn có ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, nông nghiệp xanh, giảm phát thải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai thực hiện phong trào "Giám sát cộng đồng" về an toàn thực phẩm nhằm giám sát, phát hiện các hành vi vi phạm quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm; kịp thời thông tin, phản ánh đến cơ quan chức năng để xử lý, ngăn chặn sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường và đến tay người tiêu dùng. Mỗi Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, phường, đặc khu duy trì ít nhất một mô hình "giám sát cộng đồng".

100% các tỉnh, thành phố ký kết Chương trình phối hợp giữa Ủy ban nhân dân và Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp tỉnh về tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn góp phần tăng cường bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và phát triển bền vững giai đoạn 2026 - 2030.

Tăng cường giám sát cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản Chương trình phối hợp gồm 7 nội dung chính sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan, hướng dẫn tổ chức sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm; chú trọng vận động nhân dân sản xuất an toàn từ khâu trồng trọt, đặc biệt là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn; lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng tinh thần trách nhiệm và đạo đức của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, không phân biệt sản xuất để tiêu dùng hay để kinh doanh. Tuyên truyền nâng cao nhận thức và cung cấp kiến thức cho người tiêu dùng về an toàn thực phẩm.

Thứ hai, tăng cường giám sát cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản, chú trọng các cơ sở nhỏ lẻ để phòng ngừa, ngăn chặn, lên án các hành vi vi phạm quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm; không đưa sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm ra thị trường.

Thứ ba, vận động, hướng dẫn và hỗ trợ các hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở nhỏ lẻ sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản áp dụng các quy trình, tiêu chuẩn chất lượng và ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn; chú trọng xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất an toàn; chủ động kết nối tiêu thụ sản phẩm nông lâm thủy sản an toàn; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững.

Thứ tư, triển khai phong trào "Giám sát cộng đồng" về an toàn thực phẩm; phát huy vai trò của các cấp Hội, hội viên và cộng đồng trong giám sát hoạt động sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh thực phẩm, nông lâm thủy sản; chú trọng giám sát tại các địa bàn có nguy cơ cao về mất an toàn thực phẩm như: các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đông dân cư, chợ truyền thống, cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể, trường học…

Thứ năm, hỗ trợ cho các cấp Hội và hội viên Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cập nhật, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản an toàn; tham gia đề xuất chính sách về an toàn thực phẩm.

Thứ sáu, ban hành hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương với các cấp hội và tổ chức triển khai hiệu quả, phù hợp giữa các cấp Hội trong tuyên truyền, vận động và giám sát việc bảo đảm an toàn thực phẩm tại cơ sở.

Thứ bảy, phát hiện, kịp thời biểu dương, tôn vinh những điển hình tiên tiến, mô hình hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn; đấu tranh, lên án các hành vi, các trường hợp sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ nông sản thực phẩm không an toàn, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm, đảm bảo không để sản phẩm mất an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường và đến tay người tiêu dùng.

Định kỳ hàng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình phối hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.