• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 02/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 02/7/2026.

03/07/2026 10:04
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 02/7/2026- Ảnh 1.

Cá nhân chuyển nhượng có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân

Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, đáng chú ý là quy định về việc miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản.

Nghị định này quy định chi tiết một số điều và các biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, bao gồm: Người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú; thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế; thu nhập được miễn thuế, giảm thuế; điều kiện miễn thuế, giảm thuế; căn cứ tính thuế đối với từng loại thu nhập; quy đổi thu nhập chịu thuế; kỳ tính thuế; khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay; quyết toán thuế, hoàn thuế; hiệu lực thi hành.

22 trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân

Nghị định quy định các trường hợp thu nhập sau được miễn thuế thu nhập cá nhân:

1. Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản.

2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở duy nhất của cá nhân.

3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.

4. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối.

5. Thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia "Cánh đồng lớn", trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản.

6. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất.

7. Thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ, lãi trái phiếu chính quyền địa phương, lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

8. Thu nhập từ kiều hối.

9. Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép.

10. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả; thu nhập do quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, quỹ hưu trí tự nguyện chi trả.

11. Thu nhập từ học bổng.

12. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác.

13. Thu nhập nhận được từ các tổ chức và quỹ từ thiện.

14. Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài.

15. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam.

16. Thu nhập từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác thủy sản xa bờ.

17. Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải, chuyển nhượng tín chỉ các bon; thu nhập từ tiền lãi trái phiếu xanh, chuyển nhượng trái phiếu xanh.

18. Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

19. Thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

20. Thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.

21. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia nước ngoài làm việc tại chương trình, dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại, chương trình, dự án phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân là người Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc Hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam; cá nhân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

22. Thu nhập của chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân là chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản

Về thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản, Nghị định quy định:

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu (kể cả khi chồng chết); cha vợ, mẹ vợ với con rể (kể cả khi vợ chết); ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau.

Trường hợp bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) khi vợ/chồng ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì thu nhập từ việc phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế.

Hồ sơ, thủ tục miễn thuế thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế.

Cá nhân chuyển nhượng có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam được miễn thuế thu nhập cá nhân

Về thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở duy nhất của cá nhân, Nghị định quy định:

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Quy định miễn thuế này không áp dụng đối với trường hợp chuyển nhượng nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai.

Cá nhân chuyển nhượng có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam được miễn thuế phải đáp ứng các điều kiện sau:

Chỉ có duy nhất quyền sở hữu một nhà ở hoặc quyền sử dụng một thửa đất ở (bao gồm cả trường hợp có nhà ở hoặc công trình xây dựng gắn liền với thửa đất đó) tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp cá nhân có thêm nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai tại thời điểm chuyển nhượng thì việc chuyển nhượng này không được xác định là nhà ở, quyền sử dụng đất ở duy nhất của cá nhân.

Trường hợp chuyển nhượng nhà ở có chung quyền sở hữu, đất ở có chung quyền sử dụng (bao gồm cả vợ/chồng có chung quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở) thì chỉ cá nhân chưa có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nơi khác được miễn thuế; cá nhân có chung quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở còn có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở khác không được miễn thuế.

Có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở tính đến thời điểm chuyển nhượng tối thiểu là 183 ngày.

Thời điểm xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở là ngày cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Riêng trường hợp được cấp lại, cấp đổi theo quy định của pháp luật về đất đai thì thời điểm xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở được tính theo thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trước khi được cấp lại, cấp đổi.

Chuyển nhượng toàn bộ nhà ở, quyền sử dụng đất ở. Trường hợp cá nhân có quyền hoặc chung quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở duy nhất nhưng chuyển nhượng một phần thì không được miễn thuế cho phần chuyển nhượng đó.

Nhà ở, quyền sử dụng đất ở duy nhất được miễn thuế do cá nhân chuyển nhượng bất động sản tự kê khai và chịu trách nhiệm. Trường hợp phát hiện kê khai không đúng sẽ bị truy thu thuế và xử phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.

Hồ sơ, thủ tục miễn thuế thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Nghị định về khuyến nông

Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2026/NĐ-CP về khuyến nông. Nghị định này quy định hình thức, phương thức, đối tượng, chính sách về khuyến nông và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 52 Luật Chuyển giao công nghệ.

Trong đó, Nghị định quy định chính sách về khuyến nông gồm: Chính sách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng; chính sách thông tin, truyền thông; chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình; hỗ trợ hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp; chính sách xã hội hoá khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp.

Chính sách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng

Về chính sách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, Nghị định quy định người tham gia đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng khuyến nông được hỗ trợ tối đa 100% chi phí tài liệu, tiền ăn, đi lại, nơi ở.

Người tham gia giảng dạy, trợ giảng, hướng dẫn thực hành, tham quan, tổ chức lớp học được hưởng 100% các chế độ hỗ trợ; khuyến khích, thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, nghệ nhân, nông dân sản xuất giỏi tham gia giảng dạy các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng khuyến nông; đồng thời, ưu tiên đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ khuyến nông cơ sở, khuyến nông cộng đồng, phụ nữ, người dân tộc thiểu số.

Chính sách thông tin, truyền thông

Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện thông tin, truyền thông khuyến nông trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản bản tin, tài liệu, ấn phẩm khuyến nông, tổ chức sự kiện khuyến nông (hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm, diễn đàn, tọa đàm), tư vấn, dịch vụ khuyến nông, xây dựng, vận hành, cập nhật, quản lý, chia sẻ, kết nối liên thông cơ sở dữ liệu, thông tin khuyến nông, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng công nghệ số và các hình thức thông tin, truyền thông khuyến nông khác.

Người tham gia sự kiện khuyến nông được hỗ trợ chi phí tài liệu, đi lại, tiền ăn, nơi ở.

Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình

Về chính sách hỗ trợ xây dựng mô hình, Nghị định quy định mô hình triển khai trên địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, dịch hại theo công bố của cấp có thẩm quyền (trong thời hạn không quá 03 năm) được hỗ trợ tối đa 100% tổng chi phí xây dựng mô hình.

Mô hình triển khai trên địa bàn khác được hỗ trợ tối đa 50% tổng chi phí xây dựng mô hình.

Hỗ trợ 100% chi phí triển khai mô hình; hỗ trợ tối đa 100% chi phí tư vấn, đào tạo để được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm của mô hình.

Hỗ trợ tối đa 100% kinh phí triển khai, tập huấn, người chỉ đạo kỹ thuật xây dựng mô hình.

Về chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình, nhà nước hỗ trợ tối đa 100% chi phí thông tin, truyền thông, hội nghị, hội thảo, tham quan học tập, phổ biến nhân rộng mô hình; hỗ trợ chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để nhân rộng mô hình, mức hỗ trợ tối đa bằng 60% chi phí xây dựng mô hình quy định ở trên.

Các hộ nông dân tham gia nhân rộng mô hình có gắn với liên kết chuỗi giá trị thì được hưởng chính sách hỗ trợ về phát triển chuỗi liên kết theo quy định hiện hành.

Nguyên tắc hỗ trợ hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp

Ngân sách nhà nước hỗ trợ hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật khuyến nông do cơ quan có thẩm quyền ban hành, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa bàn và khả năng cân đối ngân sách nhà nước; không trùng lặp trong cùng một nội dung với nguồn đầu tư khác của Nhà nước.

Khuyến khích, thu hút, huy động các nguồn lực xã hội và đối ứng của các tổ chức, cá nhân để mở rộng quy mô, đối tượng tham gia và hưởng lợi từ hoạt động khuyến nông của nhà nước.

Chính sách xã hội hoá khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp

Các tổ chức, cá nhân tham gia xã hội hóa hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp được hưởng các chính sách sau:

- Được vinh danh, quảng bá, giới thiệu sản phẩm khi tham gia các sự kiện khuyến nông do trung ương và địa phương tổ chức;

- Được cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi khi tham gia hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp;

- Được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, lệ phí, vay vốn, thuê đất và các chính sách khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Nghị định quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia xã hội hóa hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp:

- Khi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ phải có hướng dẫn cụ thể về tính năng, tác dụng của tiến bộ kỹ thuật, công nghệ;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do việc chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ gây ra (trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định pháp luật).

Cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông ở địa phương có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân thực hiện trên địa bàn theo quy định của pháp luật hiện hành.

Quy định trên có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2026.

Quy định chi tiết một số điều về cơ chế, chính sách phát huy nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế theo Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội

Tại Nghị định số 258/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết cơ chế, chính sách đặc thù thu hút, sử dụng nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm, chiến lược quốc gia.

Chính phủ ban hành Nghị định số 258/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều về cơ chế, chính sách phát huy nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế theo Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội.

Nghị định này quy định chi tiết các Điều 19, 21, 22, 23 và 24 của Nghị quyết số 250/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm: Công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang, người làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế; cơ sở giáo dục chuyên sâu về lĩnh vực hội nhập quốc tế.

Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế có thể được hỗ trợ hàng tháng bằng 300% mức lương

Về cơ chế, chính sách đặc thù thu hút, sử dụng nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm, chiến lược quốc gia, Nghị định quy định như sau:

1. Căn cứ định hướng phát triển ngành, lĩnh vực chiến lược trọng tâm của quốc gia, địa phương, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định cụ thể các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế để áp dụng các chính sách đặc thù nhằm thu hút, sử dụng nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, xu hướng phát triển trên thế giới.

2. Nhà khoa học về hội nhập quốc tế là người sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 trong khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, có ít nhất 10 năm làm việc trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế hoặc ít nhất 10 năm trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo, nghiên cứu, chương trình, dự án trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế, đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Có trình độ tiến sĩ trở lên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo có uy tín quốc tế;

b) Là tác giả hoặc đồng tác giả công trình nghiên cứu khoa học đạt giải thưởng quốc tế hoặc được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả thiết thực.

3. Chuyên gia về hội nhập quốc tế là người sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 trong khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện sau:

Đã có ít nhất 10 năm làm việc hoặc đang giữ chức vụ quản lý tại tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực ở trong, ngoài nước, có uy tín về chuyên môn trong lĩnh vực hội nhập quốc tế;

b) Chủ trì hoặc đồng chủ trì ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc;

c) Giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp Thứ trưởng hoặc tương đương trở lên đang công tác hoặc đã nghỉ hưu; đã trực tiếp chủ trì hoặc tham gia tham mưu chính sách về hội nhập quốc tế, định hình cơ chế hợp tác, đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác cấp quốc gia hoặc giải quyết các vấn đề mang tính liên quốc gia, liên khu vực trong lĩnh vực phụ trách; hoặc đã từng tham gia dẫn dắt, định hướng, tham vấn chuyên môn tại các hội nghị, hội thảo khu vực, quốc tế về lĩnh vực hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế của cơ quan, tổ chức mà cá nhân là lãnh đạo;

d) Được Chính phủ Việt Nam đề cử và trở thành thành viên của cơ quan, tổ chức chuyên môn quốc tế;

đ) Được người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận và bổ nhiệm chức danh chuyên gia về hội nhập quốc tế.

Căn cứ nhu cầu thực tiễn, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng chức danh chuyên gia để thẩm định, kiến nghị công nhận chuyên gia về hội nhập quốc tế; quyết định và chịu trách nhiệm về việc công nhận, bổ nhiệm chức danh chuyên gia về hội nhập quốc tế và thông báo cho Bộ Ngoại giao danh sách chuyên gia được công nhận.

Chính sách đối với nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế là người Việt Nam

Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế được quy định tại khoản 2 và điểm a, b, d khoản 3 nêu trên nếu trong độ tuổi lao động và có nguyện vọng công tác lâu dài tại cơ quan, tổ chức trực tiếp, thường xuyên hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế thì được xem xét tiếp nhận vào công chức, viên chức theo pháp luật hiện hành, được hỗ trợ hằng tháng bằng 300% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng và các chính sách khác theo quy định của pháp luật;

Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế được quy định tại khoản 2 và điểm a, b, c, d khoản 3 nêu trên nếu đã quá độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng không có nguyện vọng được tiếp nhận vào công chức, viên chức và nếu cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì được xem xét ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức hoặc hợp đồng khoán việc theo quy định của pháp luật;

Thời điểm hưởng hỗ trợ hằng tháng được tính từ khi cấp có thẩm quyền tiếp nhận nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế vào công chức, viên chức hoặc công nhận và bổ nhiệm chức danh chuyên gia.

Hằng năm, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và kết quả đóng góp của nhà khoa học, chuyên gia. Việc đánh giá được tiến hành cùng thời điểm với đánh giá, xếp loại chất lượng công chức, viên chức hằng năm theo quy định của pháp luật. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định việc tiếp tục hoặc cho thôi hưởng chế độ hỗ trợ dành cho nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế.

Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế là công dân nước ngoài được ưu tiên mời tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu học thuật, hỗ trợ triển khai các chương trình hợp tác, đào tạo, nghiên cứu học thuật với nước ngoài trong các lĩnh vực hội nhập quốc tế theo hình thức ký hợp đồng làm việc với mức tiền công phù hợp theo thỏa thuận và được hưởng các chính sách khác theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần thiết và trên cơ sở đồng thuận của cơ quan trực tiếp quản lý, nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được Bộ Ngoại giao điều động tham gia hỗ trợ, phục vụ các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước do Bộ Ngoại giao chủ trì hoặc điều phối, hoặc tham gia đào tạo, giảng dạy về đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Phát triển Học viện Ngoại giao thành cơ sở đào tạo chuyên sâu, trọng điểm quốc gia về đối ngoại, hội nhập quốc tế

Đáng chú ý, tại Điều 5 của Nghị định nêu rõ định hướng phát triển Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao là cơ sở giáo dục đại học chuyên sâu, trọng điểm quốc gia, đóng vai trò chủ đạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng về đối ngoại, hội nhập quốc tế, nghiên cứu chiến lược và triển khai các hoạt động ngoại giao học giả trong hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên toàn quốc.

Học viện Ngoại giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và các nhiệm vụ sau:

a) Tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phê duyệt và tổ chức thực hiện Chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho công chức, viên chức, người trực tiếp, thường xuyên làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, người tham gia ứng cử vào tổ chức quốc tế; theo dõi, đôn đốc, đánh giá, tổng hợp, định kỳ hoặc đột xuất báo cáo cấp có thẩm quyền việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng về đối ngoại, hội nhập quốc tế;

b) Đóng vai trò đầu mối trong việc định hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên, phát triển các ngành, chương trình đào tạo đại học và sau đại học, chia sẻ học liệu và hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khác trong cả nước về lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế;

c) Nghiên cứu lý luận, nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình quốc tế và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế;

d) Thực hiện nhiệm vụ tổ chức đầu mối quốc gia trong triển khai các hoạt động ngoại giao học giả;

đ) Đóng vai trò đầu mối kết nối và triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu và trao đổi học thuật về đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Học viện Ngoại giao được Bộ Ngoại giao ưu tiên sắp xếp, bố trí nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao, công tác nghiên cứu chiến lược, chuyển đổi số; đồng thời được tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, phổ biến thông tin về đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các chế độ hỗ trợ hằng tháng đối với người làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế trực tiếp, thường xuyên, nhà khoa học, chuyên gia và người sử dụng thành thạo ngoại ngữ hiếm được áp dụng kể từ ngày Nghị quyết số 250/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

Quy định về phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế

Chính phủ ban hành Nghị định số 256/2026/NĐ-CP quy định về phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế.

Nghị định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về phù hiệu, cấp hiệu, trang phục, biển hiệu của công chức thuế, gồm: mẫu phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế; tiêu chuẩn, định mức trang bị, chế độ cấp phát, quản lý sử dụng phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế.

Phù hiệu công chức thuế

Về phù hiệu công chức thuế, Nghị định quy định phù hiệu công chức thuế có hình tròn, đường kính 3,8 cm (đối với nam), 2,8 cm (đối với nữ) làm bằng kim khí. Mặt trước nền chìm sơn đỏ, xung quanh có đường viền; hai bên có hai bông lúa; 1/3 trên có ngôi sao 5 cánh (có tia chìm tỏa ra), 1/3 dưới có hình bánh xe, chính giữa có chữ "Thuế Nhà nước" dập nổi mạ màu vàng và một dải nơ phía dưới.

Phù hiệu công chức thuế được gắn vào mặt phía trước mũ kê pi (đối với nam) và mũ mềm (đối với nữ) bằng đai ốc và ren.

Quy định cấp hiệu công chức thuế

Nghị định quy định cấp hiệu công chức thuế thể hiện vị trí, chức vụ của công chức trong cơ quan thuế các cấp, được gắn trên vai áo trang phục của công chức thuế, có hình chữ nhật, làm bằng băng dệt có hoa văn, xung quanh có viền lé, đường viền rộng 3 mm một đầu vát nhọn cân, có kích thước rộng 48 mm, dài 125 mm, độ chếch đầu nhọn 15 mm.

Cấp hiệu lãnh đạo Cục Thuế có nền màu vàng da cam, xung quanh có viền lé màu đỏ. Từ phần đầu trên cấp hiệu (phía đầu vát nhọn) đến phần đầu dưới cấp hiệu (đầu hình chữ nhật) lần lượt có cúc cấp hiệu, sao cấp hiệu lãnh đạo, biểu tượng cấp hiệu.

Cấp hiệu lãnh đạo Ban, Chi cục, Thuế tỉnh, thành phố và tương đương có nền màu vàng nhạt, xung quanh có viền lé màu đen. Từ phần đầu trên cấp hiệu (phía đầu vát nhọn) đến phần đầu dưới cấp hiệu (đầu hình chữ nhật) lần lượt có cúc cấp hiệu, sao cấp hiệu lãnh đạo, biểu tượng cấp hiệu và vạch cấp hiệu (03 vạch ngang).

Cấp hiệu lãnh đạo cấp phòng, Thuế cơ sở thuộc Thuế tỉnh, thành phố và tương đương có nền màu vàng nhạt, xung quanh có viền lé màu đen. Từ phần đầu trên cấp hiệu (phía đầu vát nhọn) đến phần đầu dưới cấp hiệu (đầu hình chữ nhật) lần lượt có cúc cấp hiệu, sao cấp hiệu lãnh đạo, biểu tượng cấp hiệu và vạch cấp hiệu (02 vạch ngang).

Cấp hiệu công chức thuế có nền màu vàng nhạt, xung quanh có viền lé màu đen. Từ phần đầu trên cấp hiệu (phía đầu vát nhọn) đến phần đầu dưới cấp hiệu (đầu hình chữ nhật) lần lượt có cúc cấp hiệu, biểu tượng cấp hiệu và vạch cấp hiệu (vạch hình "<" nằm ngang).

Quy định về trang phục công chức thuế

Nghị định quy định trang phục công chức thuế gồm: Lễ phục, áo quần xuân hè, áo quần thu đông, áo sơ mi mặc bên trong áo lễ phục mùa đông, áo sơ mi thu đông, áo chống rét, mũ, giày, dây thắt lưng, cà vạt, tất chân, cành tùng.

Chính phủ thông qua dự án Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Ưu đãi người có công

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 01/7/2026 về việc dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.

Cụ thể, Chính phủ quyết nghị thông qua dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 theo báo cáo, đề xuất của Bộ Nội vụ tại Tờ trình số 6524/TTr-BNV ngày 24/6/2026, Báo cáo số 6307/BC-BNV ngày 21/6/2026 và Báo cáo số 6727/BC-BNV ngày 29/6/2026.

Bộ Nội vụ tiếp tục, rà soát, hoàn thiện nội dung dự thảo Pháp lệnh, Tờ trình của Chính phủ và các tài liệu có liên quan.

Trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình, báo cáo, tài liệu gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định; bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu.

Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1184/QĐ-TTg ngày 01/7/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-2030 (Chiến lược).

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược nhằm xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện về đức - trí - thể -mỹ, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước; có đạo đức, ý thức công dân, chấp hành pháp luật; có sức khỏe và lối sống lành mạnh; có văn hóa, kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng sống, nghề nghiệp và việc làm; có ý chí lập thân, lập nghiệp, năng động, đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước và hội nhập quốc tế. Phát huy tinh thần cống hiến, xung kích, tình nguyện và nâng cao trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đến năm 2030, trên 50% thanh niên tham gia và hoàn thành ít nhất 01 khoá học trực tuyến về chuyển đổi số, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo

Về mục tiêu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cung cấp thông tin về tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho thanh niên, phấn đấu hằng năm, có 80% thanh niên công nhân, 75% thanh niên nông thôn, thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được trang bị kiến thức về quốc phòng và an ninh.

Đến năm 2030, trên 70% thanh niên được tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật và văn hóa tuân thủ pháp luật, kỹ năng phòng chống vi phạm pháp luật theo hình thức trực tiếp, các ứng dụng pháp luật trực tuyến, mạng xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng.

Hằng năm, có ít nhất 20% thanh niên là người dân tộc thiểu số làm báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và tham gia công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, lĩnh vực, địa bàn.

Về giáo dục, đào tạo, mở rộng cơ hội học tập, nghiên cứu khoa học cho thanh niên, mục tiêu đến năm 2030, trên 50% thanh niên tham gia và hoàn thành ít nhất 01 khoá học trực tuyến trên ứng dụng nền tảng cung cấp các khóa học trực tuyến đại chúng mở (MOOCs) của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyển đổi số, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; trên 90% thanh niên thuộc nhóm dễ bị tổn thương được hỗ trợ tiếp cận học tập số thông qua thiết bị, Internet hoặc chương trình đào tạo trực tuyến phù hợp.

Phấn đấu 70% thanh niên được đào tạo nghề hoặc có kỹ năng nghề đạt chuẩn theo khung kỹ năng nghề quốc gia

Đến năm 2030, ít nhất 30% thanh niên có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam.

Đến năm 2030, phấn đấu 90% thanh niên được tư vấn hướng nghiệp và kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp; trong đó, thanh niên là học sinh, sinh viên đạt 100%.

Đến năm 2030, tăng 15% số công trình khoa học và công nghệ do thanh niên chủ trì; tăng 10% số thanh niên làm việc trong các tổ chức khoa học, công nghệ (so với năm 2020).

Về việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo sinh kế bền vững cho thanh niên; phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao, phấn đấu đến năm 2030, 80% thanh niên được phổ cập kiến thức, kỹ năng số cơ bản; phấn đấu 40% thanh niên có kỹ năng số nâng cao, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Đến năm 2030, ít nhất 30% số ý tưởng, dự án khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của thanh niên được kết nối, hỗ trợ từ các doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc được đầu tư, vay vốn từ nguồn kinh phí phù hợp; ít nhất 25% doanh nghiệp khởi nghiệp mới do thanh niên làm chủ.

Đến năm 2030, phấn đấu 70% thanh niên được đào tạo nghề hoặc có kỹ năng nghề đạt chuẩn theo khung kỹ năng nghề quốc gia; 50% thanh niên thuộc nhóm dễ bị tổn thương được Nhà nước hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề.

Đến năm 2030, tỉ lệ thanh niên thất nghiệp, thiếu việc làm dưới 6%; 40% thanh niên tham gia các hoạt động kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; phấn đấu 70% thanh niên có việc làm bền vững, việc làm xanh, việc làm trong khu vực kinh tế số, lĩnh vực công nghệ cao hoặc các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của quốc gia; ít nhất 70% người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là thanh niên, tập trung vào các thị trường có thu nhập cao.

Đến năm 2030, có ít nhất 70% thanh niên là người khuyết tật, người nhiễm HIV, người sử dụng ma túy, thanh niên là nạn nhân của tội phạm buôn bán người, thanh niên vi phạm pháp luật được bồi dưỡng kỹ năng sống, lao động và hòa nhập cộng đồng. Phấn đấu tạo việc làm ổn định cho trên 50% thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; 30% thanh niên là người khuyết tật, người nhiễm HIV, người sau cai nghiện, sau cải tạo, thanh niên là người Việt Nam không có quốc tịch.

Phấn đấu hằng năm, trên 80% thanh niên được trang bị kiến thức, kỹ năng rèn luyện thể chất, nâng cao sức khỏe

Về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho thanh niên, phấn đấu hằng năm, trên 80% thanh niên được trang bị kiến thức, kỹ năng rèn luyện thể chất, nâng cao sức khỏe; chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, sức khỏe tâm thần; dân số và phát triển; bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới; bạo lực gia đình, bạo lực học đường, xâm hại tình dục; HIV/AIDS và các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (trong đó: tỷ lệ thanh niên là học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục đạt 100%; tỷ lệ thanh niên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt trên 90%).

Hằng năm, trên 70% thanh niên được cung cấp thông tin và tiếp cận các dịch vụ thân thiện về tư vấn, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; trên 50% thanh niên được tiếp cận dịch vụ tư vấn tâm lý.

Hằng năm, trên 90% cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; trên 90% thanh niên công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp được khám sức khỏe và chăm sóc y tế định kỳ.

Mục tiêu trên 90% địa phương có mô hình hỗ trợ thanh niên sống an toàn và ứng phó bạo lực trên không gian mạng

Về nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho thanh niên, phấn đấu hằng năm, trên 90% thanh niên ở đô thị; 80% thanh niên ở nông thôn; 70% thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật hoặc sáng tạo văn hóa, thể dục thể thao, hoạt động sinh hoạt cộng đồng.

Hằng năm, trên 70% thanh niên được tiếp cận kiến thức, kỹ năng về xây dựng gia đình hạnh phúc, phát triển bền vững tại cơ sở; mô hình can thiệp, phòng ngừa và ứng phó bạo lực gia đình và bạo lực trên cơ sở giới.

Đến năm 2030, trên 90% địa phương có mô hình hỗ trợ thanh niên sống an toàn và ứng phó với bạo lực trên không gian mạng.

Về phát huy vai trò của thanh niên trong xây dựng hệ thống chính trị, tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đến năm 2030, phấn đấu 20% thanh niên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được đưa vào quy hoạch lãnh đạo cấp vụ, sở, phòng và tương đương; 15% thanh niên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý; trong đó, tỉ lệ nữ đạt ít nhất 30%.

Hằng năm, phấn đấu 70% thanh niên tham gia hoạt động tình nguyện, hoạt động vì cộng đồng và được tập huấn, phổ biến kỹ năng ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và bảo vệ môi trường; phấn đấu 500.000 thanh niên tham gia các chương trình trao đổi quốc tế, giao lưu học thuật, hợp tác khởi nghiệp và tình nguyện quốc tế trực tiếp hoặc trên nền tảng số.

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chiến lược đưa ra 8 nhiệm vụ, giải pháp, bao gồm: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp về phát triển thanh niên toàn diện; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thanh niên; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tăng cường cung cấp dịch vụ, hoạt động hỗ trợ thanh niên; nguồn lực thực hiện chiến lược; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong thực hiện Chiến lược; hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Chiến lược; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức của thanh niên và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 33/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao.

Theo Quyết định, hệ thống trí tuệ nhân tạo phải đáp ứng các nguyên tắc hoạt động cơ bản theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo; việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không làm thay đổi, chuyển giao hoặc loại trừ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo đảm sự giám sát, kiểm soát và khả năng can thiệp của con người trong quá trình vận hành hệ thống; không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

Tiêu chí xác định hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao

Các hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao căn cứ trên các tiêu chí sau đây:

Hệ thống có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia theo quy định tại Điều 9 Luật Trí tuệ nhân tạo; khoản 1 Điều 8 của Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.

Hệ thống không được loại trừ theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.

Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao

Quyết định nêu rõ, danh mục các hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao ở các lĩnh vực: Giáo dục, dân tộc và tôn giáo, y tế, ngân hàng, tố tụng, giao thông vận tải. Trong đó:

1- Lĩnh vực giáo dục: Hệ thống trí tuệ nhân tạo cung cấp nội dung tự học theo chương trình giáo dục, có sử dụng các nguồn dữ liệu không kiểm soát; Hệ thống có sử dụng AI tự động kiểm tra, đánh giá kết quả, xếp hạng người học; Hệ thống có sử dụng AI để giám sát, phân tích hành vi người học.

2- Lĩnh vực dân tộc và tôn giáo: Hệ thống trí tuệ nhân tạo tự động chấm điểm, phân loại, xếp hạng hồ sơ để xác định đối tượng, địa bàn thụ hưởng chính sách dân tộc; Hệ thống trí tuệ nhân tạo tự động xác thực và quyết định tính hợp lệ của thông tin liên quan đến dân tộc và tôn giáo; Hệ thống trí tuệ nhân tạo tự động quyết định chấp thuận hoặc từ chối hồ sơ đăng ký, gia hạn hoặc hủy bỏ các quyết định quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân tộc và tôn giáo...

3- Lĩnh vực y tế: Hệ thống trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phẫu thuật/rô-bốt phẫu thuật; Hệ thống trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phẫu thuật/rô-bốt phẫu thuật (Hệ thống máy móc, thiết bị rô-bốt sử dụng trí tuệ nhân tạo điều khiển tự động).

4- Lĩnh vực ngân hàng: Hệ thống trí tuệ nhân tạo tự động thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng; Hệ thống trí tuệ nhân tạo tự động quyết định cấp tín dụng.

5- Lĩnh vực tố tụng: Hệ thống trí tuệ nhân tạo nhận dạng sinh trắc học diện rộng phục vụ giải quyết vụ án dân sự công ích.

6- Lĩnh vực giao thông vận tải gồm 31 hệ thống như: Hệ thống trí tuệ nhân tạo điều khiển tự hành cấp độ cao trên phương tiện giao thông; Hệ thống trí tuệ nhân tạo điều khiển hoặc tự động vận hành tín hiệu, điều độ giao thông đường bộ và đường sắt; Hệ thống trí tuệ nhân tạo điều hành, kiểm soát vận hành công trình giao thông và hạ tầng kỹ thuật trọng yếu...

Đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này đã được đưa vào hoạt động trước ngày 15/8/2026, nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm hoàn thành các nghĩa vụ tuân thủ theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo theo lộ trình sau:

Trước ngày 01/9/2027 đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục và tài chính.

Trước ngày 01/3/2027 đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc các lĩnh vực còn lại trong Danh mục.

Trong thời hạn chuyển tiếp, các hệ thống trí tuệ nhân tạo nêu trên được phép tiếp tục hoạt động, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hệ thống có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng và yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Trí tuệ nhân tạo.

Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1177/QĐ-TTg ngày 30/6/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch).

Mục tiêu của điều chỉnh Quy hoạch nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng đất để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030, trong đó phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, trong đó ưu tiên cho mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; duy trì hợp lý diện tích đất trồng lúa nhằm ưu tiên hàng đầu đáp ứng cho tiêu dùng trong nước để bảo đảm tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia, sản lượng gạo còn lại mới dành cho xuất khẩu; quản lý chặt chẽ đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, bảo vệ diện tích và phục hồi rừng tự nhiên để duy trì tỷ lệ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái và phòng chống thiên tai.

Tiếp tục thực hiện khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng; hạn chế tình trạng suy thoái đất; cải tạo, phục hồi diện tích đất bị thoái hóa gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Phân bổ không gian sử dụng đất dựa trên tiềm năng 06 vùng kinh tế - xã hội

Định hướng tầm nhìn đến năm 2050, tài nguyên đất được sử dụng hiệu quả, đáp ứng mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và phát triển đô thị hiện đại, xanh, văn minh; hoàn thành mục tiêu quốc gia về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trở thành một nước phát triển, thu nhập cao với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Không gian sử dụng đất được phân bố dựa trên tiềm năng các vùng sinh thái nông nghiệp, lợi thế hành lang kinh tế ven biển và 06 vùng kinh tế - xã hội, bảo đảm cân đối được yêu cầu an ninh lương thực, mục tiêu thiên niên kỷ về môi trường, văn hóa, quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên.

Việc bố trí không gian sử dụng đất theo vùng lãnh thổ như sau:

Vùng trung du và miền núi phía Bắc: tập trung bảo vệ, khôi phục rừng, nhất là rừng đầu nguồn nhằm bảo đảm về an ninh môi trường và bảo vệ hệ sinh thái; bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước các hồ, đập để điều tiết nước sản xuất và sinh hoạt. Bảo đảm phát huy các lợi thế về tài nguyên rừng, khoáng sản, các cửa khẩu, văn hóa dân tộc đặc sắc, đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ. Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế dọc theo các trục giao thông hướng tâm về Thủ đô Hà Nội, gắn kết với các hành lang kinh tế quốc tế; phát triển kinh tế vùng biên, phát huy vai trò kinh tế cửa khẩu.

Vùng đồng bằng sông Hồng: xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn. Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện; tập trung phát triển một số ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Thúc đẩy mạnh mẽ các trung tâm đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh đô thị hóa gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là các đầu mối liên kết giao thông quan trọng. Phát triển vùng lúa chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch; đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ở khu vực phía Nam của vùng.

Vùng Bắc Trung Bộ: tăng cường bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển chắn gió, chắn cát, rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học; nâng cao năng lực phòng chống giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Tăng cường liên kết vùng, tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống giao thông, đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển. Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Bắc - Nam gắn với các cảng biển và dịch vụ cảng biển; đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản gắn với dịch vụ hậu cần nghề cá.

Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp chế biến. Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân. Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Bắc - Nam và các trục hành lang kinh tế Đông - Tây gắn với các cảng biển nước sâu, cảng biển chuyên dụng, dịch vụ cảng biển; xây dựng kết cấu hạ tầng đường bộ cao tốc và nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng, các tuyến liên vùng để tăng cường liên kết vùng, nhất là vùng Đông Nam Bộ với Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

Phát triển hệ thống đô thị trong vùng và các trung tâm du lịch lớn, hình thành các tuyến du lịch chuyên đề đặc thù khu vực Tây Nguyên, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm quốc tế. Quy hoạch hệ thống hồ đập, tưới nhỏ giọt, bảo đảm an ninh nguồn nước. Nâng cao hiệu quả các diện tích cây công nghiệp, cây dược liệu; hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối, xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Rà soát, củng cố, bảo vệ rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên và xác định lâm phận ổn định; tăng cường phát triển hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với bảo vệ tài nguyên nước, rừng phòng hộ ven biển chắn gió, chắn cát. Nâng cao năng lực, phòng chống giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sạt lở. Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, các trung tâm dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá.

Vùng Đông Nam Bộ: nâng cao khả năng kết nối hạ tầng vùng, tạo động lực liên kết, lan tỏa thúc đẩy hợp tác và phát triển với vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Trung tâm Tài chính Quốc tế; phát triển chuỗi công nghiệp - đô thị Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Cảng Cái Mép - Thị Vải gắn với hành lang kinh tế xuyên Á; tập trung phát triển cảng biển Cái Mép - Thị Vải trở thành cảng biển container trung chuyển quốc tế; xây dựng thành phố sân bay cửa ngõ quốc tế Long Thành. Phát triển nông nghiệp hàng hóa, sinh thái đạt hiệu quả cao về xã hội và môi trường; bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long: tập trung sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp hiệu quả cao; công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, thuỷ sản; phát triển chuỗi giá trị về nông nghiệp đối với 03 sản phẩm chủ lực của vùng về thủy sản, trái cây và lúa gạo; vùng trọng điểm về trồng lúa tại khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; vùng trồng cây ăn quả ven sông Tiền, sông Hậu và khu vực cù lao; vùng nuôi trồng thủy sản tại khu vực ven biển từ Đồng Tháp đến An Giang. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, xây dựng mạng lưới đô thị vùng tạo động lực cho phát triển, tăng cường liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ. Xây dựng, phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, kết nối nội vùng và liên vùng, bổ trợ và không xung đột với hệ thống thuỷ lợi, đê điều.

Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Bảo đảm việc sử dụng đất linh hoạt, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, xây dựng các công trình chống sạt lở, xâm nhập mặn, bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Phương án điều chỉnh Quy hoạch

Các chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2030 theo nội dung điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia như sau:

6 giải pháp và nguồn lực thực hiện điều chỉnh Quy hoạch

Quyết định cũng đưa ra các giải pháp và nguồn lực thực hiện điều chỉnh Quy hoạch, bao gồm: cơ chế, chính sách; khoa học và công nghệ; bảo vệ, cải tạo đất, bảo vệ môi trường, phục hồi đất bị suy thoái và ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện quy hoạch; dự kiến nguồn lực thực hiện quy hoạch; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức.

Về khoa học và công nghệ, Quyết định yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi số, xây dựng, vận hành hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai tập trung thống nhất, quản lý nhà nước về đất đai từ trung ương đến địa phương trên môi trường số; chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa hệ thống quản lý thông tin đất đai với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng số có liên quan. Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học máy và công nghệ blockchain nhằm tự động hóa việc quản lý, cập nhật kịp thời, thường xuyên, kiểm tra, bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và truy xuất nguồn gốc thông tin quy hoạch sử dụng đất; thường xuyên, công bố công khai tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất.

Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất lúa thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, giống chất lượng cao, canh tác thông minh, chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống thủy lợi. Nâng cao năng suất, trữ lượng rừng và giá trị kinh tế của rừng thông qua ứng dụng công nghệ giống, quản trị rừng bền vững và chế biến sâu.

Ứng dụng khoa học công nghệ như: dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa không gian, hệ thống hỗ trợ ra quyết định, giám sát thông minh,... trong kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch; giám sát biến động sử dụng đất bằng viễn thám, ảnh vệ tinh, GIS và công cụ số; xây dựng cơ chế cảnh báo sớm đối với khu vực có nguy cơ sử dụng đất sai quy hoạch; dự báo, cảnh báo điều tra, đánh giá, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai và hội nhập quốc tế.

Về thực hiện quy hoạch, Quyết định yêu cầu tiếp tục rà soát các quy hoạch ngành quốc gia có sử dụng đất, quy hoạch tỉnh để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Quy hoạch sử dụng đất quốc gia đã được điều chỉnh.

Đồng thời, tăng cường quản lý, kiểm soát sử dụng đất đai trên toàn quốc, trong đó, tập trung công tác thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư, xử lý nghiêm các hoạt động gây ô nhiễm, làm hủy hoại đất, thoái hóa đất. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Có cơ chế linh hoạt để giải quyết đối với một số trường hợp công trình trọng yếu quốc gia phát sinh nhưng chưa có trong quy hoạch sử dụng đất được duyệt để tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư.

Ngoài ra, xây dựng và ban hành các chế tài xử lý các vi phạm trong việc quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, xử lý tình trạng tham nhũng, lãng phí đất đai, đất được giao, cho thuê nhưng chậm đưa vào sử dụng. Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, kiên quyết thu hồi các diện tích đất, mặt nước đã giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng chưa sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả.

Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường sự giám sát của các cơ quan dân cử, các tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người dân ở địa phương, đặc biệt là vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp, vai trò của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, quản lý của bộ ngành, các địa phương gắn với xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm trong công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tăng cường rà soát, kiểm tra, xử lý và công bố công khai đối với những trường hợp đã được thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất mà chưa đưa vào sử dụng; đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý II và 6 tháng đầu năm 2026; định hướng công tác điều hành giá 6 tháng còn lại của năm 2026

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý II và 6 tháng đầu năm 2026; định hướng công tác điều hành giá 6 tháng còn lại của năm 2026.

Thông báo kết luận nêu rõ, trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước cơ bản duy trì cân bằng cung - cầu. Giá năng lượng thế giới tăng, chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào cao hơn, cùng với áp lực tỷ giá và nhu cầu tiêu dùng, đầu tư phục hồi đã làm gia tăng sức ép lạm phát. CPI tăng trong các tháng 2-4 do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ và giá xăng dầu, gas và vật liệu xây dựng tăng theo giá thế giới, nhưng đã có dấu hiệu hạ nhiệt vào cuối quý II nhờ nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Nhìn chung, 6 tháng qua lạm phát tuy đang trong tầm kiểm soát nhưng áp lực đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm vẫn ở mức cao.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi đầu cơ, thao túng giá. Nhờ đó, thị trường hàng hóa trong nước vẫn cơ bản ổn định, nguồn cung được bảo đảm, không xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc sốt giá diện rộng, góp phần hỗ trợ kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2026.

Trong các tháng còn lại của năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất định, khó lường, qua đó ảnh hưởng đến diễn biến giá cả và áp lực lạm phát trong nước. Việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thúc đẩy các dự án hạ tầng trọng điểm và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh dự kiến sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với điện, vật liệu xây dựng, nhiên liệu và các loại nguyên vật liệu đầu vào khác. Đây là những yếu tố có thể tạo thêm sức ép đối với công tác kiểm soát lạm phát trong thời gian tới.

Theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ, xây dựng các kịch bản điều hành giá phù hợp

Để thực hiện đồng thời mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2026, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế, triển khai kịp thời, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, các Bộ, cơ quan, địa phương tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm các yếu tố gây áp lực lạm phát. Chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn, giá năng lượng, giá lương thực, tỷ giá quốc tế, chính sách thương mại và thuế quan của các đối tác lớn, các diễn biến địa chính trị và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu để kịp thời đánh giá tác động và xây dựng các kịch bản điều hành giá phù hợp.

Đồng thời, tiếp tục điều hành chính sách tài khóa theo hướng chặt chẽ, hiệu quả. Thực hiện tiết kiệm triệt để chi thường xuyên ngân sách nhà nước, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu kỳ, đồng thời điều tiết nhịp độ giải ngân hợp lý giữa các tháng, các quý, tránh tình trạng dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm gây áp lực lên thị trường vật liệu xây dựng, lao động và mặt bằng giá cả.

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa. Theo dõi sát diễn biến lạm phát cơ bản, cung tiền, tín dụng, tỷ giá và lãi suất; kiểm soát hợp lý tăng trưởng tín dụng; điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu, góp phần ổn định thị trường tài chính, tiền tệ và kiểm soát kỳ vọng lạm phát.

Điều hành giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu thị trường hóa giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh áp lực lạm phát đang ở mức cao, việc điều chỉnh giá điện, dịch vụ y tế, giáo dục và các hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu cần được rà soát, cơ cấu, cân nhắc phù hợp với bối cảnh kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ gây bất ổn thị trường

Bộ Tài chính chủ trì theo dõi sát diễn biến CPI và tổng hợp số liệu của các bộ, ngành về diễn biến giá thị trường các mặt hàng thiết yếu; thường xuyên cập nhật các kịch bản lạm phát theo từng quý và cả năm. Chủ động tham mưu Ban Chỉ đạo điều hành giá và Chính phủ các giải pháp điều hành giá phù hợp với diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế. Tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí còn phù hợp nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và hỗ trợ đời sống người dân.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo dõi sát diễn biến tỷ giá, lãi suất, tín dụng, cung tiền và dòng vốn quốc tế; chủ động các giải pháp hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu. Điều tiết tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; tập trung vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo và các động lực tăng trưởng mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thị trường ngoại hối; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ gây bất ổn thị trường.

Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến giá dầu thô, xăng dầu thành phẩm, khí hóa lỏng, than và các loại năng lượng trên thị trường thế giới; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá xăng dầu trong nước (trong đó có giá dầu DO) bám sát diễn biến giá thế giới kết hợp các biện pháp điều hành phù hợp theo thẩm quyền và quy định pháp luật để hỗ trợ phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì nguồn cung. Chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; không để xảy ra tình trạng đứt gãy nguồn cung hoặc găm hàng chờ tăng giá. Chủ trì điều hòa cung cầu hàng hóa thiết yếu trên phạm vi cả nước; bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng chiến lược trong mọi tình huống.

Các doanh nghiệp vận tải phải điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí nhiên liệu giảm

Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát diễn biến sản xuất, cung cầu và giá cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu như lúa gạo, thịt lợn, gia cầm, thủy sản, rau quả. Chủ động các phương án bảo đảm nguồn cung thực phẩm trong mọi tình huống; không để xảy ra thiếu hụt nguồn cung cục bộ gây biến động giá bất thường. Đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; mở rộng sản xuất đối với các mặt hàng có nguy cơ thiếu hụt nguồn cung. Theo dõi, quản lý giá thức ăn chăn nuôi, phân bón, vật tư nông nghiệp; chủ động tham mưu các giải pháp ổn định nguồn cung và giá cả. Phối hợp với Bộ Công Thương điều tiết hợp lý giữa nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đối với các mặt hàng nông sản chiến lược.

Bộ Xây dựng chủ trì theo dõi, đánh giá diễn biến giá vật liệu xây dựng, giá nhà ở, bất động sản và chi phí xây dựng; phân tích, đánh giá kỹ và chủ động đề xuất các giải pháp bình ổn thị trường vật liệu xây dựng. Chỉ đạo các địa phương nâng cao chất lượng công bố giá vật liệu xây dựng; xử lý kịp thời tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc thao túng giá vật liệu xây dựng.

Tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải và dịch vụ logistics; kiểm tra việc kê khai giá, niêm yết giá và thực hiện giá cước theo quy định. Yêu cầu các doanh nghiệp vận tải thực hiện điều chỉnh giảm giá cước tương ứng khi chi phí nhiên liệu giảm, bảo đảm phản ánh đúng biến động chi phí đầu vào. Kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng giá cước bất hợp lý hoặc chậm điều chỉnh giảm giá cước khi giá nhiên liệu giảm.

Kiểm soát giá thuốc, dịch vụ y tế, dịch vụ du lịch

Bộ Y tế theo dõi chặt chẽ diễn biến giá thuốc, vật tư y tế, hóa chất xét nghiệm, thiết bị y tế và dịch vụ khám chữa bệnh. Bảo đảm đầy đủ nguồn cung thuốc, vật tư y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân với giá hợp lý. Xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và khả năng chi trả của người dân. Tăng cường kiểm tra hoạt động kê khai giá, niêm yết giá thuốc, vật tư y tế; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo dõi diễn biến giá các dịch vụ lưu trú, du lịch, lữ hành tại các địa bàn trọng điểm du lịch. Phối hợp với các địa phương kiểm soát tình trạng tăng giá bất hợp lý trong các dịp lễ, Tết và mùa du lịch cao điểm. Tăng cường công tác truyền thông, cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch nhằm ổn định tâm lý thị trường và kiểm soát kỳ vọng lạm phát.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động triển khai các chương trình bình ổn thị trường phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Theo dõi sát diễn biến cung cầu và giá cả các mặt hàng thiết yếu trên địa bàn; kịp thời có biện pháp xử lý các hiện tượng tăng giá bất thường.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động thị trường để trục lợi.

Khẩn trương hoàn thiện, không để chậm tiến độ 23 dự án luật, nghị quyết

Thực hiện chỉ đạo xuyên suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về yêu cầu khẩn trương cải cách thể chế, kiên quyết không để thể chế là "điểm nghẽn" của phát triển, giúp khơi thông nguồn lực, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, cùng với sự chỉ đạo, đôn đốc nhiều lần của Thủ tướng Chính phủ, công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật đang được Chính phủ chỉ đạo triển khai với tinh thần quyết liệt, khẩn trương, rõ người, rõ việc, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm.

Tuy nhiên, tình trạng chậm ban hành các văn bản quy định chi tiết vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Tính đến đầu tháng 7/2026, vẫn còn nhiều nghị định hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội chưa được ban hành đúng hạn. Trước thực trạng này, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương khắc phục, bảo đảm tiến độ và chất lượng xây dựng văn bản; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ về tiến độ, chất lượng các dự án luật, nghị quyết được giao.

Chốt tiến độ 23 dự án luật, nghị quyết

Theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Văn bản số 93/UBTVQH16-PLTP ngày 26/6/2026 và Văn bản số 89/UBTVQH16-PLTP ngày 25/6/2026 về việc chuẩn bị Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI (Kỳ họp chuyên đề về xây dựng pháp luật), để bảo đảm chất lượng, tiến độ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội các dự án luật, nghị quyết, tại Văn bản số 6613/VPCP-PL ngày 01/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Chính phủ (Nghị quyết số 170/NQ-CP ngày 27/6/2026 về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 6/2026), Thủ tướng Chính phủ (Văn bản số 5943/VPCP-PL ngày 24/6/2026; Văn bản số 6079/VPCP-QHĐP ngày 26/6/2026); đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện 23 dự án luật, nghị quyết theo đúng thời hạn.

15 dự án luật, nghị quyết phải trình trước ngày 3/7/2026

Đối với 15 dự án luật, nghị quyết đã được Chính phủ thảo luận, cho ý kiến tại Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 6 năm 2026, gồm:

1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc;

2. Luật Dầu khí (sửa đổi);

3. Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi);

4. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi);

5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

6. Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt;

7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản;

8. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan;

9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng;

10. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến TTHC, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường;

11. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật: Chuyển giao công nghệ, Viễn thông, Giao dịch điện tử, Tần số vô tuyến điện;

12. Nghị quyết về cơ chế chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, vi phạm liên quan kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước;

13. Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các công trình, dự án phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027;

14. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

15. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (sửa đổi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện),

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Quốc phòng, Công an, Tư pháp, Nội vụ, Xây dựng, Công Thương, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Môi trường, Ngân hàng nhà nước Việt Nam khẩn trương hoàn thiện dự án luật, nghị quyết theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình Quốc hội trước ngày 3/7/2026.

Trước 7/7/2026 phải trình Chính phủ 7 dự án luật

Đối với các dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi), Luật hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công, Luật Đô thị đặc biệt (hoặc Luật Phát triển đô thị), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Tư pháp, Xây dựng khẩn trương xây dựng hồ sơ các dự án luật, trình Chính phủ trước ngày 7/7/2026.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ tiếp tục rà soát các luật về thuế, đấu thầu, đấu giá và các luật khác có liên quan; báo cáo Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7/2026 trong trường hợp cần sửa đổi, bổ sung để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các dự án luật, nghị quyết được trình Quốc hội tại Kỳ họp này.

Phó Thủ tướng lưu ý hồ sơ dự án luật, nghị quyết trình Chính phủ phải kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quán triệt nguyên tắc mỗi chủ thể chỉ ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung được giao.

Bộ Tư pháp tập trung nguồn lực, tăng tốc thẩm định

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp phải ưu tiên thời gian, tập trung nguồn lực tổ chức thẩm định ngay các dự án luật, nghị quyết theo đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; khẩn trương hoàn thiện Báo cáo thẩm định; rà soát, có ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và hồ sơ dự án luật, nghị quyết sau thẩm định, bảo đảm thời hạn trình Chính phủ các dự án luật, nghị quyết tại Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026.

Dứt điểm xử lý nợ đọng văn bản, công khai tiến độ, tự động cảnh báo để kịp thời xử lý

Đặc biệt, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương khắc phục dứt điểm tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết; các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm các giải pháp khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 707/TTg-PL ngày 20/6/2026, trong đó, tập trung hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành ngay các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, ngay trong tháng 6/2026.

Tính đến hết ngày 01/7/2026, còn 09 nghị định quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực trước ngày 01/5/2026 nhưng chưa được ban hành, bao gồm: (1) Bộ Giáo dục và Đào tạo: 02 nghị định quy định chi tiết 01 nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026; (2) Bộ Công Thương: 01 nghị định quy định chi tiết 01 nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/3/2026; (3) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 02 nghị định quy định chi tiết 02 luật có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 và từ ngày 01/5/2026; (4) Bộ Tài chính: 01 nghị định quy định chi tiết 01 nghị quyết có hiệu lực trước ngày 01/01/2026; (5) Bộ Nội vụ: 01 nghị định quy định chi tiết 01 luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026; (6) Bộ Y tế: 01 nghị định quy định chi tiết 01 nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026; (7) Bộ Tư pháp: 01 nghị định quy định chi tiết 01 nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.

Đối với các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đến hết ngày 01/7/2026, vẫn còn 19 nghị định chưa được ban hành, bao gồm: (1) Bộ Công an: 06 nghị định (đã trình); (2) Bộ Tài chính: 03 nghị định (đã trình); (3) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 05 nghị định (đã trình 04, chưa trình 01); (4) Bộ Quốc phòng: 02 nghị định (đã trình); (5) Bộ Ngoại giao: 01 nghị định (chưa trình); (6); Bộ Giáo dục và Đào tạo: 01 nghị định (chưa trình); (7) Bộ Nông nghiệp và Môi trường: 01 nghị định (đã trình).

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu thực hiện công khai tiến độ xây dựng, ban hành văn bản và có cơ chế theo dõi, người dân giám sát, tự động cảnh báo đối với các trường hợp văn bản quy định chi tiết quá hạn hoặc có nguy cơ không bảo đảm tiến độ để kịp thời chỉ đạo, xử lý.

Giải thể Ban chỉ đạo tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 1/7/2026 về việc giải thể Ban chỉ đạo tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) đã được thành lập theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Phó Thủ tướng giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị căn cứ yêu cầu công tác quyết định việc duy trì hoặc giải thể Ban chỉ đạo tái cơ cấu SBIC của bộ, ngành, cơ quan mình, bảo đảm tuân thủ nguyên tắc không phát sinh tổ chức mới./.