
ĐBSCL sử dụng 100% máy gặt đập liên trong thu hoạch lúa - Ảnh: VGP/LS
Bài toán “được mùa, rớt giá” tiếp tục lặp lại, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại sản xuất, giảm chi phí và xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn để nâng cao giá trị gia tăng và bảo đảm sinh kế bền vững cho nông dân.
Những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Việt Nam, không chỉ ở chi phí nhiên liệu mà còn lan rộng đến toàn bộ hệ thống đầu vào.
Theo ông Lê Hà Luân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, nhìn từ thực tiễn các vùng nguyên liệu lúa quy mô lớn, nơi mỗi năm canh tác hàng trăm nghìn ha, có thể nhận diện rõ một thực tế: Tác động của giá nhiên liệu không dừng lại ở từng khoản chi phí riêng lẻ, mà lan rộng, tạo thành áp lực mang tính hệ thống.
Ông cho rằng cách nhìn coi xăng dầu chỉ là yếu tố đầu vào trực tiếp đã không còn phù hợp. Trong thực tế, xăng dầu chính là "hạ tầng năng lượng" của nông nghiệp, hiện diện xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi sản xuất, từ làm đất, gieo sạ, bón phân, phun thuốc, thu hoạch cho đến vận chuyển.
"Bởi vậy, khi giá nhiên liệu biến động theo chiều hướng tăng, toàn bộ hệ thống chi phí lập tức bị kéo lên, không có khâu nào đứng ngoài vòng ảnh hưởng," ông Luân nhấn mạnh.
Số liệu thực tế tại Đồng Tháp cho thấy tác động cụ thể: Chi phí làm đất tăng từ 300.000 đến 600.000 đồng/ha; chi phí thu hoạch tăng thêm 200.000 đến 500.000 đồng/ha; chi phí bơm nước tăng khoảng 40.000 đồng/ha; chi phí vận chuyển cũng tăng theo từng bao lúa.
Ông Lê Hà Luân phân tích sâu hơn: Nếu nhìn riêng lẻ, những con số này có thể chưa tạo cảm giác quá lớn, nhưng khi cộng dồn toàn bộ quy trình sản xuất, xăng dầu không còn là chi phí phụ mà đã trở thành chi phí nền, chi phối trực tiếp hiệu quả sản xuất.
Điều đáng chú ý là ngay cả các công nghệ mới như máy bay không người lái (drone) cũng không hoàn toàn miễn nhiễm với xu hướng tăng giá nhiên liệu. Điều đó cho thấy vấn đề không nằm ở một công nghệ cụ thể, mà nằm ở mức độ phụ thuộc lớn của toàn bộ hệ thống sản xuất nông nghiệp vào năng lượng.
Trong khi chi phí đầu vào tăng, thị trường lúa gạo lại diễn biến theo chiều ngược lại. Vụ đông xuân 2025–2026, dù diện tích gieo sạ cả nước giảm hơn 58.000 ha so với cùng kỳ, sản lượng vẫn tăng nhẹ khoảng 12.000 tấn.
Điều này phản ánh năng lực sản xuất không suy giảm. Tuy nhiên, giá lúa lại giảm từ 15-18% so với mùa vụ năm 2025.
Theo ông Lê Hà Luân, hoạt động nông nghiệp hiện nay đang tiêu tốn quá nhiều năng lượng cho mỗi đơn vị sản phẩm. Khi cấu trúc sản xuất chưa thay đổi, mọi biến động của giá năng lượng sẽ lập tức chuyển hóa thành biến động chi phí.
Thực tế cho thấy nhiều khâu sản xuất còn rời rạc, thiếu liên kết, dẫn đến máy móc phải vận hành nhiều lần, tiêu hao nhiên liệu không cần thiết.
Bên cạnh đó, sản xuất còn manh mún, phân tán khiến chi phí vận chuyển, cơ giới hóa và dịch vụ đều bị đội lên. Nếu không thay đổi cấu trúc này, mọi biến động giá sẽ tiếp tục tạo ra vòng luẩn quẩn quen thuộc.

Thí điểm mô hình Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Hợp tác xã Gò Gòn (Tây Ninh) đạt 10 tấn/ha - Ảnh: VGP/LS
Một trong những giải pháp được các chuyên gia nhấn mạnh là tập trung xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn, có tổ chức.
Ông Phạm Quốc Trung, Tổng Giám đốc Công ty CP phân bón MTK cho rằng, chỉ khi hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung, cùng một lượng nhiên liệu có thể tạo ra hiệu quả cao hơn nhiều lần.
Ông phân tích rằng vấn đề không phải là nông dân chưa nỗ lực, mà là hệ thống tổ chức chưa tạo điều kiện để họ phát huy hiệu quả. Khi sản xuất còn phân tán, mọi chi phí đều tăng lên.
Trong bức tranh đó, hợp tác xã (HTX) đóng vai trò quan trọng. Một HTX đúng nghĩa phải là một tổ chức kinh tế thực thụ, có khả năng tổ chức dịch vụ, điều phối sản xuất, sử dụng chung máy móc để tiết kiệm nhiên liệu, đồng thời đồng bộ hóa quy trình nhằm hạn chế lãng phí.
Đồng quan điểm, ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài tỉnh An Giang đang đạt mục tiêu và kế hoạch đề ra với khoảng 300 HTX trồng lúa có hợp đồng liên kết với tổng diện tích trung bình 140.000 ha/năm với nhiều doanh nghiệp lớn như Lộc Trời, Trung An…
Vụ Đông Xuân 2025-2026, sản xuất nông nghiệp của tỉnh An Giang tiếp tục gắn kết kinh tế tập thể từ gần 700 HTX nông nghiệp hiện. Một mặt giúp triển khai sản xuất nông nghiệp được thuận lợi, tạo sự yên tâm cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác sản xuất lúa đáp ứng các tiêu chí của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL.
Vì vậy, Sở Nông nghiệp và Môi trường, địa phương luôn tăng cường tuyên truyền, vận động nông dân tham gia HTX, tổ hợp tác nông nghiệp cùng nhau trao đổi, tổ chức sản xuất lúa tập trung theo từng vùng sinh thái, ưu tiên sản xuất lúa chất lượng cao.
Bên cạnh đó, giá lúa được HTX, Tổ hợp tác thỏa thuận với doanh nghiệp thực hiện theo 2 hình thức: Chốt giá ngay từ khi ký hợp đồng đầu vụ và chốt giá trước 10 ngày thu hoạch, đã giúp nông dân yên tâm sản xuất, khắc phục tình trạng khi nguồn cung vượt cầu, thương lái mua lúa của bà con không đáp ứng kỳ vọng, điều này gây ảnh hưởng thu nhập cho bà con nông dân.
Trả lời Báo điện tử Chính phủ, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam Lê Thanh Tùng nhấn mạnh: Một trong những giải pháp hiện nay là khẩn trương đẩy mạnh việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL.
Đề án này hướng tới tổ chức lại sản xuất; giảm chi phí/kg lúa; điều chỉnh cơ cấu mùa vụ; phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao.
Ở góc độ kỹ thuật, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) cho biết: Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sản xuất lúa gạo, chiếm 30–40% chi phí và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng năng suất, phát thải khí nhà kính và thu nhập nông dân. Các giải pháp nông nghiệp chính xác như giảm giống 50–60 kg/ha, giảm phân bón trên 30%, giảm thuốc bảo vệ thực vật 20%, tăng năng suất 5% đã chứng minh hiệu quả rõ rệt.
Theo ông Hùng, nếu các giải pháp này được triển khai trên diện rộng gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, không chỉ giúp giảm đáng kể chi phí đầu vào và gia tăng lợi nhuận cho nông dân, mà còn tạo nền tảng để hình thành chuỗi liên kết ngành hàng lúa gạo hiệu quả hơn, với sự tham gia đồng bộ của doanh nghiệp cung ứng vật tư, dịch vụ cơ giới hóa, giống, thu mua và xuất khẩu.
Đây cũng là hướng đi quan trọng nhằm duy trì sản xuất lúa bền vững, góp phần bảo đảm an ninh lương thực trong bối cảnh biến động toàn cầu hiện nay.
Lê Sơn