In bài viết

Thủ tục đối với lao động nước ngoài làm việc ngắn hạn

(Chinhphu.vn) - Công ty của bà Nguyễn Thị Minh Hiền sắp tới có các nhân sự thuộc công ty thành viên ở nước ngoài trong cùng tập đoàn tới làm việc, thời gian dự kiến dưới 1 tháng. Công ty của bà Hiền dự tính sẽ có báo cáo gửi Sở Nội Vụ, UBND cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định 219/2025/NĐ-CP.

02/04/2026 09:03

Cụ thể, điểm a khoản 13 Điều 17 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định, người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thuộc một trong các trường hợp sau: Vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 1 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm thì không phải làm thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nhưng phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động (khoản 4 Điều 9 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP).

Bà Hiền hỏi, trong thời gian này, công ty bà có được trả lương cho các chuyên gia nước ngoài này không? Để được trả lương thì công ty có cần làm thêm thủ tục, văn bản gì để phù hợp với quy định pháp luật hiện tại, hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ không (mỗi người lao động nước ngoài đều sẽ mang theo Thư bổ nhiệm/phái cử công tác)? Nếu sau thời gian không phải cấp giấy phép lao động, công ty muốn giữ một số chuyên gia ở lại hỗ trợ trong 1 năm tới thì tiếp tục xin giấy phép lao động (thuộc diện hợp đồng lao động) cho họ có được không?

Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:

Theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 07/8/2025 của Chính phủ quy định trường hợp người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật "vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm" không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Khoản 4 Điều 9 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định: "Trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 8 Điều 154 của Bộ luật Lao động, quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 10 và điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định này không phải làm thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nhưng phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc trước ít nhất 3 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam".

Về trường hợp di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định một trong các hình thức làm việc của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là "Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp".

Hồ sơ đối với trường hợp cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc theo hình thức "di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp", theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 7 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP, thực hiện theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP, trong đó một trong các thành phần hồ sơ là: "văn bản của người sử dụng lao động tại nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc có thời hạn tại hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và xác nhận đã được người sử dụng lao động tại nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục ngay trước khi vào Việt Nam làm việc" (điểm c khoản 5 Điều 8).

Hồ sơ đối với trường hợp cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc theo hình thức "di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp" thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP, trong đó một trong các thành phần hồ sơ là: "văn bản của người sử dụng lao động tại nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc có thời hạn tại hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và xác nhận đã được người sử dụng lao động tại nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục ngay trước khi vào Việt Nam làm việc" (điểm a khoản 6 Điều 18).

Về trường hợp cấp giấy phép lao động sau thời hạn không phải thực hiện thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động (quá 90 ngày trong 1 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm), công ty có thể lựa chọn thực hiện thủ tục cấp giấy phép lao động cho nhóm đối tượng này theo hình thức hợp đồng lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động được quy định tại Điều 18 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP.

Nghị định số 219/2025/NĐ-CP cũng quy định các vấn đề khác về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam như điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Đối với các vấn đề nằm ngoài nội dung trên, đề nghị công ty của bà Nguyễn Thị Minh Hiền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn cụ thể.

Chinhphu.vn