Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Nhưng thực tế bà Trâm cho biết, việc triển khai đang gặp nhiều vướng mắc do thiếu sự đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, cụ thể:
Trong quá trình sinh sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam, người nước ngoài thường xuyên có những kiện hàng liên quan tới đồ cá nhân gửi tới Việt Nam và chờ lấy tại Hải quan. Trong lúc chờ đợi thẻ tạm trú thăm thân theo vợ/chồng Việt Nam, Hải quan yêu cầu cần có sự xác nhận từ phía Sở Nội vụ (cơ quan có thẩm quyền) thì mới cho lấy hàng.
Trên thực tế là doanh nghiệp của bà Trâm đã làm đúng theo quy định pháp luật, chỉ cần làm báo cáo/thông báo với trường hợp nêu trên nhưng do chưa có sự đồng bộ thống nhất giữa các cơ quan nên phía Hải quan vẫn bắt doanh nghiệp phải hỏi ngược lại Sở Nội vụ trả lời bằng văn bản rồi mới cho lấy kiện hàng.
Ngoài ra, người lao động nước ngoài, cụ thể là quốc tịch Philippines, không được cho xuất cảnh qua làm việc mà phải chứng minh đi ra nước ngoài (Việt Nam) lao động hợp pháp đối với trường hợp làm việc dưới 90 ngày/năm. Sở Ngoại vụ từ chối hợp pháp hóa lãnh sự các bản Thông báo có dấu tiếp nhận với lý do đây không phải là công văn trả lời chính thức, dẫn đến việc chuyên gia nước ngoài không thể chứng minh tư cách làm việc hợp pháp để hoàn tất thủ tục xuất cảnh sang Việt Nam. Tình trạng này khiến doanh nghiệp rơi vào thế khó khăn khi vừa phải tuân thủ cắt giảm thủ tục hành chính theo Nghị định mới, vừa không có chứng nhận pháp lý để làm việc với bên thứ ba.
Bà Trâm kiến nghị Bộ Nội vụ xác nhận các trường hợp chỉ làm thủ tục thông báo thì không phải làm thủ tục xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hoặc có phương án thống nhất cơ chế trả kết quả bằng văn bản xác nhận như các quy định trước đây.
Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:
Theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, "Người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thuộc một trong các trường hợp: vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm" thì không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Theo khoản 4 Điều 9 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP: "trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 8 Điều 154 của Bộ luật Lao động, quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 10 và điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định này không phải làm thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nhưng phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc trước ít nhất 3 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam".
Trường hợp người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam thì theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP chỉ phải làm thủ tục thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động do đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ làm căn cứ để cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh cấp visa hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam. Cụ thể như trường hợp người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam đã được UBND cấp xã cấp giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp người nước ngoài (cụ thể quốc tịch Philippines) sang Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 1 năm, tính từ 1 tháng 1 đến ngày cuối cùng của năm thì không phải thực hiện thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động mà chỉ cần thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc trước ít nhất 3 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam.
Đối với từng hồ sơ cụ thể, đề nghị đại diện doanh nghiệp của bà Ngô Tuyết Trâm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động tại địa phương để được hướng dẫn, giải đáp cụ thể các vướng mắc, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định hiện hành.
Chinhphu.vn