Phía đối tác chịu trách nhiệm chi trả lương, phụ cấp công tác và các khoản chi phí liên quan trực tiếp cho người lao động. Công ty của bà Quỳnh Anh sẽ hỗ trợ chi phí đi lại, lưu trú và thực hiện thủ tục pháp lý có liên quan để người lao động được làm việc và cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Vì thế, công ty của bà không ký hợp đồng lao động, và không trả lương cho những lao động nước ngoài nêu trên.
Tuy nhiên, khi xác định hình thức làm việc đối với người lao động nước ngoài, công ty bà Quỳnh Anh hiểu rằng, trường hợp này sẽ thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, xã hội. Công ty đã gửi công văn để hỏi ý kiến Sở Nội vụ nhưng không nhận được phản hồi.
Để bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, bà Đào Quỳnh Anh đề nghị được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể việc xác định hình thức làm việc đối với trường hợp mà công ty đang gặp phải. Nếu công ty lựa chọn hình thức thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận kinh tế như cách xác định trước đó thì đã thật sự phù hợp theo quy định của pháp luật hiện hành hay chưa?
Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:
Về hình thức làm việc, căn cứ thông tin do bà Đào Quỳnh Anh cung cấp thì trường hợp trên người lao động nước ngoài làm việc theo hình thức thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, xã hội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 7/8/2025 của Chính phủ quy định người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động được quy định tại Điều 18 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP, trong đó, giấy tờ chứng minh hình thức làm việc đối với trường hợp nêu trên là các văn bản của người sử dụng lao động cử người lao động nước ngoài kèm hợp đồng hoặc thỏa thuận được ký kết quy định tại điểm b khoản 6 Điều 18 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP.
Chinhphu.vn