In bài viết

Tín hiệu tích cực cho ngành chè năm 2026

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh thương mại nông sản toàn cầu còn nhiều biến động, tháng đầu năm 2006, xuất khẩu chè Việt Nam đã tăng 27% giá trị so với năm 2025. Đây được xem là tín hiệu tích cực cho ngành chè năm 2026.

24/02/2026 19:43
Tín hiệu tích cực cho ngành chè năm 2026- Ảnh 1.

Những công dụng của lá chè ngày càng được phổ biến nhiều nơi trên thế giới, tạo thị trường rộng lớn cho chè Việt - Ảnh minh họa

Nhiều thị trường bật tăng nhập chè Việt

Theo số liệu của Cục Hải quan, tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 12.390 tấn chè, đạt gần 21 triệu USD, tăng 28% về lượng và 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè trong tháng 1/2026 có nhiều điểm đáng chú ý. Xuất khẩu sang Nga, Ấn Độ, Ba Lan tăng mạnh; đặc biệt, thị trường Philippines ghi nhận mức tăng trưởng ba chữ số, tăng 544,7% về lượng và 312,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Tuy nhiên cũng có những thị trường có xu hướng giảm như Pakistan – thị trường từng chiếm tới 35,2% tỷ trọng trong tháng 1/2025 – trong tháng 1/2026 giảm còn 7,5%, với sản lượng 930 tấn, giảm trên 70% so với cùng kỳ.

Sự sụt giảm mạnh tại Pakistan và sự tăng trưởng đột biến ở Philippines phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển thị trường. Thay vì phụ thuộc vào một vài bạn hàng truyền thống, doanh nghiệp chè đang chủ động mở rộng sang các thị trường ngách, thị trường mới nổi và phân khúc có yêu cầu chất lượng cao hơn.

Đây cũng là giai đoạn nhiều nước siết chặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu về trách nhiệm môi trường. Khi các thị trường nâng chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chứng nhận bền vững, chứng nhận hữu cơ hay phát thải carbon, sản phẩm không đáp ứng tiêu chí gần như không còn "cửa" vào chuỗi phân phối chính thống. Điều này buộc ngành chè phải chuyển mạnh từ tư duy "bán nguyên liệu" sang "bán giá trị".

Năm 2026 được xem là năm bản lề để ngành chè chuyển từ tăng trưởng "theo chiều rộng" sang "theo chiều sâu". Nếu tận dụng tốt xu hướng dịch chuyển thị trường, đẩy mạnh chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu, chè Việt hoàn toàn có thể cải thiện giá xuất khẩu bình quân, thay vì duy trì mức quanh 1.600–1.700 USD/tấn như hiện nay.

Cuộc đua trên thị trường chè quốc tế không còn là cuộc đua về khối lượng. Đó là cuộc đua về chất lượng, về câu chuyện và về khả năng đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu. Khi mỗi búp chè không chỉ là nguyên liệu thô mà là kết tinh của văn hóa, sinh thái và trách nhiệm, giá trị xuất khẩu mới có thể thực sự bứt phá, đưa hình ảnh chè Việt bước ra thế giới với vị thế cao hơn.

Tập trung chế biến sâu để tiếp cận nhiều thị trường

Trong bức tranh chung đó, nhiều mô hình sản xuất chè theo hướng hữu cơ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và xây dựng thương hiệu vùng nguyên liệu đang tạo ra khác biệt.

Tại xã Yên Bình (tỉnh Thái Nguyên), Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc lựa chọn phát triển trà Shan Tuyết theo hướng hữu cơ, chuẩn hóa quy trình và gắn với câu chuyện văn hóa bản địa. Hai sản phẩm chủ lực là trà xanh Shan Tuyết và hồng trà Shan Tuyết được định vị ở phân khúc chú trọng chất lượng tự nhiên.

Nguyên liệu được thu hái từ những cây trà cổ thụ mọc tự nhiên trong rừng, sinh trưởng ở độ cao trên 800 mét so với mực nước biển. Ở độ cao này, khí hậu mát mẻ quanh năm, biên độ nhiệt ngày – đêm lớn, sương mù dày và thổ nhưỡng giàu dinh dưỡng giúp búp trà phát triển chậm, tích tụ hương vị đậm đà, tạo nên lớp "tuyết" trắng đặc trưng trên búp chè Shan.

Sản phẩm được phân hạng theo mức độ công phu trong chế biến. Hồng trà Shan Tuyết với quy trình lên men và sấy khắt khe hơn có giá cao hơn trà xanh truyền thống. Việc định giá dựa trên chất lượng và giá trị lao động thay vì cạnh tranh bằng giá rẻ giúp sản phẩm từng bước tiếp cận phân khúc cao cấp.

Nhiều nơi sản xuất đã chú ý hơn đến xây dựng thương hiệu như Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea tại Phù Yên, Sơn La. Thay vì xuất khẩu chè nguyên liệu thô, đơn vị tập trung xây dựng thương hiệu với thông điệp gắn với Shan Tuyết và nguồn gốc Việt Nam. Đại diện hợp tác xã cho rằng nhiều vùng chè vẫn đang bán thô với giá rất thấp, thậm chí không phản ánh đúng giá trị nguyên liệu và công sức người trồng. Hướng đi được lựa chọn là đầu tư vào công nghệ chế biến sâu, kiểm soát chất lượng đồng đều, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và xây dựng hình ảnh chè Việt gắn với chất lượng cao, an toàn và bản sắc riêng.

Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) trong thời gian qua tập trung tái cơ cấu vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP tại một số vùng trọng điểm, đầu tư nâng cấp nhà máy chế biến và phát triển các dòng sản phẩm chè túi lọc, chè hòa tan, chè thảo mộc phục vụ thị trường cao cấp và xuất khẩu.

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc chuyển sang sản phẩm chế biến sâu không chỉ giúp tăng giá trị trên mỗi tấn chè mà còn mở rộng khả năng tiếp cận hệ thống bán lẻ hiện đại tại châu Âu, Bắc Mỹ và Trung Đông – những thị trường đặt nặng yếu tố truy xuất nguồn gốc, bao bì thân thiện môi trường và câu chuyện phát triển bền vững.

Xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Người mua quan tâm nhiều hơn đến sản phẩm sạch, hữu cơ, giảm phát thải, công bằng với người sản xuất. Chè không còn đơn thuần là một loại đồ uống phổ thông, mà trở thành sản phẩm gắn với sức khỏe, lối sống và trải nghiệm văn hóa.

Trong bối cảnh đó, xây dựng thương hiệu chè Việt không chỉ dừng ở thiết kế bao bì hay quảng bá truyền thông. Đó là quá trình đồng bộ từ quy hoạch vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, đến đầu tư công nghệ chế biến sâu và xây dựng câu chuyện sản phẩm.

Đỗ Hương