(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Vừa tạo điều kiện, vừa bịt kín “kẽ hở”, bảo đảm TTATXH lĩnh vực du lịch

Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ thị về công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực du lịch trong tình hình mới.

Chị thị nêu rõ, thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hình ảnh, vị thế quốc gia. Kết quả đó là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, sát sao của Đảng, Chính phủ; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch, môi trường du lịch thân thiện, văn minh, an ninh, an toàn. Công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường an ninh, an toàn phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài và khách du lịch quốc tế.

Tuy nhiên, công tác này còn một số tồn tại, hạn chế. Tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau. Những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống (an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh...) tác động nhiều mặt đến kinh tế, chính trị, an ninh của quốc gia, trong đó có sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Nguy cơ khủng hoảng tài chính, bất ổn xã hội, cạnh tranh chiến lược và địa chính trị ngày càng quyết liệt, tiếp tục làm chia rẽ sâu sắc quan hệ quốc tế, tác động trực tiếp đến chính sách đối ngoại của các nước và làm thay đổi căn bản hoạt động du lịch quốc tế. Xu hướng dịch chuyển làn sóng đầu tư và ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử trong lĩnh vực du lịch cùng với hiệu ứng từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đan xen đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam.

Đại dịch COVID-19 sẽ vẫn còn diễn biến phức tạp, tiếp tục tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó du lịch là một trong số những ngành dịch vụ chịu thiệt hại nặng nề nhất. Tuy nhiên, dịch COVID-19 đem đến cơ hội để tái cơ cấu và tập trung giải quyết triệt để những hạn chế, bất cập trong ngành du lịch. Đồng thời, khi dịch bệnh được kiểm soát, xu hướng mở cửa, thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh để phát triển du lịch được đẩy mạnh, tất yếu dẫn đến nhiều hệ lụy về an ninh, xã hội và môi trường. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch, các loại tội phạm lợi dụng con đường du lịch để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội với tính chất, mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.

Xử lý dứt điểm các tụ điểm phức tạp

Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế du lịch với bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng người Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật nước ngoài trong tình hình hiện nay.

Chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thể lực thù địch, phản động lợi dụng du lịch để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại các khu, điểm du lịch; phòng, chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế, rửa tiền, ô nhiễm môi trường; xử lý dứt điểm các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội tại các địa bàn trọng điểm về du lịch, tạo môi trường lành mạnh, an toàn góp phần phát triển du lịch bền vững; triển khai các giải pháp về bảo đảm an ninh du lịch từ khâu lập quy hoạch phát triển du lịch bền vững đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch, xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình phát triển du lịch tại địa phương.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hoạt động của nước ngoài tác động vào nội bộ ta qua đường du lịch; phòng, chống tình trạng tham nhũng chính sách, lợi ích nhóm trong lĩnh vực du lịch. Đẩy mạnh Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng điển hình tiên tiến trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, trường học về du lịch. Thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức, cảnh giác của người dân về âm mưu, phương thức, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm trong lĩnh vực du lịch, tạo thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Vừa tạo điều kiện, vừa bịt kín “kẽ hở”

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch. Chủ động phát hiện, kịp thời giải quyết, khắc phục những tồn tại, hạn chế, thiếu sót và xử lý nghiêm sai phạm gây cản trở sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, trong đó có người Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

Đồng thời, rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan trong lĩnh vực du lịch theo hướng vừa tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi thu hút đầu tư và khách nước ngoài vào Việt Nam, vừa góp phần bịt kín “kẽ hở”, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm lợi dụng du lịch hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Bảo đảm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch, nhất là đội ngũ lãnh đạo, cán bộ tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật về du lịch, nhân viên điều hành, hướng dẫn viên du lịch... Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng, ý thức bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực du lịch ngay từ trong các cơ sở đào tạo.

Ngăn chặn sử dụng căn cước công dân giả

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch; đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm lợi dụng du lịch hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Quản lý xuất nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, hoạt động của người nước ngoài vào Việt Nam và người Việt Nam ra nước ngoài du lịch; quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự hoạt động trong lĩnh vực du lịch; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, ngành liên quan trong tham mưu hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển du lịch gắn với bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Xây dựng Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại các cơ quan, trường học, doanh nghiệp, khu, điểm du lịch. Nghiên cứu biện pháp cho phép các tổ chức tín dụng được tra cứu, xác thực căn cước công dân trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để ngăn chặn tội phạm sử dụng căn cước công dân giả. Xây dựng, triển khai hiệu quả các kế hoạch bảo đảm an ninh trong lĩnh vực du lịch trong tình hình mới.

Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phục hồi du lịch

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan tiếp tục rà soát, đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về du lịch. Tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý ngành; kiến nghị các biện pháp quản lý khách du lịch (nhất là khách tự do, khách được miễn thị thực) và các loại hình lưu trú, loại hình du lịch mới, kinh doanh tour du lịch “giá rẻ”; chuẩn bị các điều kiện cần thiết (cơ sở hạ tầng, sản phẩm du lịch, nguồn nhân lực...) để phục hồi du lịch Việt Nam trong bối cảnh bình thường mới.

Đồng thời, phối hợp có hiệu quả với Bộ Công an tăng cường công tác quản lý người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú và hoạt động tại Việt Nam; việc thẩm định, cấp phép các văn phòng đại diện du lịch của nước ngoài và tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường quản lý việc cấp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch như căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, trang trại du lịch... Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý những hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch; chủ động đánh giá, kiên quyết xử lý đối với các dự án đầu tư du lịch có nguy cơ cao phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn đến tài nguyên du lịch và đời sống xã hội.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm hoạt động vi phạm pháp luật về thương mại điện tử của các thương nhân, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực du lịch; các hình thức cung ứng dịch vụ xuyên biên giới trên môi trường trực tuyến, các đại lý du lịch trực tuyến…

Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2021

Tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2021, Chính phủ thống nhất đánh giá, trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp nhưng với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương và sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tình hình kinh tế, xã hội quý I năm 2021 tiếp tục xu hướng phục hồi, ổn định và đạt được những kết quả tích cực. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 4,48%. Sản xuất công nghiệp tăng 6,5%. Khu vực nông nghiệp tăng 3,16%, năng suất và giá lúa tăng. Thương mại, tiêu dùng phục hồi tốt; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 5,1%. Kinh tế vĩ mô ổn định; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, trong quý I có trên 29 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký tăng 27,5%.... Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường tiếp tục được quan tâm chỉ đạo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội nước ta còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đại dịch COVID-19 tuy đã cơ bản được kiểm soát ở trong nước nhưng trên thế giới còn diễn biến phức tạp, khó lường, tiếp tục tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu và các quốc gia, đối tác lớn của ta; qua đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, đặc biệt là các ngành thương mại, dịch vụ, vận tải, du lịch...

Thời gian tới, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thành công "mục tiêu kép", vừa thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng chống, kiểm soát đại dịch COVID-19; vừa tập trung phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Chú trọng thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Trong đó, các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo xây dựng, ban hành ngay các chương trình hành động, kế hoạch công tác để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các kết luận, nghị quyết của Đảng, Quốc hội. Các bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, trình, ban hành văn bản, đề án; khắc phục triệt để tình trạng xin lùi thời hạn trình, chậm, nợ ban hành văn bản, đề án, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết.

Sớm nghiên cứu, ban hành "hộ chiếu vắc-xin"

Các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục chỉ đạo quyết liệt, đề cao cảnh giác, tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong phòng, chống dịch COVID-19; thực hiện nghiêm, hiệu quả yêu cầu "5K", quản lý chặt chẽ việc cách ly y tế, nhất là đối với người nhập cảnh; kiên quyết không để dịch bệnh lây lan, bùng phát trở lại trong cộng đồng.

Bộ Y tế tập trung chỉ đạo đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, phát triển vắc-xin trong nước phòng dịch COVID-19; đồng thời nhập khẩu vắc-xin phục vụ tiêm phòng COVID-19 theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Chính phủ cũng như có kế hoạch để tiêm phòng vắc-xin trên diện rộng. Khẩn trương cùng các bộ, ngành liên quan sớm nghiên cứu, ban hành cơ chế "hộ chiếu vắc-xin" tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, du lịch; hoàn thiện quy định về thanh toán bảo hiểm y tế đối với các hoạt động khám chữa bệnh từ xa. Tiếp tục bảo đảm nhân lực, thuốc chữa bệnh, trang thiết bị, vật tư y tế; nâng cao năng lực, chất lượng y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Hạn chế nợ xấu mới phát sinh

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tập trung, nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, nhất là các dự án trọng điểm; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công nói chung và các dự án ODA nói riêng. Hoàn thành thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý II năm 2021. Chủ động triển khai kịp thời các giải pháp để thu hút và tận dụng hiệu quả làn sóng dịch chuyển đầu tư.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả; kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Giữ ổn định thị trường ngoại hối. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát và hạn chế nợ xấu mới phát sinh. Điều hành lãi suất, tín dụng phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường. Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.

Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách, chống thất thu, chuyển giá, trốn lậu thuế. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có giải pháp cụ thể, hiệu quả hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc lưu thông, xuất nhập khẩu, tiêu thụ hàng hóa. Tăng cường xúc tiến thương mại gắn với đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam. Hỗ trợ doanh nghiệp kết nối qua các nền tảng số, các nền tảng thương mại điện tử lớn. Tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các rào cản, vụ kiện phòng vệ thương mại của nước ngoài. Bảo đảm cung ứng đầy đủ vật tư, trang thiết bị cho phòng, chống dịch COVID-19.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm quyền lợi cho người sản xuất, nhất là các nông sản theo mùa vụ. Theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, có phương án tích nước, vận hành công trình phòng chống hạn hán phục vụ sản xuất và phòng chống dịch bệnh kịp thời, hiệu quả. Tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả khuyến nghị của EC để sớm gỡ “thẻ vàng”. Đẩy mạnh công tác trồng, bảo vệ và phát triển rừng.

Đẩy nhanh tiến độ công trình, dự án trọng điểm

Bộ Giao thông vận tải tập trung chỉ đạo triển khai đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm, nhất là dự án đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc Nam phía Đông; khẩn trương vận hành, khai thác các công trình mới đưa vào sử dụng, bảo đảm an toàn, hiệu quả.

Bộ Tài nguyên và Môi trường tập trung rà soát, khẩn trương báo cáo về việc sửa đổi Luật đất đai. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải; nhân rộng các mô hình xử lý rác thải hiệu quả, bền vững. Tiếp tục nâng cao năng lực, chất lượng dự báo, cảnh báo, nhất là dự báo xa; dự báo, cảnh báo kịp thời các hiện tượng thời tiết, thủy văn cực đoan, nguy hiểm phục vụ phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.

Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tổ chức hoạt động dạy và học tập trung tùy theo tình hình diễn biến dịch COVID-19. Đồng thời, tăng cường và nâng cao chất lượng học trực tuyến, bảo đảm công bằng cho các học sinh. Chuẩn bị kỹ các điều kiện triển khai Chương trình giáo dục phô thông và sách giáo khoa mới, nhất là lớp 2 và lớp 6.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; khôi phục sản xuất và đời sống cho nhân dân vùng bão lũ tại miền Trung và thời tiết cực đoan ở miền Bắc. Khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ các văn bản quy định chi tiết Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm nguồn nhân lực cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là tại các khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghiệp; tăng cường công tác bảo đảm an toàn lao động.

Khuyến khích cung cấp dịch vụ du lịch trong nước gắn với an toàn chống dịch 
 
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất giải pháp khuyến khích các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch trong nước gắn với bảo đảm an toàn chống dịch và nâng cao chất lượng phục vụ. Chuẩn bị tốt cho công tác tổ chức SEAGAMES 31.

Bộ Công an triển khai có hiệu quả các phương án bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tiếp tục đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, kiên quyết xử lý nghiêm hành vi vi phạm về nông độ cồn, sử dụng ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông; chủ động công tác phòng chống cháy nổ, nhất là tại các lễ hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu dân cư...

Các bộ, ngành và các cơ quan có liên quan đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; cắt giảm điều kiện kinh doanh một cách thực chất; tăng cường đối thoại, tham vấn, tiếp thu ý kiến của các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp về quy định không còn phù hợp, là rào cản, gây khó khăn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hoạt động kiểm tra chuyên ngành theo hướng tập trung đầu mối, phân định rõ thẩm quyền, chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.

Bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật

 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư.

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư về điều kiện kinh doanh; ngành, nghề và điều kiện tiếp cận trị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm đầu tư kinh doanh; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; thủ tục đầu tư; hoạt động đầu tư ra nước ngoài; xúc tiến đầu tư; quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài.

Trong đó, về bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, Nghị định nêu rõ, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có quy định thay đổi ưu đãi đầu tư đang áp dụng đối với nhà đầu tư trước thời điểm văn bản đó có hiệu lực, nhà đầu tư được bảo đảm thực hiện ưu đãi đầu tư theo quy định tại Điều 13 của Luật Đầu tư.

Ưu đãi đầu tư được bảo đảm theo quy định nêu trên gồm:

+ Ưu đãi được quy định tại Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác do người có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, áp dụng theo quy định của pháp luật (*).

+ Ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định của pháp luật không thuộc trường hợp (*) nêu trên.

Khi có yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Đầu tư, nhà đầu tư gửi văn bản đề nghị cho cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo một trong các giấy tờ sau: Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền cấp có quy định về ưu đãi đầu tư (nếu có).

Văn bản đề nghị gồm các nội dung: Tên và địa chỉ của nhà đầu tư; ưu đãi đầu tư theo quy định tại văn bản pháp luật trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực gồm: loại ưu đãi, điều kiện hưởng ưu đãi, mức ưu đãi (nếu có); nội dung văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung có quy định làm thay đổi ưu đãi đầu tư đã áp dụng đối với nhà đầu tư theo quy định nêu trên; đề xuất của nhà đầu tư về áp dụng biện pháp bảo đảm đầu tư.

Cơ quan đăng ký đầu tư xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm đầu tư theo đề xuất của nhà đầu tư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp vượt thẩm quyền, cơ quan đăng ký đầu tư trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định.

Về bảo đảm của Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư, Nghị định quy định: căn cứ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu thu hút đầu tư trong từng thời kỳ, mục tiêu, quy mô, tính chất của dự án đầu tư, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hình thức, nội dung bảo đảm của Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng khác theo đề nghị của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Bảo đảm của Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư theo quy định nêu trên được xem xét áp dụng theo  các hình thức: Hỗ trợ một phần cân đối ngoại tệ trên cơ sở chính sách quản lý ngoại hối, khả năng cân đối ngoại tệ trong từng thời kỳ; các hình thức bảo đảm khác của Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

CSDL quốc gia về Bảo hiểm gồm 9 nhóm thông tin

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 43/2021/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm. Đây là Cơ sở dữ liệu quốc gia lưu trữ thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thông tin về y tế, an sinh xã hội được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ về bảo hiểm của công dân.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm là cơ sở dữ liệu của Chính phủ được xây dựng thống nhất trên toàn quốc, dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm cung cấp chính xác, kịp thời thông tin về bảo hiểm phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm bao gồm các thông tin sau:

1- Dữ liệu cơ bản cá nhân bao gồm: Họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân; dân tộc; quốc tịch; nơi đăng ký khai sinh; quê quán, nơi thường trú; họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân của cha, mẹ, vợ, chồng hoặc người đại diện hợp pháp.

2- Thông tin liên hệ của công dân.

3- Nhóm thông tin về hộ gia đình: Mã hộ gia đình; địa chỉ; danh sách các thành viên trong hộ gia đình.

4- Nhóm thông tin về bảo hiểm xã hội: Mã số bảo hiểm xã hội; mã đơn vị quản lý người tham gia; cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý; loại đối tượng bảo hiểm xã hội; phương thức đóng; quá trình đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mã số thuế.

5- Nhóm thông tin về bảo hiểm y tế: Mã mức hưởng; loại đối tượng; nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu; thời điểm hết hạn; thời điểm đủ 05 năm liên tục; quá trình đóng, hưởng.

6- Nhóm thông tin về bảo hiểm thất nghiệp: Quá trình đóng, hưởng; thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp.

7- Nhóm thông tin về người sử dụng lao động gồm: Tên; mã số doanh nghiệp/số quyết định thành lập; mã số thuế; địa chỉ trụ sở chính; ngành, nghề kinh doanh (hoặc ngành, nghề kinh doanh chính)/lĩnh vực hoạt động; số điện thoại, thư điện tử; loại hình doanh nghiệp/loại hình tổ chức; phương thức đóng.

8- Nhóm thông tin cơ bản về y tế.

9- Nhóm thông tin về an sinh xã hội.

Các nhóm thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp nêu trên là dữ liệu gốc của Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm.

Tổ chức, cá nhân được phép khai thác, sử dụng thông tin

Nghị định quy định rõ đối tượng khai thác, sử dụng dữ liệu. Cụ thể, Bảo hiểm xã hội Việt Nam khai thác, sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm phục vụ các hoạt động nghiệp vụ chuyên ngành trong lĩnh vực bảo hiểm. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, việc làm và an sinh xã hội.

Bộ Y tế khai thác sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế bao gồm cả các thông tin, dữ liệu về bảo hiểm y tế. Văn phòng Chính phủ khai thác dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Thông tin và Truyền thông khai thác, sử dụng dữ liệu để kết hợp với các nguồn dữ liệu khác tạo ra các thông tin gia tăng phục vụ mục đích tham mưu, hỗ trợ ban hành chính sách trong Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng khai thác sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng.

Các cơ quan quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước theo thẩm quyền.

Cơ quan, tổ chức và cá nhân được phép khai thác và sử dụng thông tin của mình; thông tin cá nhân của người khác nếu được người đó đồng ý theo quy định của pháp luật.

Thời hạn vay vốn ưu đãi mua nhà ở xã hội tối đa 25 năm

Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Trong đó, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về mức vốn, lãi suất, thời hạn vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở.

Cụ thể, về mức vốn vay, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP quy định trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội thì mức vốn cho vay tối đa bằng 80% giá trị hợp đồng mua, thuê mua nhà.

Trường hợp xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở thì mức vốn cho vay tối đa bằng 70% giá trị dự toán hoặc phương án vay, tối đa không quá 500 triệu đồng và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay.

Với lãi suất vay, lãi suất cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội cho từng thời kỳ.

Lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng được chỉ định do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công bố trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc không vượt quá 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong cùng thời kỳ.

Thời hạn vay để mua, thuê mua nhà ở xã hội do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. (Trước đó, Nghị định 100/2015/NĐ-CP quy định thời hạn vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên).

Về nguyên tắc xác định quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP quy định tại các đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III, trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị; quy hoạch xây dựng nông thôn; quy hoạch phát triển khu công nghiệp; quy hoạch xây dựng các cơ sở giáo dục…, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm căn cứ vào nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn và chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt để bố trí đủ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội; chỉ đạo cơ quan chức năng xác định cụ thể vị trí, địa điểm, quy mô diện tích đất của từng dự án xây dựng nhà ở xã hội đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nhà ở xã hội.

Tại các đô thị loại IV và loại V, UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương về nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị được phê duyệt hoặc chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở để yêu cầu chủ đầu tư dành một phần diện tích đất ở trong dự án đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội.

Việc sử dụng đất để phát triển nhà ở xã hội phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch đô thị, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tuân thủ theo đúng Giấy phép xây dựng trong trường hợp phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Khu đô thị từ 2 ha phải dành 20% diện tích đất để xây dựng nhà ở xã hội

Bên cạnh đó, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị.

Theo đó, trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô sử dụng đất từ 2 ha trở lên tại các đô thị loại đặc biệt và loại I hoặc từ 5 ha trở lên tại các đô thị loại II và loại III phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà xã hội.

Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô sử dụng đất nhỏ hơn 2 ha tại các đô thị loại đặc biệt và loại I hoặc nhỏ hơn 5 ha tại các đô thị loại II và loại III thì chủ đầu tư không phải dành quỹ đất 20% và có nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích đất của dự án theo quy định của pháp luật về đất đai.

Sửa quy định điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 50/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, trong đó sửa đổi quy định điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng.

Theo điểm b khoản 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng, trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng hoặc khối lượng phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá cho các khối lượng này để thanh toán.

Tại Nghị định 50/2021/NĐ-CP, quy định tại điểm b khoản 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung như sau: Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đồng thời làm thay đổi trên 0,25% giá trị hợp đồng và trên 1% đơn giá của công việc đó hoặc khối lượng phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá cho các khối lượng này để thanh toán.

Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đơn giá mới chỉ được áp dụng cho phần khối lượng thực tế thực hiện vượt quá 120% khối lượng ghi trong hợp đồng.

Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đơn giá mới được áp dụng cho toàn bộ khối lượng công việc thực tế hoàn thành được nghiệm thu.

Khoáng sản tại khu vực dự trữ quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 51/2021/NĐ-CP về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Theo đó, khoáng sản tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định này.

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại các khu vực đã khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm:

1- Bảo vệ khoáng sản trong phạm vi khu vực triển khai dự án theo quy định.

2- Nghiêm cấm lợi dụng việc thực hiện dự án đầu tư, xây dựng công trình để khai thác khoáng sản nằm trong khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Trường hợp vi phạm quy định tại (2) nêu trên, ngoài việc bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và khối lượng khoáng sản bị khai thác trái phép, chủ đầu tư dự án còn bị đình chỉ có thời hạn việc thực hiện dự án đầu tư hoặc bị thu hồi quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.

Không thực hiện dự án đầu tư sau đây tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia: Các dự án đầu tư có mục đích sử dụng đất lâu dài, trừ các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng; các công trình xây dựng thuộc cấp công trình đặc biệt, cấp I theo quy định pháp luật về xây dựng, trừ dự án quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tổ chức, cá nhân khi lập hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải có đánh giá tác động, mức độ ảnh hưởng đến tài nguyên, trữ lượng, chất lượng khoáng sản đã được khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia thuộc phạm vi dự án; phải có giải pháp bảo vệ loại khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ nêu trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chấp thuận chủ trương đầu tư dự án.

Về bồi thường thiệt hại khi thu hồi dự án đầu tư, Nghị định nêu rõ, trường hợp Thủ tướng Chính phủ giảm diện tích khu vực dự trữ, giảm thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc dự án quan trọng quốc gia mà ảnh hưởng trực tiếp đến dự án đầu tư thì chủ đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật khác có liên quan.

Nhà nước không chịu trách nhiệm đền bù cho chủ đầu tư dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi đã hết thời gian dự trữ khoáng sản theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số các cấp giai đoạn 2021 - 2030.

Mục tiêu chung của Đề án là  tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng về công tác dân số và phát triển, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân số các cấp và cộng tác viên dân số có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân số đã được đề ra trong Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030…

Mục tiêu cụ thể của Đề án là đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân số các cấp và cộng tác viên dân số đáp ứng yêu cầu công tác dân số trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng dân số cơ bản cho đội ngũ công chức làm công tác dân số (tối thiểu 80% công chức được bồi dưỡng kiến thức dân số cơ bản); bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ viên chức làm công tác dân số đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và nhiệm vụ được giao (100% viên chức làm công tác dân số được bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp dân số).

Tối thiểu 90% nhân viên y tế cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản ở các cơ sở y tế huyện và xã có kiến thức, kỹ năng cung cấp các dịch vụ dân số và phát triển; tối thiểu 80% lãnh đạo y tế đơn vị y tế huyện và xã được bồi dưỡng về quản lý dân số và phát triển để thực hiện quản lý công tác dân số được giao; hàng năm bồi dưỡng tập huấn kiến thức cho cộng tác viên dân số theo nhu cầu và khả năng của các địa phương.

Về nội dung đào tạo, tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, kịp thời cập nhật kiến thức và kỹ năng quản lý về dân số và phát triển, các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân số các cấp và cộng tác viên dân số với các nội dung: 

- Các kiến thức về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số; các nội dung về dân số và phát triển.

- Cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp quản lý chuyên ngành; kiến thức, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao.

- Nội dung về tư vấn và cung ứng các dịch vụ dân số.

- Nội dung thông tin, thống kê chuyên ngành, gồm các kỹ năng xử lý văn bản điện tử trên hệ thống phần mềm văn phòng; nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin; các phần mềm chuyên ngành dân số; phương pháp thẩm định phúc tra số liệu.

- Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học: kỹ năng thực hành phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng, vấn đề chọn mẫu, chuẩn hóa bộ công cụ và thang đo, thiết kế và phân tích số liệu nghiên cứu, số liệu cơ bản, phân tích số liệu định tính sử dụng NVIVO, phân tích hồi quy và năng lực, kỹ năng khác về dân số.

Bổ sung kinh phí mua vắc xin phòng COVID-19

Thủ tướng Chính phủ quyết định trích 1.237 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2021 để bổ sung dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2021 của Bộ Y tế thực hiện mua và tiêm vắc xin phòng bệnh COVID-19.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính, Bộ Y tế chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của nội dung và số liệu báo cáo. Bộ Y tế có trách nhiệm thực hiện cơ chế mua vắc xin phòng COVID-19 theo đúng quy định, bảo đảm kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch.

Bộ Y tế khẩn trương xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch tổng thể phòng, chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021 (bao gồm kế hoạch chi tiết về mua, sử dụng 150 triệu liều vắc xin phòng COVID-19; nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện Kế hoạch; trách nhiệm đảm bảo nguồn kinh phí mua vắc xin, tổ chức tiêm vắc xin của từng cấp chính quyền, cấp ngân sách nhà nước, tổ chức cá nhân sử dụng vắc xin tự nguyện chi trả,...).

Hội Nông dân tiếp tục thực hiện một số chương trình, đề án phát triển KT-XH nông thôn

Thủ tướng Chính phủ đồng ý tiếp tục thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn cho đến khi thực hiện tổng kết Kết luận số 61-KL/TW ngày 3/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp.

Theo quyết định, Chủ tịch Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương là Phó Thủ tướng Chính phủ.

Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương có nhiệm vụ tham mưu, tư vấn giúp Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chỉ đạo Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp, phối hợp với cơ quan, tổ chức, địa phương liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức và địa phương cung cấp thông tin về giáo dục quốc phòng và an ninh; kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng; kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh…

Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu có Chủ tịch là Tư lệnh quân khu.

Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu có nhiệm vụ tham mưu, tư vấn giúp Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chỉ đạo thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh trên địa bàn; giúp Tư lệnh quân khu xây dưng kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt; chỉ đạo Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trên địa bàn thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền…

Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, tư vấn cho cấp ủy, chính quyền cùng cấp chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh; xây dưng kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh trình UBND và Chủ tịch UBND cùng cấp phê duyệt và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền; chỉ đạo Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh cấp dưới, phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

Điều chỉnh cục bộ khu bến cảng Cà Ná (Ninh Thuận)

 

 Thủ tướng Chính phủ đồng ý đề nghị của Bộ Giao thông vận tải về điều chỉnh cục bộ khu bến cảng Cà Ná thuộc cảng biển Ninh Thuận, tỉnh Ninh Thuận.

Cụ thể, bổ sung một bến nhập khí LNG trọng tải đến 97.000 tấn để phục vụ trực tiếp Trung tâm điện lực LNG giai đoạn 1 (1.500 MW) đã được Thủ tướng Chính phủ bổ sung tại văn bản số 479/TTg-CN ngày 23/4/2020. Đối với quy hoạch cảng nhập và trung chuyển LNG quốc gia sẽ được xem xét trong Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn UBND tỉnh Ninh Thuận thực hiện các bước tiếp theo tuân thủ quy định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam, Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải; chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương thống nhất với UBND tỉnh Ninh Thuận về quy hoạch tổng thể mặt bằng khu bến cảng Cà Ná đáp ứng nhu cầu từng giai đoạn và định hướng phát triển lâu dài.

UBND tỉnh Ninh Thuận tổ chức thực hiện việc cập nhật, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch khác có liên quan theo quy định pháp luật; có trách nhiệm tiếp tục tiếp thu, làm rõ các ý kiến của các Bộ, ngành liên quan đảm bảo hiệu quả khi đầu tư, đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường.

Điều chỉnh cục bộ quy hoạch đường Vành đai 5 (Km68 - Km75)

Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương điều chỉnh cục bộ quy hoạch tuyến đường Vành đai 5 đoạn từ Km68 - Km75 trong Quy hoạch chi tiết đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội (Quyết định số 561/QĐ-TTg ngày 18/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ).

Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổng hợp việc điều chỉnh cục bộ tuyến đường Vành đai 5 đoạn từ Km68 - Km75 vào Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo đúng quy định pháp luật về quy hoạch và quy định pháp luật có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng chỉ đạo về thu, nộp phí bảo đảm hàng hải luồng Soài Rạp

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về đề nghị của Bộ Giao thông vận tải kết thúc thí điểm thu, sử dụng phí bảo đảm hàng hải để nạo vét, duy tu luồng hàng hải Soài Rạp.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc thu, nộp phí bảo đảm hàng hải luồng Soài Rạp và việc tổ chức thực hiện nạo vét, duy tu luồng Soài Rạp từ năm 2021 cần thực hiện đúng quy định của Nghị định số 159/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/11/2018 về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa, pháp luật ngân sách nhà nước, pháp luật phí và lệ phí và các quy định pháp luật hiện hành khác có liên quan.

Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện cụ thể theo quy định.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KTXH vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai Chương trình MTQG Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo, hoàn thiện cơ bản hệ thống chính sách dân tộc, bao gồm: ban hành mới 01 Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ, 03 Quyết định quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng 01 Chương trình mục tiêu quốc gia riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS và MN) với tổng số vốn bố trí giai đoạn 2021 – 2025 hơn 134 nghìn tỷ đồng và 41 chương trình, chính sách mang tính chiến lược, có ý nghĩa quan trọng, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS và MN.

Giai đoạn 2016 - 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các địa phương vùng đồng bào DTTS và MN khá cao, đạt bình quân 7% và tăng dần hàng năm, cao hơn bình quân chung cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Bước đầu hình thành vùng sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa. Kết cấu hạ tầng vùng đồng bào DTTS và MN từng bước hoàn thiện, gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội từng vùng, từng bước nâng cao và đáp ứng nhu cầu của người dân. Hộ nghèo ở các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm nhanh. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; bản sắc văn hóa của cộng đồng các DTTS được quan tâm bảo tồn, phát huy. Cơ bản giải quyết được những vấn đề nổi cộm về di cư tự do, hoạt động tôn giáo trái pháp luật, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định trật tự, an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS và MN…

Tuy nhiên, một số chính sách về dân tộc còn chậm triển khai do thiếu vốn; một số vấn đề bức xúc đặt ra trong thực tiễn như: Kết cấu hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn; di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt,... chậm được giải quyết; việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS còn hạn chế; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa tuy được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức trung bình thấp; tình hình an ninh, trật tự, tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS và MN còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu yêu cầu trong giai đoạn tới, các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng Kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và MN trong năm 2021 theo đúng Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội khóa XIV và Quyết định số 1409/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội khóa XIV ngay sau khi Quốc hội phê duyệt Kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư Chương trình.

Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan liên quan khẩn trương thực hiện Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2020 và Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào DTTS và MN và danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021 - 2025, làm cơ sở triển khai thực hiện Chương trình.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của từng chương trình theo đúng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 1385/VPCP-QHĐP ngày 04 tháng 3 năm 2021; chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các cơ quan liên quan chuẩn bị, phục vụ, tham mưu, giúp Hội đồng thẩm định nhà nước sớm hoàn thành thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và MN giai đoạn 2021 – 2030 theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1583/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành, cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khẩn trương hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư 02 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 – 2025, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội xem xét, phê duyệt theo đúng quy định, bảo đảm không trùng lắp với Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và MN giai đoạn 2021 – 2030./.