In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026.

10/10/2026 22:00

Quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026- Ảnh 1.

Thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Nghị định này quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, bao gồm: hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản; yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam

Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.

Trong trường hợp cần thiết, bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng quy định riêng về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo phù hợp quy định tại Nghị định này.

Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam

Nghị định nêu rõ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam.

Động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam.

Sản phẩm từ động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam.

Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam.

Khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam.

Sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế.

Sản phẩm đánh bắt và hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký ở Việt Nam và được phép treo cờ của Việt Nam.

Vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam hiện không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế...

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Chuyển đổi mã số hàng hóa.

2. Có hàm lượng VVC (hàm lượng giá trị Việt Nam) tối thiểu 30% được xác định theo một trong hai công thức sau:

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026- Ảnh 2.

3. Trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa là một phần cấu thành nên hàng hóa và được tính vào hàm lượng VVC.

4. Đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo ra giá trị sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC, bao gồm: chi phí nghiên cứu, phát triển; chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; chi phí thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm. Công đoạn gia công, chế biến đơn giản quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này và yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ quy định tại Điều 8 Nghị định này không áp dụng đối với khoản này.

5. Thương nhân lựa chọn công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp, áp dụng trong năm tài chính.

Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam

Nghị định nêu rõ, thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Nghị định này. Đối với hàng hóa được thương nhân, tổ chức, cá nhân xác định xuất xứ Việt Nam, thương nhân, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuân thủ quy định pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quy định pháp luật khác liên quan.

Thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin đã công bố; thực hiện lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa (bao gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu khác có liên quan) để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Việc lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử và văn bản thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán và pháp luật về lưu trữ.

Thương nhân, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chứng minh hàng hóa có xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Nghị định này khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu; tuân thủ pháp luật Việt Nam về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và quy định của nước nhập khẩu đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước sau đó được xuất khẩu.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam theo đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng.

Quy định về kiểm soát thủ tục hành chính

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 385/2026/NĐ-CP ngày 09/10/2026 quy định về kiểm soát thủ tục hành chính.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026- Ảnh 3.

Kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu

Nghị định này quy định về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, người có thẩm quyền, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.

Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách

Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính.

Kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bảo đảm các thủ tục hành chính được ban hành đúng quy định, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng thực hiện và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.

Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.

Kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, bảo đảm khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính.

Cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính

Nghị định quy định, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng của bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương.

Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (cấp xã) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã. Trường hợp địa phương tổ chức theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp thì Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã.

Quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật

Nghị định nêu rõ, thủ tục hành chính quy định trong văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; minh bạch, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện; tiết kiệm thời gian và chi phí của cơ quan, tổ chức và cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý; bảo đảm quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính; bảo đảm nguyên tắc số hóa, sử dụng, kết nối liên thông dữ liệu, định danh điện tử, chỉ cung cấp thông tin một lần trong giải quyết thủ tục hành chính.

Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động thủ tục hành chính nếu giải pháp thực hiện chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính.

Quy định thủ tục hành chính làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường, thì các quy định về yêu cầu, điều kiện của thủ tục hành chính phải được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.

Yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định này phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và phải đáp ứng các quy định dưới đây.

Việc quy định một thủ tục hành chính phải bảo đảm đầy đủ các bộ phận cấu thành cơ bản sau đây: Tên thủ tục hành chính; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; thành phần, số lượng hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.

Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.

Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính trong một văn bản thì phải giao cơ quan, người có thẩm quyền quy định để bảo đảm đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính và bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định thủ tục hành chính hoặc thời điểm có hiệu lực của quy định thủ tục hành chính.

Nghị định cũng nêu rõ, quy định thủ tục hành chính phải bảo đảm quyền lựa chọn cách thức thực hiện của cá nhân, tổ chức, trong đó, ưu tiên thực hiện được trên môi trường điện tử, thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2026.

Chuyển giao nguyên trạng Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh quản lý

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1961/QĐ-TTg ngày 09/10/2026 chuyển giao nguyên trạng Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh quản lý.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc rà soát, hoàn thiện hồ sơ, số liệu; tổ chức thực hiện bàn giao nguyên trạng Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc về Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh quản lý theo quy định của pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh, các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Tài chính thực hiện điều chuyển biên chế viên chức, người lao động, bàn giao người học, tài chính, tài sản, trụ sở Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc để quản lý theo quy định của pháp luật; bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí tài chính, tài sản trong quá trình chuyển giao.

Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh tiếp nhận nguyên trạng Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc để quản lý theo quy định của pháp luật; phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Tài chính thực hiện việc tiếp nhận biên chế viên chức, tài chính, tài sản, trụ sở của Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc để quản lý theo quy định của pháp luật. Chỉ đạo Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc sau khi tiếp nhận tiến hành sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự, quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc và trực thuộc theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh quyết định việc sắp xếp, tổ chức lại và bảo đảm tổ chức, hoạt động của Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc sau khi tiếp nhận theo quy định pháp luật; bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, không làm gián đoạn hoạt động đào tạo; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người học, viên chức, người lao động; quản lý, sử dụng tài chính, tài sản, đất đai theo quy định của pháp luật.

Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1960/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/10/2026- Ảnh 4.

Đến năm 2030, hình thành cơ bản hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hóa, bảo đảm sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân

Mục tiêu của Kế hoạch đến năm 2030, hình thành cơ bản hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hóa, bảo đảm sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân. Đến năm 2045, hệ thống phải tiếp cận chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao, dịch vụ chất lượng, tài chính bền vững, quản trị minh bạch và khả năng ứng phó nhanh trước các rủi ro.

Sàn an sinh tối thiểu phải bảo đảm chăm sóc y tế thiết yếu, thu nhập cơ bản và điều kiện phát triển cho trẻ em, hỗ trợ người trong độ tuổi lao động khi mất việc, mất sinh kế, thai sản, tai nạn, khuyết tật; bảo đảm thu nhập và chăm sóc thiết yếu cho người cao tuổi. Trên nền tảng đó, tiếp tục phát triển các tầng bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện, bổ sung và huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, gia đình.

An sinh xã hội phải được đặt trong mối quan hệ gia đình và liên thế hệ; việc làm, thu nhập của cha mẹ gắn liền với điều kiện sống, chăm sóc và học tập của các con. Chính sách phải được đánh giá bằng lợi ích thực chất đối với mỗi người dân, sự bền vững của gia đình và tương lai của thế hệ sau. Tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau" phải được cụ thể hóa bằng kết quả có thể kiểm tra, giám sát; không để người dân rơi xuống dưới mức sống tối thiểu mà không được phát hiện, trẻ em bỏ học vì nghèo, người khuyết tật đặc biệt nặng không có người chăm sóc, gia đình gặp thiên tai phải chờ đợi quá lâu mới được hỗ trợ.

An sinh xã hội cần phải có tầm nhìn dài hạn, xác định đúng ưu tiên, tổ chức thực hiện hiệu quả. Nguồn lực chi cho an sinh xã hội không chỉ có ngân sách nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng và ý chí, nghị lực của mỗi người dân. Đột phá quan trọng nhất không chỉ là tăng mức trợ cấp mà là nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc phát hiện, lắng nghe và hỗ trợ người dân kịp thời; bảo đảm các chính sách được thực hiện đồng bộ, phòng ngừa tốt rủi ro và tạo điều kiện để người dân tự vươn lên.

10 nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được các mục tiêu trên, Kế hoạch đặt ra 10 nhiệm vụ, giải pháp:

1. Nâng cao nhận thức về vai trò của chính sách an sinh xã hội trong chính sách xã hội.

2. Thiết lập hồ sơ an sinh và đầu mối phục vụ người dân.

3. Củng cố sàn an sinh, cải cách chính sách trợ giúp xã hội.

4. Mở rộng bảo hiểm xã hội, xây dựng thị trường lao động bao trùm.

5. Xây dựng hệ thống an sinh gia đình và liên thế hệ.

6. Phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó già hóa dân số.

7. Bảo đảm cơ hội phát triển công bằng cho trẻ em và người yếu thế.

8. Nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, dịch bệnh và quá trình phát triển xanh.

9. Đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội.

10. Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về hiện đại hóa hệ thống an sinh xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật

Về mở rộng bảo hiểm xã hội, xây dựng thị trường lao động bao trùm: Hoàn thiện các gói bảo hiểm linh hoạt về mức đóng, thời gian đóng và phương thức tham gia, có hỗ trợ phù hợp đối với người thu nhập thấp. Nghiên cứu, xác định trách nhiệm đóng góp của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số (gọi xe, taxi công nghệ...). Mở rộng bảo hiểm tai nạn lao động và chế độ thai sản cho khu vực phi chính thức. Chính sách trợ giúp người trong độ tuổi lao động phải gắn với đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làm, tín dụng và kết nối doanh nghiệp. Đào tạo phải được đánh giá bằng kết quả việc làm thực tế, không chỉ bằng số người tham dự. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, người sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù và lao động lớn tuổi.

Thực hiện giới thiệu việc làm, hướng nghiệp cho đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế. Ưu tiên hỗ trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ thí điểm mô hình sinh kế đối với hộ gia đình có người cao tuổi, người khuyết tật; ưu tiên được vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm, tăng thu nhập.

Thực hiện khám, chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi không có điều kiện đến cơ sở y tế

Về phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó già hóa dân số, xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế chăm sóc, kết hợp y tế, phục hồi chức năng, công tác xã hội và chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Phát triển mạng lưới chăm sóc ban ngày, chăm sóc tạm thời, trợ giúp người khuyết tật, chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ sức khỏe tâm thần.

Nghiên cứu thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn tại một số địa phương, đánh giá kỹ tác động tài chính trước khi nhân rộng. Đồng thời, chuẩn hóa nghề chăm sóc, đào tạo và có chính sách phù hợp với nhân viên công tác xã hội, điều dưỡng và người chăm sóc tại nhà. Xây dựng mô hình nhà xã hội chăm sóc người cao tuổi độc thân, người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, bảo đảm người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm, nhà dột nát.

Triển khai kịp thời chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám sức khỏe định kỳ, lập sổ theo dõi sức khỏe người cao tuổi ở y tế tuyến xã, ưu tiên nhóm từ 75 tuổi trở lên và từng bước mở rộng đến nhóm từ 65 tuổi trở lên. Thực hiện khám, chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi không có điều kiện đến cơ sở y tế.

Phát triển khoa lão khoa tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và Trung ương; phát triển bệnh viện tuyến cơ sở để phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, phục hồi chức năng và hỗ trợ phát triển toàn diện trẻ em ngay từ những năm đầu đời./.