In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026.

04/07/2026 18:17
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 1.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử Chính phủ ban hành 

Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử. Trong đó, Nghị định quy định chi tiết về quy chế hoạt động livestream bán hàng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; quy định về quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử... Quy chế hoạt động livestream bán hàng

Nghị định quy định trường hợp nền tảng thương mại điện tử có cung cấp tính năng livestream bán hàng thì phải công khai quy chế hoạt động livestream bán hàng bao gồm ít nhất các nội dung sau đây:

1. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia livestream bán hàng;

2. Đối tượng, quy trình, hướng dẫn người livestream bán hàng thực hiện định danh xác thực điện tử;

3. Điều kiện, quy trình, thủ tục về đăng ký mở tài khoản người bán và người livestream bán hàng;

4. Quy định các trường hợp cụ thể bị dừng phát trực tuyến, gỡ bỏ thông tin hiển thị, đường dẫn liên kết;

5. Quy trình, hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện công cụ cho phép người livestream bán hàng hiển thị nội dung cảnh báo khi livestream bán hàng đối với hàng hóa, dịch vụ có nguy cơ gây mất an toàn, ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người mua theo quy định của pháp luật;

6. Quy trình, hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện cơ chế tiếp nhận và giải quyết phản ánh, yêu cầu, khiếu nại của người xem trong và sau quá trình livestream bán hàng.

Trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử

1- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện các trách nhiệm quy định tại Điều 15 của Luật Thương mại điện tử, trong đó một số nội dung được thực hiện cụ thể như sau:

a) Công bố đầy đủ, chính xác, rõ ràng các nội dung hoặc có đường liên kết để xem chi tiết các nội dung quy định tại Chương II của Nghị định này tại vị trí trên màn hình chính của nền tảng thương mại điện tử và có dấu hiệu phân biệt rõ ràng;

b) Báo cáo trực tuyến định kỳ thông qua Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định này hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Có biện pháp kiểm tra, rà soát, gỡ bỏ và xử lý kịp thời đối với thông tin hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Cập nhật từ khóa theo khuyến cáo từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền và lọc thông tin theo từ khóa trước khi thông tin hàng hóa, dịch vụ hiển thị trên nền tảng thương mại điện tử;

đ) Duy trì, sử dụng tài khoản đã thực hiện thủ tục hành chính tại Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử để tiếp nhận và phản hồi thông tin nhằm giải quyết khiếu nại, phản ánh và tranh chấp liên quan đến nền tảng thương mại điện tử;

e) Phối hợp với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ rà soát, tạm thời gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy cập đến thông tin hàng hóa, dịch vụ có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo phương thức tiếp nhận và giải quyết phản ánh, yêu cầu, khiếu nại đã công khai trên nền tảng theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này.

2- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện các trách nhiệm quy định ở 1 và quy định tại Điều 12 của Luật Thương mại điện tử. Trường hợp nền tảng thương mại điện tử có tích hợp hệ thống thông tin tự động giao kết hợp đồng điện tử, chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện các trách nhiệm quy định ở 1 và quy định tại Điều 13 của Luật Thương mại điện tử.

3- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến là nền tảng số lớn và mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến là nền tảng số lớn theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực hiện trách nhiệm quy định tại 2 và trách nhiệm báo cáo trực tuyến theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 22 của Nghị định này.

Quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử

Nghị định quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp chỉ được vận hành nền tảng khi đáp ứng các điều kiện về quản lý, vận hành nền tảng thương mại điện tử và sau khi được Bộ Công Thương xác nhận đăng ký.

Chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp phải thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung đăng ký trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày thay đổi một trong những thông tin sau đây:

a) Thay đổi tên nền tảng (tên miền website, tên ứng dụng);

b) Thay đổi người chịu trách nhiệm quản lý và vận hành nền tảng;

c) Thay đổi thông tin Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp) hoặc Quyết định thành lập (đối với tổ chức);

d) Thay đổi mô hình hoạt động của nền tảng thương mại điện tử;

đ) Thay đổi nội dung công khai về điều kiện hoạt động, điều kiện giao dịch trên nền tảng;

e) Thay đổi các điều khoản của hợp đồng cung cấp dịch vụ;

g) Thay đổi hoặc bổ sung dịch vụ cung cấp trên nền tảng.

Chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp thực hiện thủ tục chấm dứt đăng ký trong các trường hợp sau đây:

a) Theo đề nghị của chủ quản nền tảng thương mại điện tử;

b) Nền tảng thương mại điện tử ngừng hoạt động hoặc chuyển nhượng cho tổ chức khác;

c) Thay đổi mã số thuế của chủ quản nền tảng thương mại điện tử.

Cơ quan quản lý nhà nước chấm dứt đăng ký nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp trong các trường hợp sau đây:

a) Quá 30 ngày từ thời điểm cơ quan quản lý nhà nước gửi yêu cầu thông qua Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử để phục vụ công tác quản lý, giám sát hoạt động thương mại điện tử mà nền tảng thương mại điện tử không phản hồi thông tin;

b) Chủ quản nền tảng có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà phải chấm dứt hoạt động nền tảng thương mại điện tử theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 2.

Quy định về thi hành việc trục xuất, tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh 

 Chính phủ ban hành Nghị định số 249/2026/NĐ-CP quy định về thi hành việc trục xuất, tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh.

Nghị định này quy định trình tự, thủ tục thi hành án phạt trục xuất; tổ chức quản lý và các chế độ (bao gồm chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, liên lạc, thăm gặp, nhận quà, khám bệnh, chữa bệnh, chi phí mai táng) đối với người chấp hành án phạt trục xuất, người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính là trục xuất, người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù, người có quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ đưa vào lưu trú tại cơ sở lưu trú do lực lượng Công an nhân dân quản lý trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh (gọi chung là người lưu trú).

Tổ chức quản lý người lưu trú

Theo quy định, người lưu trú phải ở tập trung tại cơ sở lưu trú và chịu sự quản lý, giám sát của cơ sở lưu trú, được phổ biến Nội quy cơ sở lưu trú và các quy định của pháp luật về quản lý và thực hiện các chế độ đối với người lưu trú. Cơ sở lưu trú tổ chức tiếp nhận, quản lý người có quyết định đưa vào cơ sở lưu trú và bàn giao người lưu trú ra khỏi cơ sở lưu trú theo đúng quy định của pháp luật và của Bộ Công an.

Cơ sở lưu trú thực hiện các quy định về canh gác, dẫn giải, quản lý chặt chẽ người lưu trú trong thời gian lưu trú; xây dựng phương án và tổ chức các biện pháp bảo vệ an toàn cơ sở lưu trú; phối hợp truy tìm người lưu trú bỏ trốn khỏi cơ sở lưu trú; kiểm tra thư, bưu phẩm, tiền mặt, giấy tờ có giá, đồ vật của người lưu trú nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý đồ vật cấm mang vào cơ sở lưu trú; tiếp nhận, trả lời đơn thư, đề nghị cung cấp thông tin liên quan đến cơ sở lưu trú, người lưu trú và quản lý hồ sơ, cơ sở dữ liệu của người lưu trú theo quy định của pháp luật.

Bộ Công an quy định cụ thể Nội quy cơ sở lưu trú và trình tự, thủ tục tiếp nhận, quản lý người có quyết định đưa vào cơ sở lưu trú và bàn giao người lưu trú ra khỏi cơ sở lưu trú.

Chế độ đối với người lưu trú

Nghị định quy định người lưu trú được bố trí ở buồng tập thể theo giới tính (nam, nữ); diện tích chỗ nằm tối thiểu là 03 m2/người (người lưu trú có con ở cùng hoặc phụ nữ có thai thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 04 m2), có bệ gạch men hoặc giường, có phòng vệ sinh, có chiếu, chăn và màn. Người lưu trú là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí ở riêng.

Người lưu trú mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A và một số bệnh truyền nhiễm nhóm B theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm hoặc người mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình phải được bố trí ở riêng trong phòng cách ly.

Chế độ ăn, mặc đối với người lưu trú

Theo quy định, chế độ ăn của người lưu trú được Nhà nước bảo đảm, tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng gồm: 17 kg gạo tẻ; 15 kg rau xanh hoặc củ, quả; 1,5 kg thịt; 1,5 kg cá; 05 quả trứng gà hoặc vịt; 0,5 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,3 lít dầu ăn; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; gia vị khác: tương đương 0,5 kg gạo tẻ; chất đốt: tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than hoặc 25 KWh điện hoặc 03 kg khí đốt (gas), phù hợp điều kiện thực tế của cơ sở lưu trú; lương thực, thực phẩm, chất đốt bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá thị trường tại địa phương. Chế độ ăn trong ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật Việt Nam và 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc, 01 ngày Quốc khánh của nước mà người lưu trú mang quốc tịch, người lưu trú được ăn thêm nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Cơ sở lưu trú có thể quyết định hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để người lưu trú có thể ăn hết tiêu chuẩn.

Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định ở trên, người lưu trú được sử dụng quà, tiền gửi lưu ký của mình để ăn thêm theo quy định của cơ sở lưu trú.

Người lưu trú được bảo đảm ăn, uống vệ sinh, an toàn thực phẩm. Cơ sở lưu trú được tổ chức bếp ăn tập thể, định mức dụng cụ cấp dưỡng của một bếp tập thể gồm: Bếp nấu; các loại nồi nấu cơm, nước, thức ăn; chảo, tủ đựng thức ăn, bình đựng nước uống; rổ, rá, bát, đũa, bàn, ghế và các dụng cụ, đồ dùng cần thiết khác phục vụ cho việc nấu ăn, bảo quản thức ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho người lưu trú theo khẩu phần tiêu chuẩn.

Chế độ ăn của người lưu trú bị ốm, bị bệnh do Trưởng cơ sở lưu trú quyết định theo chỉ định của cán bộ y tế. Người lưu trú là nữ trong thời gian mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì định lượng ăn được tăng thêm 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường so với định lượng quy định ở trên và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ.

Chế độ khám bệnh, chữa bệnh

Người lưu trú bị ốm, bị thương tích được khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại cơ sở y tế của cơ sở lưu trú. Trường hợp người lưu trú bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của y tế cơ sở lưu trú thì chuyển họ đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân để điều trị.

Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho người lưu trú do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định theo bệnh lý và theo mức độ nặng, nhẹ của bệnh; tiền thuốc chữa bệnh thông thường cho người lưu trú được cấp không quá 05 kg gạo tẻ loại trung bình/01 người/01 tháng.

Trường hợp người lưu trú có yêu cầu đến cơ sở y tế khám bệnh, chữa bệnh theo nguyện vọng thì phải được Trưởng cơ sở lưu trú cho phép và tự chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

Cơ sở lưu trú phải thông báo việc người lưu trú điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú để thông báo cho các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định này và thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người lưu trú đang ở Việt Nam (nếu có) để phối hợp chăm sóc, điều trị.

Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho người lưu trú tại các cơ sở y tế do Nhà nước cấp. Nếu việc khám bệnh, chữa bệnh cho người lưu trú phải sử dụng kỹ thuật cao, chi phí lớn, vượt quá định mức thì người lưu trú phải tự thanh toán.

Người lưu trú là nữ trong thời gian mang thai được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết; đến thời gian sinh con thì cơ sở lưu trú có trách nhiệm đưa người lưu trú đến cơ sở y tế Nhà nước gần nhất để sinh con và cấp các đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh tương đương chế độ ăn 01 tháng của trẻ em dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định này. Sau khi người lưu trú sinh con, cơ sở lưu trú có trách nhiệm phối hợp người lưu trú và cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con của người lưu trú theo quy định của pháp luật Việt Nam. Kinh phí chăm sóc y tế cho người lưu trú là nữ trong thời gian mang thai, sinh con tại cơ sở y tế do Nhà nước cấp.

Ngoài những chế độ trên, Nghị định còn quy định nhiều chế độ đối với người lưu trú như: Chế độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của người lưu trú; chế độ thông tin liên lạc của người lưu trú; chế độ thăm gặp, nhận quà; chế độ đối với con của người lưu trú ở cùng cha, mẹ tại cơ sở lưu trú...

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 3.

Quy định chi tiết về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất 

Chính phủ ban hành Nghị định số 250/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 18 của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất.

Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

Nghị định quy định về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất gồm: Thể thức văn bản hợp nhất; trình bày số, ký hiệu và tên văn bản hợp nhất; trình bày lời nói đầu trong văn bản hợp nhất; trình bày căn cứ ban hành trong văn bản hợp nhất; trình bày nội dung được sửa đổi/sửa đổi, bổ sung/đính chính trong văn bản hợp nhất; trình bày nội dung được bổ sung trong văn bản hợp nhất; trình bày nội dung được bãi bỏ theo quy định tại văn bản khác trong văn bản hợp nhất; trình bày nội dung bị tạm ngưng hiệu lực trong văn bản hợp nhất; trình bày nội dung văn bản hợp nhất trong trường hợp quy định tại văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành hết hiệu lực do văn bản được quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành hết hiệu lực theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trình bày quy định về việc thi hành trong văn bản hợp nhất; trình bày ghi chú, chú thích trong văn bản hợp nhất đối với quy định/quy chế/điều lệ/danh mục... ban hành kèm theo (nếu có); đánh số trang của văn bản hợp nhất; trình bày phần ký xác thực trong văn bản hợp nhất...

Kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất được thực hiện theo hướng dẫn và mẫu quy định tại PHỤ LỤC ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 4.

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí 

Chính phủ ban hành Nghị định số 266/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 4, Điều 5, khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 12, Điều 13, Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17 và khoản 2 Điều 24 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15.

Các hành vi gây lãng phí

Nghị định quy định cụ thể hành vi gây lãng phí bao gồm các hành vi được quy định tại Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 và các hành vi dưới đây:

1- Hành vi gây lãng phí trong tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực nhà nước bao gồm:

a) Thành lập, tổ chức lại cơ quan, tổ chức, đơn vị không đảm bảo điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gây lãng phí;

b) Bố trí số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cấp phó của người đứng đầu phòng thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị vượt mức quy định, trừ trường hợp được phép bố trí số lượng cấp phó cao hơn theo quy định của pháp luật;

c) Giao biên chế không phù hợp với quy định pháp luật về căn cứ xác định biên chế công chức, gây lãng phí;

d) Tuyển dụng công chức, tiếp nhận vào làm công chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, gây lãng phí;

đ) Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức không đúng thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, loại hợp đồng và thời hạn ký kết hợp đồng theo quy định, gây lãng phí;

e) Tuyển dụng viên chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, quỹ tiền lương và nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị sự nghiệp công lập, gây lãng phí;

g) Ký hợp đồng làm việc với viên chức không phù hợp với quy định của pháp luật, gây lãng phí;

h) Ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ không phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định, gây lãng phí;

i) Áp dụng chính sách tuyển chọn, thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý không đúng quy định của pháp luật, gây lãng phí;

k) Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức không căn cứ vào năng lực của công chức, nhu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, dẫn đến công chức được điều động, biệt phái không được bố trí, sử dụng hoặc công chức được luân chuyển không đạt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ hoặc theo yêu cầu của chức danh được quy hoạch, gây lãng phí;

l) Đào tạo, bồi dưỡng không căn cứ vào vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, gây lãng phí.

2- Hành vi cố ý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công không đúng quy định dẫn đến kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt.

3- Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng bao gồm:

- Khai thác nước vượt hạn ngạch đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định gây ra hạn hán, thiếu nước;

- Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đảm bảo điều kiện về năng lực dẫn đến đất để thực hiện dự án đầu tư không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án đầu tư, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai.

Nghị định cũng nêu rõ: Tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Luật số 110/2025/QH15 và quy định pháp luật có liên quan.

Hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí

Vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí là các nhóm hành vi quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật số 110/2025/QH15, bao gồm các hành vi cụ thể sau đây:

1- Hành vi vi phạm về thời hạn ban hành, nội dung của Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không ban hành hoặc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

b) Ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.

2- Hành vi vi phạm trong thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã ban hành:

a) Không tổ chức thực hiện, tổ chức thực hiện không đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Tổ chức thực hiện không đúng tiến độ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;

c) Không phân công trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.

3- Hành vi vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không thực hiện báo cáo hoặc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

b) Báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định của pháp luật;

c) Cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.

4- Hành vi vi phạm về cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không cập nhật thông tin hoặc cập nhật không đầy đủ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

c) Cố ý cập nhật thông tin, dữ liệu không chính xác, không trung thực.

5- Hành vi vi phạm về thời hạn, nội dung và hình thức công khai về tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không thực hiện công khai nội dung về tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định;

b) Công khai không đúng thời hạn, hình thức, không đầy đủ nội dung phải công khai theo quy định;

c) Cố ý công khai không chính xác, không trung thực nội dung về tiết kiệm, chống lãng phí.

6- Hành vi vi phạm trong việc lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định đối với các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

7- Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm toán, kiểm tra tiết kiệm, chống lãng phí trong từng lĩnh vực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm toán nhà nước và quy định pháp luật khác có liên quan.

8- Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

a) Không cung cấp hoặc cung cấp hồ sơ, tài liệu không đầy đủ, kịp thời, chính xác theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra;

b) Không bố trí người có trách nhiệm làm việc, không tham gia làm việc hoặc trì hoãn làm việc với cơ quan kiểm tra mà không có lý do chính đáng;

c) Không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra;

d) Không theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện kết luận kiểm tra;

đ) Hành vi cản trở người thi hành công vụ khác theo quy định của pháp luật.

9- Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và quy định pháp luật khác có liên quan.

10- Hành vi vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí (sau đây gọi là người thân) theo quy định của pháp luật về tố cáo, tố tụng hình sự.

11- Hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không ban hành hướng dẫn tổ chức Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Không triển khai hoặc triển khai Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí không đúng với nguyên tắc, nội dung, hình thức quy định tại Điều 8 và Điều 9 Nghị định này.

Trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí

Nghị định quy định Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí đối với các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định này trong phạm vi cả nước.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí đối với các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định này của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý (trừ nội dung quy định tại điểm d và điểm e khoản 2 Điều 17 Luật số 110/2025/QH15).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 5.

Quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp

Chính phủ ban hành Nghị định số 271/2026/NĐ-CP quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Trong đó, Nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa đối với học sinh phổ thông, người học tại các cơ sở giáo dục thực hiện các chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, bao gồm: Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông và Chương trình xóa mù chữ (Chương trình giáo dục).

Nghị định nêu rõ áp dụng hình thức mượn - trả để tái sử dụng sách giáo khoa nhiều lần, ưu tiên tận dụng tối đa số lượng sách giáo khoa hiện có và điều chuyển thông qua cơ chế liên thông thư viện giữa các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn trước khi quyết định mua sắm mới nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước và bảo vệ môi trường, hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công.

Mỗi học sinh được mượn 01 bộ sách giáo khoa đầy đủ các môn học

Sách giáo khoa được miễn phí sử dụng trong Nghị định này thuộc danh mục sách giáo khoa được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định sử dụng thống nhất toàn quốc và sách giáo khoa chuyển đổi hoặc học liệu thay thế phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh khuyết tật.

Vào đầu mỗi năm học hoặc học kỳ, mỗi học sinh được mượn 01 bộ sách giáo khoa đầy đủ các môn học/hoạt động giáo dục (môn học) tương ứng với chương trình học tập tại lớp. Học sinh có nghĩa vụ hoàn trả bộ sách cho thư viện nhà trường quản lý sau khi kết thúc năm học hoặc học kỳ đó.

Đối với học sinh chuyển trường, Nghị định quy định học sinh chuyển trường có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ sách giáo khoa đã mượn cho cơ sở giáo dục nơi chuyển đi trước thời điểm hoàn tất thủ tục chuyển trường.

Cơ sở giáo dục nơi tiếp nhận học sinh chuyển đến có trách nhiệm bố trí, cho học sinh mượn bổ sung sách giáo khoa kể từ ngày tiếp nhận học sinh vào học, bảo đảm không làm gián đoạn việc học tập của học sinh.

Quy định về quản lý, cung cấp, điều chuyển và thu hồi sách giáo khoa

Quy trình quản lý sách giáo khoa tại thư viện phải tuân thủ đúng quy định tiêu chuẩn thư viện cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Trước ngày 15 tháng 6 hằng năm, các cơ sở giáo dục phải hoàn thành việc tiếp nhận, nhập kho và kiểm kê số lượng sách giáo khoa bảo đảm đủ định mức theo nhu cầu sử dụng của năm học mới; cơ sở giáo dục cập nhật dữ liệu vào hệ thống quản lý thư viện, thực hiện dán nhãn, mã hóa và phân loại sách theo quy định để sẵn sàng cho học sinh mượn.

Về điều chuyển sách giáo khoa, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ dữ liệu từ các cơ sở giáo dục để chỉ đạo việc điều chuyển sách giáo khoa giữa các thư viện cùng cấp trên địa bàn nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng; ưu tiên điều chuyển đối với sách giáo khoa còn đủ chất lượng sử dụng, bảo đảm nội dung đầy đủ, không rách nát, hư hỏng ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh.

Việc điều chuyển sách giáo khoa phải bảo đảm nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế; không thực hiện điều chuyển trong trường hợp chi phí vận chuyển, bảo quản, bàn giao và các chi phí liên quan lớn hơn hoặc không hiệu quả hơn so với phương án mua sắm bổ sung.

Học sinh mượn sách tại thư viện nhà trường

Học sinh mượn sách giáo khoa tại thư viện nhà trường vào đầu năm học hoặc đầu học kỳ; chậm nhất 15 ngày trước ngày khai giảng năm học mới hoặc đầu học kỳ; việc bàn giao sách giáo khoa phải được ghi chép vào sổ theo dõi mượn - trả hoặc phần mềm quản lý, có xác nhận về số lượng và tình trạng vật lý của sách, ghi rõ tình trạng sách mới hoặc đã sử dụng tại thời điểm bàn giao.

Về thu hồi và xử lý sau năm học, Nghị định quy định trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc năm học hoặc khi học sinh chuyển trường, thôi học, học sinh có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số lượng sách giáo khoa đã mượn cho cơ sở giáo dục, trừ trường hợp học sinh có nhu cầu tiếp tục sử dụng sách giáo khoa để ôn tập, kiểm tra lại hoặc hoàn thành chương trình học tập theo quy định.

cơ sở giáo dục tổ chức kiểm tra, đánh giá tình trạng sách thu hồi; thực hiện phân loại sách đủ điều kiện tiếp tục sử dụng, sách cần bảo quản, sửa chữa và sách đề nghị thanh lý theo quy định về quản lý tài sản công.

Đối với cơ sở giáo dục tư thục, quản lý, sử dụng sách giáo khoa được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đúng mục đích, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và phục vụ trực tiếp cho hoạt động dạy và học. Khi không còn nhu cầu sử dụng sách giáo khoa, đơn vị phải tổng hợp và bàn giao lại sách giáo khoa cho cơ quan quản lý để đề xuất điều chuyển cho các cơ sở giáo dục khác sử dụng.

Hình thức thực hiện

Nhà nước đầu tư mua sắm sách giáo khoa trang bị cho thư viện các cơ sở giáo dục để tổ chức cho học sinh mượn và trả sách sử dụng trong năm học hoặc học kỳ theo quy định của cơ sở giáo dục.

Cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức cho học sinh mượn và trả sách giáo khoa có thời hạn; sau khi kết thúc thời gian sử dụng, sách giáo khoa được thu hồi, kiểm kê và bảo quản để tiếp tục sử dụng cho các năm học tiếp theo.

Việc quản lý sách giáo khoa được thực hiện thông qua hệ thống số đăng ký hoặc phần mềm quản lý thư viện; cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm kiểm kê định kỳ hằng năm để xác định số lượng sách còn sử dụng được và nhu cầu bổ sung.

Nhà nước khuyến khích việc phát triển sách giáo khoa điện tử và các hình thức cung cấp tài liệu học tập số nhằm hỗ trợ người học tiếp cận tài liệu học tập thuận lợi, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.

Lộ trình thực hiện

Chính sách miễn phí sách giáo khoa cho học sinh theo lộ trình như sau:

Từ năm học 2029 - 2030: Miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc.

Đối với các địa phương có khả năng cân đối ngân sách (hoặc xã hội hóa) được khuyến khích thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa sớm hơn quy định trên; ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai trước đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng ngân sách của địa phương.

Thời điểm cung cấp miễn phí sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 6.

Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1202/QĐ-TTg ngày 3/7/2026 phê duyệt Đề án đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong phạm vi cả nước đến năm 2030 và những năm tiếp theo (Đề án).

Mục tiêu chung của Đề án là xây dựng và phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống, đồng bộ, hiện đại; đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vận hành hạ tầng chất lượng quốc gia, hội nhập quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hình thành mạng lưới cơ sở đào tạo đồng bộ, hiện đại

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, hình thành mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đồng bộ, hiện đại; một số cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trọng điểm được đầu tư, nâng cấp, hiện đại hóa về chương trình, học liệu, đội ngũ giảng viên, chuyên gia, cơ sở vật chất, trang thiết bị và nền tảng số.

Hình thành bộ khung năng lực, khung tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng và hệ thống chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cốt lõi trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Phấn đấu 100% công chức, viên chức, người lao động làm công tác quản lý nhà nước, xây dựng chính sách, thanh tra, kiểm tra, thực thi pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn đáp ứng khung năng lực và vị trí công việc gắn với quản trị rủi ro, quản lý dựa trên dữ liệu và công nghệ số; tập trung nâng cao năng lực nghiệp vụ cho khoảng 20.000 lượt công chức, viên chức và người lao động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đến năm 2030.

Hình thành, phát triển đội ngũ 1.500 chuyên gia về lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng có năng lực chuyên sâu về các thành phần của hạ tầng chất lượng quốc gia...

Từ năm 2030 và những năm tiếp theo, xây dựng và phát triển năng lực đội ngũ nhân lực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng có trình độ tương đương với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới về vận hành hạ tầng chất lượng quốc gia; hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo số thông minh, ứng dụng toàn diện trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ mới, công nghệ số phù hợp với yêu cầu thực tiễn; hướng tới công nhận rộng rãi năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân lực Việt Nam trong các hoạt động tiêu chuẩn hóa, đo lường và đánh giá sự phù hợp ở cấp khu vực và quốc tế.

Đối tượng của Đề án

Đối tượng của Đề án bao gồm:

- Công chức làm công tác quản lý nhà nước, xây dựng chính sách, thanh tra, kiểm tra, thực thi pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tại các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, trong đó ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã thực hiện nhiệm vụ tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

- Viên chức, người lao động thực hiện công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tại các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp.

- Chuyên gia, nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hoặc tham gia trực tiếp vào các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn, các diễn đàn kỹ thuật quốc tế và khu vực.

- Giảng viên và người học tại các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

- Lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân sự kỹ thuật làm công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

- Cá nhân và tổ chức có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện của Đề án

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện: Hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; xây dựng và chuẩn hóa khung năng lực và hệ thống chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cho lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên nòng cốt; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh hoạt động đào tạo tại các trường đại học, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; đổi mới phương thức đào tạo theo hướng hiện đại, linh hoạt trên nền tảng số; tăng cường huy động, đa dạng hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả phối hợp triển khai Đề án.

Về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước, Đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức và người lao động bảo đảm đủ năng lực tham mưu xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, thanh tra, kiểm tra, thực thi pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; tập trung đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực hoạt động chuyên môn gắn với ứng dụng công nghệ số và vận hành hạ tầng chất lượng quốc gia, bao gồm: năng lực thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu; và phương pháp quản lý dựa trên rủi ro trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Về đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên nòng cốt, Đề án triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, giảng viên có trình độ chuyên sâu, đủ năng lực dẫn dắt chuyên môn và hỗ trợ triển khai hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tại bộ, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo, tổ chức kỹ thuật và doanh nghiệp...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/7/2026- Ảnh 7.

Quy chế tổ chức, hoạt động của BCĐ quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả 

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc - Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả ký Quyết định số 66/QĐ-BCĐ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia này.

Quy chế này quy định tổ chức, nguyên tắc, trách nhiệm, chế độ làm việc, thông tin báo cáo, mối quan hệ phối hợp công tác và một số hoạt động khác của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo quốc gia).

Thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia

Theo Quy chế, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc làm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia gồm: Ông Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính (Phó Trưởng ban Thường trực); ông Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; ông Nguyễn Ngọc Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

Ủy viên Ban Chỉ đạo quốc gia gồm có: Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; bà Hà Thị Nga, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Nguyễn Đức Chi, Thứ trưởng Bộ Tài chính; ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương; bà Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp; ông Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Xuân Sang, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; ông Bùi Hoàng Phương, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; bà Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Hồ Đức Anh, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; ông Lê Tiến Đạt, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ; ông Phạm Quang Dũng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; ông Đỗ Thanh Hải, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; ông Ngô Minh Hiển, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; bà Nguyễn Thị Sự, Phó Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam; ông Nguyễn Sỹ Quang, Trung tướng, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Bộ Công an; ông Nguyễn Quang Phương, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an; ông Vũ Trung Kiên, Trung tướng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng; ông Lương Đình Hưng, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Quốc phòng; ông Lê Thanh Hải, Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; ông Nguyễn Văn Thọ, Cục trưởng Cục Hải quan, Bộ Tài chính; ông Mai Xuân Thành, Cục trưởng Cục Thuế, Bộ Tài chính; ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương; ông Đỗ Đức Toàn, Vụ trưởng Vụ I, Văn phòng Chính phủ.

Nguyên tắc hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia

Ban Chỉ đạo quốc gia hoạt động thường xuyên thông qua hoạt động của các thành viên và của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia (gọi tắt là Văn phòng Thường trực) trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành, phân công nhiệm vụ rõ ràng, đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, các ủy viên và hiệu quả công tác phối hợp liên ngành.

Các ủy viên Ban Chỉ đạo quốc gia chịu trách nhiệm trước Trưởng ban về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thuộc lĩnh vực của bộ, ngành mình và các nhiệm vụ được Trưởng ban phân công.

Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ; các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia sử dụng con dấu của bộ, ngành mình; Văn phòng Thường trực sử dụng con dấu riêng.

Ban Chỉ đạo các bộ, ngành thành viên sử dụng con dấu của bộ, ngành mình; Trưởng Ban Chỉ đạo là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố) hoặc Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố) sử dụng con dấu của Ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố); các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh (thành phố) sử dụng con dấu của sở, ngành mình.

Văn phòng Thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia Văn phòng Thường trực là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Trưởng ban, các Phó Trưởng ban điều hành, chỉ đạo hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014; Quyết định số 927/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2026. Văn phòng Thường trực có Quy chế tổ chức và hoạt