• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/6/2026.

28/06/2026 19:13
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/6/2026- Ảnh 1.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong, Người phát ngôn của Chính phủ, cung cấp thông tin về tình hình KTXH tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4.

Quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan nhà nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.

5 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

Nghị định số 244/2026/NĐ-CP quy định 5 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí gồm:

1. Tổ chức họp báo (trực tiếp hoặc trực tuyến).

2. Đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan hành chính nhà nước. Trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội chính thức của cơ quan hành chính nhà nước phải được công bố trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước.

3. Phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn báo chí.

4. Gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời bằng văn bản hoặc qua thư điện tử.

5. Cung cấp thông tin qua trao đổi trực tiếp hoặc tại các cuộc giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở trung ương; Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh ủy, cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh, thành phố tổ chức ở địa phương khi được yêu cầu.

Cung cấp thông tin định kỳ

Về cung cấp thông tin định kỳ, Nghị định số 244/2026/NĐ-CP nêu rõ:

1. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí theo định kỳ 1 tháng một lần về hoạt động và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bằng hình thức họp báo, gửi thông cáo báo chí, trả lời phỏng vấn báo chí và đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ có trách nhiệm cập nhật thông tin các quy định hiện hành để cung cấp kịp thời, chính xác thông tin chính thống cho các cơ quan báo chí trong cả nước.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý, như sau:

a) Hàng tháng cung cấp thông tin cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Trang thông tin điện tử hoặc Cổng thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước; trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan hành chính nhà nước;

b) Tổ chức họp báo ít nhất 3 tháng một lần để cung cấp thông tin cho báo chí;

c) Tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí bằng văn bản hoặc các hình thức quy định nêu trên;

d) Thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí hàng tuần do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức trong trường hợp cần thiết;

đ) Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để đăng, phát trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ theo quy định.

3. Cơ quan hành chính nhà nước quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị định này tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý, như sau:

a) Cung cấp thông tin cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước; trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan hành chính nhà nước;

b) Cử người phát ngôn cung cấp thông tin tại họp báo của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi có yêu cầu;

c) Tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí bằng văn bản hoặc các hình thức quy định tại Điều 5 Nghị định này;

d) Các sở và thanh tra thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức cấp tỉnh thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương, khu vực, chi cục và Ủy ban nhân dân cấp xã có thể thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh ủy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao và Hội Nhà báo tỉnh, thành phố tổ chức;

đ) Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cục theo quy định hiện hành và Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (nếu cần thiết).

Phát ngôn trong trường hợp đột xuất, bất thường

Điều 7 của Nghị định số 244/2026/NĐ-CP cũng quy định phát ngôn trong trường hợp đột xuất, bất thường như sau:

1. Trường hợp xảy ra sự cố mang tính quốc gia liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng, trừ trường hợp ban bố tình trạng khẩn cấp, thiết quân luật, giới nghiêm và các trường hợp khác theo quy định của Luật chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ hoặc người phát ngôn của Chính phủ thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ngay sau khi sự cố xảy ra và thường xuyên trong quá trình xử lý sự cố.

2. Đối với sự cố liên quan đến từ 02 bộ, ngành, tỉnh, thành phố trở lên, người phát ngôn của bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được Chính phủ giao chủ trì xử lý thống nhất nội dung với các cơ quan liên quan để thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thường xuyên trong quá trình xử lý sự cố.

3. Khi xảy ra các sự kiện, vấn đề quan trọng có tác động lớn trong xã hội thuộc phạm vi quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm cơ quan hành chính nhà nước tiếp nhận và xử lý vụ việc theo thẩm quyền, người phát ngôn phải thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin ban đầu cho báo chí để kịp thời cảnh báo, định hướng dư luận và hạn chế xảy ra khủng hoảng truyền thông, lan truyền thông tin sai lệch, không chính xác.

4. Khi dư luận xuất hiện nhiều ý kiến không thống nhất về một vấn đề thuộc phạm vi quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm cơ quan hành chính nhà nước xác định vụ việc có tác động hoặc nguy cơ tác động đến dư luận xã hội, người phát ngôn phải thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin ban đầu cho báo chí để kịp thời cảnh báo, định hướng dư luận và hạn chế xảy ra khủng hoảng truyền thông, lan truyền thông tin sai lệch, không chính xác.

5. Khi cơ quan báo chí hoặc cơ quan chỉ đạo báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có yêu cầu phát ngôn hoặc cung cấp thông tin về các sự kiện, vấn đề của cơ quan, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đã được nêu trên báo chí hoặc về các sự kiện, vấn đề nêu tại khoản 3, khoản 4 Điều này.

6. Khi có căn cứ cho rằng báo chí đăng, phát thông tin sai sự thật về lĩnh vực, địa bàn do cơ quan mình quản lý, người phát ngôn thực hiện phản hồi bằng văn bản nêu rõ căn cứ, yêu cầu cải chính, xin lỗi theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên

Cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên có trách nhiệm đăng, phát, phản ánh trung thực, khách quan, đầy đủ nội dung thông tin do người phát ngôn cung cấp, khi chuyển sang ngôn ngữ khác phải đúng thuật ngữ chuyên môn quốc tế và không làm thay đổi bản chất của thông tin gốc; đồng thời phải ghi rõ họ tên người phát ngôn và tên cơ quan hành chính nhà nước.

Cơ quan báo chí đăng, phát đúng nội dung thông tin mà người phát ngôn cung cấp thì không phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đó.

Cơ quan báo chí phải đăng, phát ý kiến phản hồi của người phát ngôn và thực hiện cải chính, xin lỗi theo quy định pháp luật đối với các nội dung đăng tải không chính xác, sai sự thật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Cơ quan hành chính nhà nước chưa ban hành quy chế nội bộ về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, có trách nhiệm xây dựng, ban hành quy chế nội bộ về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan.

Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Báo chí về quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình và dịch vụ phát thanh, truyền hình 

Chính phủ ban hành Nghị định 242/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Báo chí về quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình và dịch vụ phát thanh, truyền hình. Một trong các nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 5).

Nghị định quy định cụ thể điều kiện cấp Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền:

a) Là cơ quan báo chí có Giấy phép hoạt động phát thanh hoặc Giấy phép hoạt động truyền hình phù hợp với loại hình kênh chương trình thực hiện biên tập;

b) Có văn bản chấp thuận và đề nghị cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền của cơ quan chủ quản đối với cơ quan báo và phát thanh, truyền hình tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan báo chí của các bộ, ngành.

Có văn bản đề nghị cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền do người đứng đầu, người được giao thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu hoặc người được ủy quyền hợp pháp theo quy định của pháp luật ký xác nhận đối với cơ quan báo chí trung ương khác;

c) Có nhân sự đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn báo chí, có thẻ nhà báo, có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 4 quy định tại mục 1.5, mục 1.6, phần II Phụ lục khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam kèm theo Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam và phù hợp với ngôn ngữ kênh chương trình nước ngoài đề nghị cấp giấy phép biên tập;

d) Có năng lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công tác biên tập, gồm hệ thống thiết bị làm chậm, thiết bị lưu trữ, phương tiện kỹ thuật thu, phát tín hiệu phù hợp và bảo đảm công tác biên tập được thực hiện tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;

đ) Có năng lực tài chính cần thiết thể hiện bởi dự toán chi phí biên tập hoặc biên tập, biên dịch trong 01 năm và văn bản chứng minh nguồn tài chính hợp pháp bảo đảm thực hiện công tác biên tập, biên dịch theo dự toán;

e) Có bản quyền hoặc văn bản cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Biên dịch kênh chương trình nước ngoài phải bảo đảm tôn trọng, bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt

Nghị định cũng yêu cầu việc biên tập, quản lý nội dung bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về báo chí, điện ảnh, quảng cáo và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Việc biên tập, thực hiện cảnh báo nội dung bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về trẻ em, điện ảnh và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Việc biên dịch kênh chương trình nước ngoài phải bảo đảm tôn trọng, bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt.

Việc cấp Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền được thực hiện với từng kênh chương trình và phù hợp với chiến lược, kế hoạch và chính sách của nhà nước về phát triển và quản lý báo chí toàn quốc.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép sửa đổi, bổ sung Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền, trừ trường hợp thay đổi nội dung quy định dưới đây.

Trường hợp thay đổi số giấy phép hoạt động phát thanh, số giấy phép hoạt động truyền hình của cơ quan báo chí ghi trong Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền, cơ quan báo chí có văn bản thông báo nội dung thay đổi cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí.

Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; hồ sơ, thủ tục đề nghị sửa đổi, bổ sung, đề nghị chấp thuận nội dung thay đổi và thông báo nội dung thay đổi ghi trong Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định.

Nghị định 242/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nghị định nêu rõ, các Giấy phép sản xuất kênh chương trình phát thanh trong nước, Giấy phép sản xuất kênh chương trình truyền hình trong nước, Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền của các cơ quan báo chí hoạt động phát thanh, truyền hình chưa thực hiện hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép theo thông tin mới của cơ quan báo chí sau khi chuyển cơ quan chủ quản đối với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, sau sáp nhập, thay đổi cơ quan chủ quản đối với cơ quan báo và phát thanh, truyền hình tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục có hiệu lực đến ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ trường hợp bị thu hồi giấy phép theo quy định.

Cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô 

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. 

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là xụng đột tại Trung Đông đã tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta trong nửa đầu năm 2026, nền kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu, chỉ số về tăng trưởng đạt kết quả cao nhất trong nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao; tăng trưởng tiếp tục được thúc đẩy gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là các bộ, cơ quan, địa phương) căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện quyết liệt, kịp thời, hiệu quả Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, các Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội, Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ, các Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng, chỉ đạo của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ; đổi mới tư duy, cách làm, nỗ lực, quyết tâm cao nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng tại Phụ lục I, Phụ lục II Nghị quyết này, kế hoạch tăng trưởng của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước. Trong đó cần tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong thời gian tới.

Trình Chính phủ điều chỉnh linh hoạt một số quy định về thuế xăng dầu, nhiên liệu bay phù hợp với diễn biến giá thế giới

Về điều hành chính sách tài khoá, Bộ Tài chính tiếp tục điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó khẩn trương tham mưu, trong tháng 06 năm 2026 trình Chính phủ điều chỉnh linh hoạt một số quy định về thuế xăng dầu, nhiên liệu bay phù hợp với diễn biến giá thế giới. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phân bổ nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 trong tháng 7 năm 2026; phân bổ số vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 trước ngày 15 tháng 7 năm 2026. Bảo đảm nguồn thực hiện tăng lương cơ sở từ 01 năm 7 năm 2026.

Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai hiệu quả giải pháp phát triển thị trường chứng khoán, bảo hiểm, thu hút FDI, phát triển doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình sửa đổi Luật Chứng khoán tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2026 và các quy định có liên quan để nâng cao năng lực thị trường. Thiết kế sản phẩm tài chính mới, thu hút dòng vốn của các nhà đầu tư quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung nguồn lực đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch được giao, giải ngân vốn ngân sách trung ương các bộ, cơ quan, địa phương được giao bổ sung dự toán ngân sách trung ương năm 2026 và nguồn tăng thu ngân sách địa phương năm 2025; xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, từng tháng, từng quý, làm cơ sở cảnh báo sớm và chỉ đạo, điều hành kịp thời; tiếp tục thực hiện nghiêm việc gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân.

Thực hiện các chính sách chi theo dự toán đã được phê duyệt và triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 để sớm thực hiện, giải ngân dự án.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, các khoản dự toán chi thường xuyên đã giao cho các bộ, cơ quan trung ương trong dự toán đầu năm nhưng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2026 chưa phân bổ, giao dự toán (trừ kinh phí quốc phòng, an ninh, sự nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng pháp luật) cho các đơn vị sử dụng ngân sách.

Ổn định lãi suất, thị trường tiền tệ, ngoại tệ, kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro

Về điều hành chính sách tiền tệ, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả: Triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Theo dõi sát, đánh giá tình hình, cập nhật, phân tích cán cân thanh toán quốc tế hằng tháng, tình hình xuất nhập khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế và các yếu tố tác động đến tỷ giá, thị trường ngoại hối; phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, các bộ, cơ quan liên quan để theo dõi tình hình dòng ngoại tệ vào, ra nền kinh tế, nhất là của các doanh nghiệp có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn nhằm có giải pháp phù hợp; tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát thị trường ngoại hối, ổn định thị trường ngoại hối.

Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, triển khai các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; có cơ chế, giải pháp để đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho các dự án lớn, trọng điểm, dự án được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư; đẩy mạnh xử lý nợ xấu và tiếp tục triển khai cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém, được kiểm soát đặc biệt.

Nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế và các dự án trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu điều chỉnh hạn mức tín dụng phù hợp và xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng hạn mức tăng trưởng để nâng lãi suất cho vay.

Tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại

Về phối hợp chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2026 tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại để bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 148/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ liên quan đến phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ. Phối hợp chặt chẽ về điều hành tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng thương mại để hỗ trợ nguồn vốn ngắn hạn cho nền kinh tế. Ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được ưu tiên sử dụng cho ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh tạm ứng, vay; trường hợp chưa sử dụng, thì ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được sử dụng để mua bán lại trái phiếu chính phủ và gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại; giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức cụ thể sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại (có thể vượt quá 50% khả năng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi) nhằm tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.

Đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án chậm triển khai thuộc các thành phần kinh tế, các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia

Về sản xuất, xuất nhập khẩu, các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục triển khai các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là về kiểm dịch, môi trường, xuất nhập khẩu..., giảm tối đa chi phí logistics của nền kinh tế; thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng để chủ động giải quyết các nội dung khuyến nghị của các doanh nghiệp về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong phạm vi lĩnh vực phụ trách theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và đóng góp vào tăng trưởng 2 con số.

Đối với sản xuất công nghiệp - xây dựng, Bộ Công Thương, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, các địa phương cần tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác các dự án trọng điểm ngành khai khoáng, khai thác đất hiếm gắn với chế biến sâu, bảo đảm hài hòa với bảo vệ môi trường; tăng khai thác dầu khí đáp ứng yêu cầu tăng trưởng ngành khai khoáng và nhiên liệu phục vụ phát điện.

Phát triển một số phân ngành cơ khí trọng điểm, hình thành năng lực sản xuất - chế tạo đối với đường sắt đô thị, tập trung vào các nhóm sản phẩm về đầu máy, toa xe, hệ thống cung cấp điện sức kéo, thiết bị, vật tư và hệ thống thông tin, tín hiệu...

Nghiên cứu phát triển các ngành cơ khí phục vụ kinh tế biển, nhất là đóng tàu, chế tạo thiết bị điện gió ngoài khơi, kết cấu - thiết bị dầu khí...

Bộ Công Thương phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng rà soát, xác định các ngành, lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, linh kiện có khả năng nội địa hóa theo lộ trình và có giải pháp, chính sách cụ thể theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn với kết quả đầu ra cụ thể để thực hiện nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước khắc phục tình trạng nhập siêu.

Bộ Xây dựng khẩn trương rà soát, có ý kiến về các nội dung thuộc chức năng quản lý nhà nước của bộ đối với các tuyến đường cao tốc khu vực miền núi phía Bắc dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2026 - 2030, bảo đảm hiệu quả đầu tư theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, gửi Bộ Tài chính trong tháng 7 năm 2026.

Phối hợp, đôn đốc các chủ đầu tư, địa phương đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm; tập trung vào khối lượng hoàn thành, giá trị xây lắp và tháo gỡ các điểm nghẽn ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

Chủ động đôn đốc, phối hợp với địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, dự báo biến động giá cả để kịp thời xử lý theo thẩm quyền; phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương thiết lập cơ chế điều phối liên vùng trong quản lý nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Rà soát, tháo gỡ các vướng mắc thuộc thẩm quyền đối với các dự án nhà ở xã hội; phối hợp với địa phương thúc đẩy các dự án đã đủ điều kiện pháp lý, có khả năng khởi công, thi công hoặc hoàn thành ngay trong năm 2026.

Bảo đảm năng lực vận tải để phục vụ tăng trưởng trong 06 tháng cuối năm; kịp thời xử lý hoặc kiến nghị xử lý các điểm nghẽn về tổ chức giao thông, khai thác kết cấu hạ tầng, kết nối cảng biển, cảng hàng không, ga đường sắt, bến thủy nội địa, cửa ngõ đô thị và các hành lang vận tải hàng hóa lớn.

Các bộ, cơ quan, địa phương: Khẩn trương rà soát, tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án chậm triển khai thuộc các thành phần kinh tế, các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia (như các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; bảo đảm tiến độ xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, mở rộng Cảng hàng không Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau...), các Chương trình mục tiêu quốc gia; tập trung tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về giá; rà soát, đánh giá kỹ chi phí cấu thành giá nguyên vật liệu xây dựng (đất, cát, đá...), xác định chính xác nguyên nhân biến động giá, nguồn cung trong thời gian qua để có giải pháp giải quyết dứt điểm, phối hợp với lực lượng chức năng xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, cục bộ, lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng giá bất hợp lý. Khẩn trương tháo gỡ khó khăn liên quan đến cấp phép mỏ đá, cát, đất, đưa vào khai thác các mỏ vật liệu mới. Căn cứ nhu cầu nguyên vật liệu cho đầu tư công, cần thiết có giải pháp thu hồi các giấy phép đã cấp không thực hiện đúng quy định để phục vụ cho việc triển khai các dự án, công trình quan trọng.

Phát triển bền vững, an toàn, lành mạnh thị trường bất động sản. Các địa phương Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình... chủ động rà soát, điều chỉnh, đề xuất để xác định cụ thể vị trí, quy mô phát triển nhà ở cho thuê gắn với các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn với trọng tâm xác định nhu cầu nhà ở cho thuê theo phân khúc làm cơ sở quy hoạch và phân bổ nguồn lực.

Tiếp tục cơ cấu lại các sản phẩm du lịch

Về dịch vụ, thúc đẩy tiêu dùng và phát triển du lịch, Bộ Công Thương, các địa phương: Tổ chức triển khai đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; hoàn thành trong tháng 7 năm 2026 việc xây dựng chương trình “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” gắn với yêu cầu nâng cấp các ngành sản xuất.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại, nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, gắn với xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ; xây dựng và triển khai các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ một số ngành hàng công nghiệp nhẹ (dệt may, da giày...) tại thị trường trong nước gắn với phát triển thương hiệu Việt.

Tổ chức thường xuyên các hội chợ công nghiệp, thương mại và hàng tiêu dùng quốc gia nhằm thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, nâng cao giá trị thương hiệu quốc gia.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ găm hàng, buôn lậu, hàng không rõ nguồn gốc, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, quy định vệ sinh an toàn thực phẩm...

Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong tháng 07 năm 2026 sửa đổi Thông tư số 60/2025/TT-BCT về thực hiện bán giá điện đối với các cơ sở lưu trú du lịch, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu điều hành điện quốc gia và hỗ trợ phát triển du lịch.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các địa phương tập trung xúc tiến quảng bá du lịch theo thị trường mục tiêu, cơ cấu lại thị trường khách quốc tế, khai thác hiệu quả các thị trường gần, có khả năng phục hồi nhanh và quy mô lớn như khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Ấn Độ và châu Á - Thái Bình Dương.

Triển khai các chương trình xúc tiến du lịch trực tiếp và trực tuyến tại các thị trường trọng điểm và tiềm năng. Tiếp tục cơ cấu lại các sản phẩm du lịch, kết hợp đa dạng các loại hình du lịch gắn với thương mại, dịch vụ và tiêu dùng tại các điểm đến, tăng mức chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú.

Triển khai Chương trình kích cầu du lịch nội địa trên phạm vi toàn quốc, tăng cường liên kết giữa hàng không, đường sắt, vận tải, lưu trú, lữ hành và các khu, điểm du lịch để xây dựng các gói sản phẩm hấp dẫn, giá cạnh tranh, khai thác mùa du lịch hè và cuối năm; phát triển sản phẩm du lịch ngắn ngày, du lịch học đường, du lịch gia đình...

Hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương tháo gỡ vướng mắc trong xuất khẩu nông, lâm, thủy sản

Về sản xuất nông, lâm, thủy sản Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương: Xây dựng, cập nhật kịch bản hạn hán, ứng phó với El Nino theo từng vùng, từng lưu vực sông, ban hành kế hoạch phòng, chống hạn hán định kỳ, gắn với kế hoạch sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt, bảo đảm đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt.

Tiếp tục triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng hàng nông sản, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của thị trường nhập khẩu; yêu cầu về tháo gỡ thẻ vàng IUU.

Đẩy nhanh việc cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương tháo gỡ vướng mắc trong xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nhất là đối với sầu riêng và một số ngành hàng chủ lực.

Về xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương tiếp tục triển khai các chỉ đạo của cấp có thẩm quyền về việc Hoa Kỳ điều tra theo mục 301 và việc đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng công bằng và cân bằng với Hoa Kỳ; chủ động chuẩn bị kỹ lưỡng thông tin, số liệu, phối hợp với các đối tác để làm rõ về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và địa bàn trọng điểm; hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các ưu đãi về thuế quan, quy tắc xuất xứ và mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết, nhất là các FTA thế hệ mới; xây dựng chiến lược xuất khẩu chủ động vào thị trường Trung Quốc, Ấn Độ.

Phối hợp với hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng, doanh nghiệp xây dựng cơ chế, công cụ cung cấp thống nhất, đầy đủ, cập nhật về thông tin thị trường xuất nhập khẩu, cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại cho người dân, doanh nghiệp.

Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan theo dõi sát diễn biến thương mại quốc tế, tình hình xuất nhập khẩu để có giải pháp kịp thời thúc đẩy xuất khẩu và xử lý hiện tượng nhập siêu, bảo đảm cán cân thương mại bền vũng, không làm ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Tính toán kỹ lưỡng mức độ, phạm vi, thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý

Về điều hành lạm phát và bảo đảm an ninh năng lượng, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan, địa phương phối hợp làm tốt công tác quản lý giá cả, thị trường, điều tiết cung - cầu; nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng mức độ, phạm vi, thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý để kiểm soát lạm phát; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, trục lợi, tăng giá bất thường, bảo đảm kiểm soát theo kịch bản.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Bộ Công Thương bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước, điều hành giá xăng dầu và thực hiện hiệu quả việc chi tạm ứng từ ngân sách nhà nước cho Quỹ bình ổn xăng dầu. Phối hợp với các địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp triển khai hiệu quả Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; kịp thời nắm bắt tiến độ các dự án nguồn điện, lưới điện lớn để tập trung tháo gỡ, đưa vào vận hành theo đúng tiến độ; tập trung triển khai các giải pháp tiết kiệm điện, phấn đấu đạt tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026.

Thường xuyên rà soát, dự báo, cập nhật các kịch bản và kế hoạch vận hành hệ thống điện quốc gia, ứng phó với các tình huống cực đoan, bất lợi, thậm chí có thể xảy ra đồng thời (nắng nóng kéo dài, các tổ máy phát điện lớn, hệ thống truyền tải điện gặp sự cố...), chủ động phương án nhập khẩu điện, không để thiếu điện cho sản xuất trong mọi tình huống.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện nhằm bảo đảm công suất khả dụng các tổ máy thủy điện lớn, đồng thời đáp ứng dung tích phòng lũ, bảo đảm cung cấp nước hạ du, ứng phó nhanh khi xuất hiện các hình thái thời tiết (bão, lũ, khô hạn).

Về đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia theo Thông báo số 246/TB-VPCP ngày 12 tháng 5 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ.

Các bộ, cơ quan chủ quản hoàn thành kết nối, đồng bộ các cơ sở dữ liệu về Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ; ưu tiên làm sạch, chuẩn hóa, đối soát và đồng bộ dữ liệu về đất đai, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, xây dựng, nông nghiệp, kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý vi phạm hành chính; đối với 12 cơ sở dữ liệu trọng yếu, từng bộ chủ quản có kế hoạch hoàn thành đủ 19/19 tiêu chí, hoàn thành trong quý III năm 2026.

Các bộ, cơ quan, địa phương đẩy mạnh phát triển các ngành công nghệ chiến lược, trong đó lựa chọn, tập trung thực hiện các bài toán, sản phẩm trọng điểm.

Xây dựng, vận hành khung năng lực cán bộ xã, phường; bộ KPI đánh giá cán bộ

Về các giải pháp khác, các bộ, địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp để thu hút tối đa các nguồn lực xã hội cho tăng trưởng:

Tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, tính chủ động, tự chủ của địa phương. Tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; rà soát, đánh giá tính khả thi trong thực hiện nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, phân bổ biên chế theo khối lượng công việc, rõ trách nhiệm cá nhân. Hoàn thiện hạ tầng số, xây dựng dữ liệu và quản lý, điều hành, liên thông; xây dựng, vận hành khung năng lực cán bộ xã, phường; hoàn thành Bộ tiêu chí đánh giá xếp loại chất lượng cán bộ (KPI).

Tập trung tổng rà soát hệ thống pháp luật; trình Quốc hội 17 dự án Luật, pháp lệnh vào Kỳ họp tháng 8 năm 2026 và khoảng 30 dự án Luật, pháp lệnh vào Kỳ họp tháng 10 năm 2026; đẩy nhanh việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết, không để phát sinh “khoảng trống” pháp lý.

Hoàn thiện hạ tầng số, xây dựng dữ liệu và quản lý, điều hành, liên thông; xây dựng, vận hành khung năng lực cán bộ xã, phường; Bộ KPI đánh giá cán bộ, thực hiện trả lương, thu nhập theo kết quả đánh giá cán bộ.

Hoàn thành công tác quy hoạch, tạo lập không gian, các vùng động lực phát triển mới từ các dự án hạ tầng chiến lược, trọng điểm.

Bộ Nội vụ, các địa phương theo dõi, nắm bắt tình hình lao động, việc làm, dự báo nhu cầu lao động theo vùng, ngành; có phương án điều tiết phù hợp, cơ chế điều phối, kết nối, đào tạo nhanh và thu hút lao động để bảo đảm nhân lực, nhất là cho các dự án đầu tư công và các công trình trọng điểm, tránh tình trạng thiếu hụt nhân lực làm chậm tiến độ giải ngân và thi công các dự án và không để xảy ra mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ.

Bộ Nội vụ nghiên cứu điều chỉnh phù hợp các quy định về cấp giấy phép lao động (cho người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và người Việt Nam ra nước ngoài) để đáp ứng nhu cầu lao động trong nước, phục vụ tăng trưởng 2 con số.

Bộ Tài chính phối hợp với Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo dõi việc thực hiện cam kết mở rộng đầu tư của doanh nghiệp khi khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp đã được cấp có thẩm quyền giải quyết.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương rà soát, hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 theo quy định tại Điều 56 Luật Quy hoạch, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo điều hành giá

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định 1156/QĐ-TTg ngày 26/6/2026 kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo điều hành giá. Theo đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng làm Trưởng ban Ban Chỉ đạo điều hành giá.

Ông Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính làm Phó Trưởng ban.

Các thành viên Ban Chỉ đạo gồm: Ông Lê Tấn Cận, Thứ trưởng Bộ Tài chính; ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Lê Đức Luận, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Nguyễn Mạnh Khương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Nguyễn Xuân Sang, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; ông Phạm Đức Long, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; bà Mai Thị Thu Vân, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ./.